Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo công giáo

5 (100%) 2 votes

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo với số lượng tín đồ đông. Tuy nhiên tôn giáo ở nước ta hiện nay cũng đang có nhiều diễn biến phức tạp. Bài viết xin chia sẻ vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo công giáo.

Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo công giáo
Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo công giáo

1. Khái niệm Quản lý nhà nước và hoạt động tôn giáo

1.1. Quản lý nhà nước và vai trò quản lý nhà nước

Hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của nhà quản lý và quy luật khách quan.Quản lý xã hội là một chức năng xã hội đặc biệt xuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa. Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những cá nhân hay tổ chức của con người phải là những chủ thể đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý. Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. Trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm tập quán, quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật.

Khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm- quản lý nhà nước xuất hiện.

Quản lý nhà nước hiện nay được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng: là dạng quản lý xã hội của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội.

Nghĩa hẹp: là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp).

Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Bằng pháp luật, Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.

Hoạt động tôn giáo

Hoạt động tôn giáo hiện nay có những cách hiểu khác nhau song nhiều ý kiến đều thống nhất cho rằng: Hoạt động tôn giáo bao gồm thực hành lễ nghi tôn giáo, truyền bá giáo lý tôn giáo, quản lý tổ chức của tôn giáo (còn gọi là hành đạo, truyền đạo, quản đạo) và một số hoạt động khác do tổ chức cá nhân tôn giáo thực hiện nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo.

Xem thêm >>> Lý luận về vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai

1.2. Hoạt động của đạo Công giáo

Đạo Công giáo là một nhánh lớn của đạo Thiên chúa giáo. Đạo này thờ chúa Giêsu và gồm có:

– Chính Thống giáo.

– Đạo Tin lành do Lute thành lập ở Đức (1517) và Calvin ở Thụy Sĩ (1543).

– Anh Giáo do Hăngri VIII, vua nước  Anh thành lập (1539).

– Đạo Công giáo là một phái lớn, được tổ chức chặt chẽ nhất.

1.2.1. Sự ra đời của đạo Công giáo

Vào thế kỷ thứ II và thứ I trước Công nguyên, các dân tộc vùng Địa Trung Hải bị đế quốc Rôma thống trị, do không chịu nổi ách áp bức, bóc lột đến cùng cực, những người nô lệ đã nổi dậy chống lại ách thống trị của đế quốc Rôma, đã bị chúng đàn áp khốc liệt, các cuộc đấu tranh đều bị thất bại. Đạo Thiên chúa ra đời trong hoàn cảnh đó.

Đạo Thiên chúa có 2 trung tâm là Rôma và Công-stăng-ti-nốp. Vào khoảng cuối thế kỷ thứ V trở đi, mâu thuẫn giữa hai trung tâm Rôma và Công-stăng-ti-nốp diễn ra gay gắt, quá trình giành quyền bính, tranh giành sự độc tôn dẫn đến sự đoạn tuyệt và phạt vạ lẫn nhau, đến khoảng năm 1504 trung tâm Công-stăng-ti-nốp tách ra thành đạo Chính thống và trung tâm Rôma thành đạo Công giáo.

Vào cuối thế kỷ thứ XV đầu thế kỷ XVI Công giáo Rôma lại xuất hiện những mâu thuẫn mới từ đó dẫn đến một phong trào cải cách trong giáo hội Công giáo Rôma. Kết quả là hình thành giáo hội Tin lành tách ra khỏi giáo hội Công giáo. Cũng vào thời kỳ này ở nước Anh cũng diễn ra mâu thuẫn giữa vua Henry VII khẳng định mình là lãnh tụ tối cao của Nhà nước và của cả giáo hội Công giáo tại Anh quốc, đến năm 1588 quyền tối thượng của Nhà vua được pháp luật hóa, Anh giáo chính thức tách khỏi giáo hội Công giáo.

1.2.2. Hệ thống giáo lý, giáo luật, tổ chức của đạo Công giáo

Giáo lý đạo Công giáo

Giáo lý của đạo Công giáo được thể hiện trong 2 bộ kinh thánh: Cựu ước và Tân ước, gồm tất cả 73 cuốn.

Giáo lý Công giáo quan niệm rằng Thiên chúa đã sáng tạo ra trời đất, muôn loài trong 6 ngày và mọi sự xuất hiện, tồn tại và biến đổi của vũ trụ đều do Thiên chúa tiền định tuyệt đối.

Theo giáo lý Công giáo con người do Thiên chúa bằng phép màu nhiệm đã tạo nên theo hình ảnh của mình để thờ phụng mình. Thiên chúa có 3 ngôi: Cha, Con và các Thánh thần.

Trong giáo lý đạo Công giáo cũng cho rằng, đến một ngày nào đó thế giới sẽ đến ngày tận thế, bị hủy diệt, những người chết sẽ sống lại, Giêsu lại giáng thế để phán xét lần cuối cùng. Những người không có tội, siêng năng thờ phụng Chúa sẽ được lên thiên đàng, kẻ có tội phải xuống hỏa ngục.

Giáo luật, lễ nghi

Đạo Công giáo có luật lệ và lễ nghi rất chặt chẽ. Các giáo dân phải giữ được 10 điều răn của Chúa trời, 6 điều răn của giáo hội và 21 điều quy định đối với chính mình, thân xác con người và linh hồn con người. Những điều răn này đều hướng con người đến cái thiện, tránh làm việc ác.

Đạo Công giáo có rất nhiều ngày lễ và nghi thức giáo dân phải thực hiện. Lễ nghi Công giáo có 7 phép bí tích cơ bản trong đó có 3 bí tích quan trọng nhất là: Bí tích thánh tẩy (rửa tội), bí tích thánh thể (lễ Misa) và bí tích giải tội.

1.Bí tích thánh tẩy (rửa tội): dùng nước thánh để rửa sạch tội tổ tông truyền để trở thành tín hữu Kitô.

2.Bí tích thánh thể (lễ Misa): đây là bí tích quan trọng nhất trong các bí tích.

Linh mục ban bánh, rượu đã được thánh hóa.

3.Bí tích giải tội: dung cho những người cần hối lỗi và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm.

4.Bí tích sức dầu thánh.

5.Bí tích truyền chức thánh.

6.Bí tích thêm sức.

7.Bí tích hôn phối.

Đạo Công giáo có rất nhiều những ngày lễ lớn như: lễ buộc, lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh, lễ Chúa Giêsu lên trời, lễ chúa thánh thần hiện xuống, lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời, lễ các thánh, lễ ngày chủ nhật. Ngoài ra còn rất nhiều ngày lễ, tháng lễ, mùa lễ, các tín hữu dự lễ sẽ được nhiều ơn phước.

Hệ thống tổ chức giáo hội Công giáo

Giáo hội Công giáo là một hệ thống tổ chức hữu hình chặt chẽ từ cá thể đến tập thể, từ tập thể nhỏ đến tập thể lớn, từ địa phương đến trung ương, từ quốc gia đến toàn cầu.

Đứng đầu giáo hội Công giáo là giáo triều Vatican do Đức thánh cha (tức Giáo hoàng) đứng đầu là người kế vị thánh Phêrô, thay mặt chúa Giêsu cai quản giáo hội Công giáo toàn cầu.

Vatican là một nhà nước có lãnh thổ riêng độc lập, có chủ quyền. Có các cơ quan: Văn phòng thư ký giáo hoàng; 9 thánh bộ, 3 tòa án giáo triều và 12 hội đồng giáo hoàng.

Tại các nước độc lập có chủ quyền được giáo hội và thế giới công nhận thì tòa thánh Vatican cho thành lập giáo hội riêng của nước đó gọi là giáo miền. Giáo miền là một định chế tổ chức cộng đoàn tín hữu trong một lãnh thổ nhất định theo một lễ điển để giữ mối liên kết trong giáo hội về mọi mặt trong hoạt động tôn giáo. Giáo miền không nhất thiết phải là tư cách pháp nhân trong hệ thống tổ chức của Giáo hội, là một tổ chức liên hợp các Giáo hội địa phương nên Giáo miền không có bản quyền. Người đại diện cho Giáo miền là Hồng y, có thể một nước có 2 Hồng y.

Bên dưới Giáo miền là các giáo tỉnh. Các Tổng Giám mục phụ trách các giáo tỉnh, giáo tỉnh gồm nhiều giáo phận.

Giáo phận là một cộng đoàn tín hữu được giới hạn trong một địa dư nhất định và trực thuộc Tòa thánh. Quyền thành lập, bãi bỏ, thay đổi giáo phận là quyền riêng của Tòa thánh.Giám mục đứng đầu, phụ trách giáo phận, Giám mục có quyền quyết định mọi việc về tôn giáo ở giáo phận mình và có quyền liên hệ trực tiếp với Giáo hoàng. Giúp việc giám mục có giám mục phó hoặc giám mục phụ tá. Từng giáo phận có Hội đồng tư vấn, gồm một số linh mục do giám mục chỉ định để đóng góp ý kiến cùng giám mục cai quản giáo dân.

Hồng y, các Tổng Giám mục và Giám mục ở một nước hợp lại thành “Hội đồng Giám mục” nước đó. Hội đồng Giám mục có quyền đề ra và thống nhất chủ trương, phương thức hoạt động cho giáo hội trong cả nước.

Dưới giáo phận là tổ chức Giáo hội cơ sở đó là giáo xứ, giáo họ. Trong đó:

Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập thành đơn vị Giáo hội cơ sở trong một địa dư nhất định có tính chất bền vững trong cơ cấu tổ chức Giáo hội. Mỗi giáo xứ có một linh mục chính xứ và có thể có nhiều tư tế khác phục vụ mục vụ trong xứ. Quyền thành lập, giải tán, thay đổi giáo xứ cũng như quyền bổ nhiệm linh mục chính xứ là quyền độc hữu của Giám mục giáo phận. Tất cả giáo xứ đều có tư cách pháp nhân theo giáo luật. Mỗi giáo xứ có “Hội đồng giáo xứ” gồm một số giáo dân bầu ra. Hội đồng giáo xứ do linh mục điều khiển và cùng với linh mục điều hành đạo trong giáo xứ. Giáo hội thường dùng tổ chức này để thực hiện chủ trương trong giáo dân, giúp linh mục sắp đặt công việc trong xứ họ đạo. Điều hành sinh hoạt tôn giáo hàng ngày tại nơi thờ tự như đọc kinh buổi sớm, buổi chiều, chuẩn bị lễ bái…

Trong mỗi giáo xứ có những cộng đồng nhỏ như: các họ đạo, các khu, các dâu…mỗi đơn vị nhỏ ấy thường nhận một vị thánh bảo trợ cho mình, không có tư cách pháp nhân.

Tham khảo >>>  Vai trò quản lý nhà nước đối với sự hình thành thị trường bất động sản Việt Nam

2. Một số quan điểm của Đảng, Nhà nước về quản lý Nhà nước đối với tôn giáo

2.1. Một số quan điểm của Đảng về tôn giáo

Tôn giáo là một vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, phù hợp với đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam và yêu cầu cụ thể của từng thời kỳ cách mạng. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân kháng chiến thắng lợi, giành độc lập thống nhất đất nước. Và ở những giai đoạn cách mạng khác nhau thì chính sách tôn giáo được điều chỉnh cho phù hợp với nhiệm vụ, hoàn cảnh thực tiễn.

Hiện nay trong sự nghiệp đổi mới nói chung trên tất cả các mặt, Đảng và Nhà nước ta nhận rõ vị trí của việc đổi mới trong công tác tôn giáo về cả nhận thức và nội dung. Ngày 16/10/1990, Bộ chính trị (khoá VI) đã ra Nghị quyết 24-NQ/TƯ về công tác tôn giáo xác định:

Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài.

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.

Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới

Các giáo hội và tổ chức tôn giáo nào có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích điều lệ phù hợp với pháp luật Nhà nước, có tổ chức phù hợp và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về cả 2 mặt đạo và đời thì sẽ được Nhà nước xem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động.[25]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 cũng khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo. Chống mọi hành vi, vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân” [30,tr123]. Nghị quyết 24 và tinh thần của Cương lĩnh đã đi vào cuộc sống làm cho sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo được bình thường ổn định, phù hợp với chính sách và pháp luật. Đông đảo tín đồ, chức sắc tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, biểu lộ lòng yêu nước gắn bó với dân tộc, với chế độ, hăng hái tham gia công việc đổi mới, củng cố khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng khẳng định “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu về tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng và đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo…chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”

Năm 1998, Bộ chính trị khoá VIII đã ban hành chỉ thị 37- CT/TW về: “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Ngày 19/4/1999, Chính phủ ban hành nghị định số 26- NĐ/CP về các hoạt động tôn giáo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống của đồng bào…Từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, nghiêm cấm việc lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia”[27,tr128]. Việc thực hiện chính sách tôn giáo là đảm bảo nhu cầu tinh thần đó của một bộ phận nhân dân, bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường không trái với pháp luật.

Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra nghị quyết số 25 ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo. Nghị quyết đã chỉ rõ các quan điểm và chính sách đối với tôn giáo:

Thứ nhất: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.

Thứ hai: Đảng, nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; Tôn vinh những người có công với Tổ quốc và Nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối sử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

Thứ ba: nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng với mục tiêu: “Dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Đây là điểm tương đồng gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Mọi công dân, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nâng cao tinh thần yêu nước ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung trong đó có đồng bào tôn giáo.

Thứ tư: công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành các địa bàn, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống chế độ, chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng.

Thứ năm: vấn đề theo đạo và truyền đạo, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo qui định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn sửa chữa, xây dựng cơ sở tôn giáo của mình theo đúng qui định của pháp luật. Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật. Không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các qui định của Hiến pháp và pháp luật.

Từ việc xác định các giá trị đạo đức tinh thần của các tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hoá của dân tộc cần phải giữ gìn bảo tồn trong đời sống xã hội, Đảng ta khẳng định công tác tôn giáo thực chất chính là công tác vận động quần chúng, phát huy sức mạnh nội lực của quần chúng. Nghị quyết trung ương 7 khoá IX, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ của công tác tôn giáo là:

Thực hiện có hiệu quả chủ chương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển bình thường theo đúng chính sách pháp luật của nhà nước.

Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng khối đại đoàn kết dân toàn tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ.

Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước; đấu tranh làm thất bại những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc vu khống của các thế lực thù địch đối với tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta.

Tổng kết thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo. Tăng cường nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách trước mắt và lâu dài đối với tôn giáo.

Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX cũng đã đưa ra 4 nhóm giải pháp chính về công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở, tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường công tác tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo. Trong đó công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cần tập trung thực hiện tốt 6 vấn đề sau:

Tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho nhân dân các vùng khó khăn, đặc biệt quan tâm các vùng đông tín đồ tôn giáo và các vùng dân tộc miền núi còn gặp nhiều khó khăn.

Tăng cường cảnh giác cách mạng, xây dựng phương án cụ thể, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo.

Nguyên tắc giải quyết việc tôn giáo tham gia chủ trương thực hiện xã hội hoá các hoạt động y tế, văn hoá xã hội, giáo dục của nhà nước như: Khuyến khích các tôn giáo đã được nhà nước thừa nhận tham gia thực hiện xã hội hoá các hoạt động y tế, văn hoá, giáo dục… của nhà nước phù hợp với chức năng nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và qui định của pháp luật. Cá nhân tín đồ, chức sắc, nhà tu hành tham gia việc xã hội hoá các hoạt động y tế, văn hoá, giáo dục… với tư cách công dân thì được khuyến khích và tạo điều kiện hoạt động theo qui định của pháp luật.

Thống nhất chủ trương xử lý vấn đề nhà đất sử dụng vào mục đích tôn giáo theo hướng: đối với đất đai, thực hiện theo qui định của Pháp luật hiện hành. Đối với các khiếu kiện liên quan đến nhà đất và cơ sở tôn giáo đã đợc chuyển giao cho chính quyền hoặc đoàn thể sử dụng, về nguyên tắc xử lý theo qui định của pháp luật hiện hành; riêng đối với những trường hợp nhà đất do tôn giáo đã hiến tặng có văn bản xác nhận thì không đặt vấn đề trả lại.

Đối với hội đoàn tôn giáo, thực hiện theo nguyên tắc mọi tổ chức phải được nhà nước công nhận và hoạt động theo qui định của pháp luật.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 12-1-2011 đến ngày 19-1-2011, tại thủ đô Hà Nội. Những văn kiện quan trọng của Đại hội lần này đã phản ánh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đống thời cũng là thành quả của quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận sau 25 năm đổi mới đất nước, trong đó có đổi mới tư duy về tôn giáo.Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI một số văn kiện quan trọng thể hiện quan điểm của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, đó là:

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển 2011) khái quát: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân 

Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, về vấn đề tôn giáo được nêu chi tiết nhất: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”

Tóm lại, chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đối với vấn đề tôn giáo hiện nay là thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, để từng bước xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu. Đồng thời làm cho quần chúng tín đồ thấy được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo được xác định là một bộ phận của chính sách xã hội, nhằm đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

2.2. Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của tôn giáo

Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được hiểu: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước (Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật tác động điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.

2.2.1. Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của tôn giáo trước hết xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới ở nước ta

Quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói riêng là công việc bình thường của mọi nhà nước trong đó có nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay xuất phát từ những lý do cơ bản sau: Tôn giáo là một thực thể của xã hội, tồn tại khách quan, lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội. Quá trình tồn tại, phát triển của tôn giáo có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Tôn giáo tồn tại vừa mang những ưu điểm (đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, khuyên răn con người hướng thiện “đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”…) vừa mang những hạn chế tiêu cực (trong nhận thức về thế giới và con người; bị lợi dụng vào các mục đích tiêu cực). Để phát huy những ưu điểm, tính tích cực của tôn giáo trong công cuộc xây dựng xã hội mới; hạn chế những tiêu cực do tôn giáo mang lại, quản lý nhà nước đối với các hoạt động này là cần thiết, khách quan.

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, không những cần thiết phải quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo mà còn cần phải tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này bởi lẽ :

Thứ nhất: Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo có nhiều đổi mới, bởi vậy công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo cũng cần phải có những đổi mới cho phù hợp.

Thứ hai : Yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói riêng đặt ra nhiều vấn đề về hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động tôn giáo, về bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Thứ ba : Trong công cuộc đổi mới ở nước ta bên cạnh những điểm tích cực, phù hợp của tôn giáo, thì các thế lực thù địch luôn lợi dụng hoạt động tôn giáo để thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

*Mục tiêu quản lý

Đảm bảo cho các tôn giáo được hoạt động diễn ra bình thường trong khuôn khổ của pháp luật.

Phát huy được những mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế tiêu cực trong hoạt động tôn giáo đối với quá trình phát triển xã hội.

Xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường được vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. *Chủ thể và khách thể quản lý

Chủ thể quản lý: Nếu hiểu quản lý nhà nước theo nghĩa rộng thì chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo có thể kể tới đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống cơ quan lập pháp (Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan nhà nước), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống tư pháp (Viện kiểm soát nhân dân và tòa án nhân dân). Theo nghĩa hẹp thì chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp.

Khách thể quản lý: Khách thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo chính là hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, cá nhân hoạt động trong hệ thống tổ chức tôn giáo. Cụ thể là:

Tín đồ tôn giáo: Tín đồ tôn giáo là người có niềm tin theo một tôn giáo nhất định và được tổ chức giáo hội thừa nhận. Ví dụ như giáo dân, linh mục…trong đạo Công giáo. Tín đồ của các tôn giáo có sự thống nhất trên 2 mặt: công dân và tín đồ. Về mặt công dân, đều bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như mọi công dân khác. Về mặt tín đồ, là người có niềm tin và tình cảm tôn giáo ở những mức độ khác nhau, họ có quyền lợi và nghĩa vụ do tổ chức giáo hội quy định được thể hiện trong giáo lý, giáo luật. Mặt công dân và tín đồ thống nhất trong người công dân – tín đồ, nhưng không đồng nhất: mặt công dân phải được đặt lên trên hết.

Chức sắc tôn giáo: Chức sắc tôn giáo trước hết là tín đồ Giáo hội đào tạo, tấn phong vào các chức vụ Thánh hoặc các chức vụ thẩm quyền trong các tổ chức tôn giáo.

Ví dụ như linh mục, giám mục trong đạo Công giáo.

Các chức sắc tôn giáo có sự thống nhất giữa 3 mặt: công dân, hành đạo và đại diện. Họ được đối xử bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như mọi công dân, ngoài ra các chức sắc tôn giáo còn có điểm đặc biệt hơn công dân bình thường ở chỗ: họ có quyền uy của Giáo hội, do từng tôn giáo quy định, đại diện cho tổ chức Giáo hội ở những mức độ khác nhau trong quan hệ đối nội, trong quan hệ giữa đạo và đời.

Nhà tu hành: Là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo. Trong đó mặt công dân là số một. Ví dụ các tu nam, các tu nữ trong đạo Công giáo.

Chức việc: Là tín đồ được Giáo hội chỉ định hoặc tập thể tín đồ bầu vào giữ các chức vị của tổ chức giáo hội cơ sở. Ngoài nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ tín đồ, họ còn có chức vị thẩm quyền trong tổ chức giáo hội cơ sở. Ví dụ chức Chánh trương, Trùm trưởng trong đạo Công giáo.

Nơi thờ tự: Nơi thờ tự được thể hiện trên 4 mặt: vật chất, tôn nghiêm, trụ sở và sinh hoạt cộng đồng. Mặt vật chất, nơi thờ tự của các tôn giáo được xây dựng bằng những vật liệu khác nhau và có kiểu kiến trúc khác nhau phù hợp với niềm tin của từng tôn giáo. Mặt tôn nghiêm là nơi luôn hiện hữu của thần quyền, nơi bái vọng, ngưỡng mộ và biểu hiện tình cảm tôn giáo, nơi diễn ra những nghi lễ tôn giáo. Mặt trụ sở, là nơi diễn ra các hoạt động hành chính đạo. Mặt sinh hoạt cộng đồng, là nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt của các hội đoàn tôn giáo.

Đồ dung việc đạo: Bao gồm: kinh, sách, tượng, bài vị, tranh ảnh, cờ trống, kèn, chuông, mõ…mỗi đồ dùng có vai trò, vị trí khác nhau trong sinh hoạt của các tôn giáo song chúng có chung một đặc điểm là sự thống nhất và đồng nhất giữa mặt vật chất và mặt biểu đạt.

Các cơ sở vật chất khác của tôn giáo: Các tôn giáo còn có các cơ sở vật chất khác như: khuôn viên, ruộng đất, cơ sở đào tạo, cơ sở từ thiện, nhà dòng, nhà chùa…Những cơ sở vật chất này vừa là tài sản do các tổ chức tôn giáo sử dụng vừa là nơi diễn ra các hoạt động của các tôn giáo, của tổ chức giáo hội. Những cơ sở này được giao trách nhiệm cho chức sắc bản quyền quản lý, sử dụng.

Sinh hoạt tôn giáo: Là một phạm trù rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong các hoạt động tôn giáo. Nhìn chung, mọi sinh hoạt tôn giáo đều có hai đặc điểm chính là: về chủ thể, có thể do các thể nhân tôn giáo thực hiện đơn lẻ tại gia hoặc do chức sắc và các pháp nhân tôn giáo thực hiện như Ban hành giáo, Ban tự hội, Ban chấp sự…Về diễn biến, các sinh hoạt tôn giáo tuân theo lề luật và lễ nghi nhất định như lễ thường, lễ trọng các phép bí tích, các khóa hạ, giới đàn,…ở nơi thờ tự.

Nắm vững những đặc điểm của đối tượng quản lý Nhà nước về các hoạt động tôn giáo có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý Nhà nước, để thực hiện tốt những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong công tác tôn giáo.

2.2.2. Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của tôn giáo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.

Chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý tôn giáo

Quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo là một trong những nhiệm vụ của Nhà nước để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân và sự bình đẳng của các tôn giáo trước pháp luật, đồng thời cũng nhằm hướng dẫn các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Hiện nay, đã có các văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý cho cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo áp dụng. Quan trọng nhất là được thể hiện trong Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở điều 70: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng – tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật … không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo để làm trái chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước”.

Ngày 18 tháng 6 năm 2004, tại phiên họp thứ 19 khoá 11, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Chủ tịch nước đã ký công lệnh số 18/2004/L/CTN công bố Pháp lệnh. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ban hành là sự thể chế hoá đường lối chủ trương, chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước ta, nhằm tạo cơ sở pháp lý bảo đảm cho công dân thực hiện quyền cơ bản về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm 6 chương, 41 điều. So với Nghị định số 26, thì Pháp lệnh này có khá nhiều nội dung được điều chỉnh, sửa đổi bổ sung mới, đã đề cập một số những nội dung cơ bản dưới đây:

Pháp lệnh đã quán triệt, thể chế đầy đủ những quan điểm, chủ trương chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong Nghị quyết Trung ương Đảng toàn quốc lần thức IX và Nghị quyết số 25/NQ- TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, về công tác tôn giáo, đặc biệt những quan điểm chính sách và nhiệm vụ, giải pháp giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ mới .

Pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở tổng kết sâu rộng quá trình thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản qui phạm pháp luật khác có liên quan. Kế thừa và phát triển những qui định còn phù hợp. Pháp lệnh được xây dựng đảm bảo phù hợp với luật pháp Quốc tế điều chỉnh về quyền con người trong đó có quyền tự do về tín ngưỡng, tôn giáo.

Bên cạnh đó còn có các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo mà mới nhất là Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Thông tư 01 Bộ Nội vụ Hướng dẫn thi hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP.

*Những nội dung chủ yếu của QLNN đối với hoạt động tôn giáo

Những nội dung chung: Xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn 5 năm và hàng năm thuộc lĩnh vực tôn giáo; Ban hành các vãn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo; Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo

Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo; Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo; Quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo; Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo; Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động tôn giáo.

Những nội dung cụ thể:

Nội dung quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo căn cứ vào pháp luật hiện hành và hoạt động cụ thể của các tổ chức tôn giáo. Nhà nước quản lý các hoạt động tôn giáo gồm các nội dung chính sau:

Quản lý việc xét duyệt và công nhận các pháp nhân tôn giáo

Quản lý việc xét duyệt chương trình hành đạo thường xuyên và đột xuất

Quản lý xét duyệt một số việc thuộc hành chính đạo

Quản lý việc đào tạo chức sắc, nhà tu hành

Quản lý việc xét duyệt quá trình xây dựng và sửa chữa nơi thờ tự

Quản lý việc xét duyệt chương trình sản xuất, lưu thông đồ dung việc đạo Quản lý việc xét duyệt các hoạt động từ thiện xã hội

Quản lý việc xét duyệt các hoạt động quốc tế và đối ngoại tôn giáo

Quản lý việc xử lý các khiếu tố, khiếu nại liên quan đến tôn giáo và vi phạm chính sách tôn giáo

Đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo

Phương thức quản lý

Quản lý Nhà nước nói chung và quản lý các hoạt động tôn giáo nói riêng, về nguyên tắc phải tuân thủ các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước.

Quản lý bằng pháp luật: Để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện đầy đủ thì quyền này phải được luật hóa. Văn bản luật quan trọng nhất là Hiến pháp, ngay trong văn bản này, quyền tự do tín ngưỡng đã trở thành quyền hiến định. Tiếp đến là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 ngày 18/6/2004 và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo là những văn bản quy định và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho nhân dân làm cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ngày một phong phú, đa dạng với phương châm “nước sáng, đạo vinh”, “sống tốt đời đẹp đạo”.

Quản lý bằng chính sách: Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được khẳng định nhất quán trước sau như một: tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; các tôn giáo được hoạt động tự do trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.

Quản lý tôn giáo bằng tổ chức bộ máy và cán bộ: Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước, là đầu mối hợp với các ngành về công tác và liên hệ với các tổ chức tôn giáo.Ban Tôn giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ban Tôn giáo quận, huyện là cơ quan chuyên môn thuộc UBND, chịu trách nhiệm trước UBND thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các hoạt động tôn giáo theo pháp luật của Nhà nước trong phạm vi địa phương. Còn ở cấp cơ sở xã, phường hiện nay mới chỉ có cán bộ kiêm nhiệm làm công tác tham mưu cho UBND cùng cấp giải quyết những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Quản lý bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng: Xuất phát từ luận điểm nội dung cốt lõi của CTTG là công tác vận động quần chúng. Do vậy trong QLNN về hoạt động tôn giáo không chỉ đúng pháp luật mà còn phải được sự đồng tình của đông đảo quần chúng nhân dân, vận động giải thích cho đồng bào hiểu rõ bản chất vấn đề cùng tham gia đấu tranh chống các biểu hiện sai trái đó cũng là việc quan trọng trong quản lý nhà nước về tôn giáo.Nội dung cơ bản của phương pháp này là tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước để mọi người (người có đạo và không có đạo) hiểu và thực hiện đúng.

Do tính đặc thù của các hoạt động tôn giáo, nên ngoài các phương án trên, nhà nước và hệ thống các cơ quan QLNN về hoạt động tôn giáo còn sử dụng các phương pháp khác như: quản lý bằng phương pháp thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá…

Quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo là một trong những hoạt động của Nhà nước đối với một bộ phận dân số chiếm tỷ lệ lớn trong nhân dân ta, nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa các mặt: tôn trong pháp luật, đời sống tín ngưỡng của đồng bào có đạo phát triển bình thường cùng với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội khác.

Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng hiện nay nói chung và yêu cầu bức thiết của CTTG nói riêng, Đảng và Nhà nước cần củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức làm CTTG của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ chức QLNN về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp phát huy sức mạnh và hiệu quả công tác. Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ công chức làm CTTG.

2.2.3. Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của Công giáo.

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức Công giáo

Quản lý hoạt động của Hội đồng Giám mục Việt Nam: Hội đồng Giám mục Việt Nam được coi như là cơ quan phối hợp và hiệp thông của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Mỗi năm họp thường niên một lần và cứ 3 năm đại hội một lần. Mỗi lần họp hội nghị thường niên, phải có văn thư gửi Ban Tôn Giáo Chính phủ và UBND tỉnh, nơi dự định tổ chức.

Đối với Hội đồng Giám mục Việt Nam do Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với các địa phương có liên quan và các ban ngành, chức năng ở Trung ương giải quyết những vấn đề về hoạt động tôn giáo như: Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo Hội nghị thường niên.

Định kỳ 6 tháng một lần, Ban Tôn giáo Chính phủ làm việc với Ban Thường vụ Hội Đồng Giám mục Việt Nam để nắm tình hình và hướng dẫn giáo hội hoạt động theo định hướng hành đạo và tuân thủ chính sách, pháp luật của Nhà nước và một năm một lần Ban Tôn giáo Chính phủ làm việc với Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhân dịp Hội nghị thường niên của Hội Đồng Giám mục.

Ngoài ra Hội đồng Giám mục Việt Nam còn có các hoạt động khác mà Nhà nước cần quan tâm như: Công tác tuyên truyền và Hoạt động đối ngoại.

Quản lý đối với Toà Giám mục Giáo phận: Thực chất của công tác này là quản lý các tổ chức, nhân sự do Giám mục giáo phận thành lập và bổ nhiệm. Theo khoản 4 điều 22 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo khi bổ nhiệm các chức danh như: Tổng đại diện, Chánh văn phòng, Quản lý, Thư ký, Hội đồng Linh mục, Hội đồng kinh tế thì Giám mục giáo phận có trách nhiệm đăng ký với Ban tôn giáo tỉnh, thành phố nơi có toà Giám mục nghiên cứu, xem xét về nhân thân đối với những người được Giám mục dự định bổ nhiệm như: Linh mục Tổng đại diện, Linh mục đại diện, Linh mục thư ký, Linh mục quản lý và trao đổi với Giám mục nên bổ nhiệm những người có tinh thần độc lập, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước.

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của Giáo xứ

Việc tách Giáo xứ và thành lập Giáo xứ mới: Đây là một trong những nhu cầu chính đáng của tổ chức tôn giáo điều đó phù hợp xu thế phát triển của xã hội, khi tổ chức tôn giáo có nguyện vọng các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cần xem xét căn cứ vào yêu cầu thực tế đặt ra tạo điều kiện cho họ thực hiện.

Quản lý các hoạt động của Ban chấp hành Giáo xứ: Nếu giáo xứ liên quan đến một xã thì Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định. Nếu liên quan đến nhiều xã trong huyện thì Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định công nhận.

Quản lý hàng giáo phẩm và giáo sỹ

+ Phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm có yếu tố nước ngoài như: Hồng y, Tổng Giám mục, Tổng Giám mục Phó, Giám mục, Giám mục Phó, Giám mục Phụ tá, Giám Quản theo thoả thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Toà thánh Vatican. Việc phong chức trên phải có sự chấp thuận của Chính phủ Việt Nam.

+Phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm không có yếu tố nước ngoài:

Tổ chức giáo hội Công giáo có trách nhiệm đăng ký với Ban Tôn giáo Chính phủ việc bổ nhiệm, bầu cử, suy cử thành viên Ban Thường vụ, Chủ tịch các Uỷ ban của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Tổ chức giáo hội có trách nhiệm đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh việc phong chức, bổ nhiệm, bầu cử của các linh mục, bề trên dòng tu đạo Thiên chúa.

Thuyên chuyển nơi hoạt động của các chức sắc, nhà tu hành: Phải thông báo

bằng văn bản đến Uỷ ban nhân dân cấp huyện và tổ chức tôn giáo trước khi thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc nhà tu hành có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký đến Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đến.

Quản lý hoạt động đào tạo chức sắc của đại chủng viện:

Điều 24 pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo quy định: Tổ chức tôn giáo được thành lập trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo.

Tiêu chuẩn chủng sinh: Là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, tốt nghiệp phổ thông trung học, có lý lịch rõ ràng, không vi phạm chính sách pháp luật của Nhà nước.

Xét duyệt ứng sinh vào học Đại chủng viện: Hồ sơ do Đại chủng viện thu nhận, nộp về Ban tôn giáo tỉnh, thành phố liên quan để xét duyệt và quyết đinh.

Chương trình giảng dạy tại Đại chủng viện: Thời gian học một khoá là 6 năm và 1 năm thực tập. Ngoài những nội dung học tập các môn tôn giáo do Ban giám đốc tự chịu trách nhiệm, còn có các môn: Lịch sử dân tộc, pháp luật Việt Nam, chính sách pháp luật về tôn giáo được giảng dạy trong các Đại chủng viện, về giảng viên môn lịch sử dân tộc, pháp luật Việt Nam, chính sách pháp luật về tôn giáo do Sở Giáo dục – Đào tạo phối hợp với Ban tôn giáo tỉnh nơi có Đại chủng viện chọn cử giáo viên, số tiết các môn học từ 180-200 tiết cho cả khoá học 6 năm. Nội dung các môn này do Bộ Giáo dục-Đào tạo phối hợp với Ban tôn giáo Chính phủ biên soạn.

Đội ngũ giảng viên dạy trong các Đại chủng viện: có giảng viên tại chỗ và giảng viên thỉnh giảng.

Cho phép Đại diện các Đại chủng viện họp 2 năm một lần để kiểm điểm việc dạy và học trong các Đại chủng viện.

Việc thụ phong linh mục cho chủng sinh đã tốt nghiệp Đại chủng viện: UBND cấp tỉnh nơi có chủng sinh đi học xem xét và chấp thuận theo quy định của pháp luật.

Quản lý Nhà nước đối với các cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất, đất đai, nơi thờ tự: Việc xây dựng, sửa chữa nhà thờ, nhà xứ

phải chấp hành theo qui định của pháp luật. Thực hiện đúng các qui định của nhà nước về quyền sở hữu bất động sản và quyền sử dụng đất đai, phải có bản vẽ, bản vẽ thiết kế được phê duyệt trước khi thi công. Đây là nguyên tắc bắt buộc của Nhà nước về xây dựng.

Đối với kinh sách và đồ dùng việc đạo

Xuất bản kinh sách: Đối với kinh bổn, giáo lý là nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt tôn giáo cần đáp ứng hợp lý; Đối với sách lịch sử, tạp chí, tranh chuyện do tính phức tạp và tế nhị cần xem xét thận trọng về nội dung.

Nhập từ nước ngoài: Đối với rượu lễ miễn thuế rượu lễ cho giáo hội; Đối với kinh sách, tượng ảnh phải qua cơ quan hải quan.

*Quản lý Nhà nước đối với các sinh hoạt tôn giáo

Sinh hoạt tôn giáo bình thường (Đăng ký hàng năm) đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp xã trước ngày 15 tháng 10 của năm trước.Sinh hoạt tôn giáo bất thường phải được chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hoạt động tôn giáo.

Quản lý nhà nước về các hoạt động từ thiện, xã hội có liên quan đến Công giáo: Quản lý nhà nước về hoạt động từ thiện, xã hội, là một số nội dung có hầu hết trong các giáo lý. Trong điều răn của Giáo hội toát lên lòng vị tha, yêu người. Việc làm này có giá trị trong việc truyền đạo, làm cho Công giáo phát triển mạnh mẽ, bởi nó phù hợp với mong muốn của mọi người. Ngày nay với chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách phát triển kinh tế trong các tổ chức đoàn thể và nhân dân, các hoạt động từ thiện trong Công giáo được khuyến khích không chỉ ở trong nước mà ở cả ngoài nước, Công giáo ở nước ngoài cũng mong được làm từ thiện ở Việt Nam.

Nhà nước quản lý chủ yếu căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật đã ban hành nhằm mục đích khuyến khích các hoạt động từ thiện. Quản lý nhà nước là hướng vào quỹ đạo chung của sự phát triển, phù hợp với pháp luật và kịp thời ngăn chặn những hoạt động lợi dụng công việc từ thiện để vi phạm pháp luật và tập quán Việt Nam.

Quản lý việc xử lý các khiếu nại, tố cáo liên quan đến Công giáo: Đây là hoạt động công tác giải quyết quản lý khiếu nại tố cáo, mà trước hết là tuân theo luật khiếu nại, tố cáo. Quá trình xử lý tranh chấp phải rất thận trọng và đúng pháp luật, không cảm tính thiên vị. Vai trò của nhà nước là không để cho những diễn biến tiêu cực xảy ra, đồng thời cũng không để cho các tôn giáo lấn lướt coi thường pháp luật.

Về vấn đề Quản lý nhà nước đối với hoạt động quan hệ kinh tế đối ngoại và về một số việc về hành chính đạo: trong công tác quản lý nhà nước về Công giáo cũng phải đáp ứng yêu cầu giao lưu quốc tế về Công giáo là nhu cầu tập quán và thông lệ quốc tế. Chủ trương trong quản lý nhà nước là cho phép các giáo sỹ, các tổ chức Công giáo nước ngoài theo hệ thống tổ chức mà tổ chức tôn giáo, giáo sỹ là thành viên hoặc có mối quan hệ chấp nhận các công việc trao đổi làm công tác Công giáo hợp lý. Các chức sắc tôn giáo được xét ra nước ngoài phải thực sự có nhu cầu. Tăng cường hữu nghị hiểu biết lẫn nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và pháp luật của Việt Nam. Tham gia vào quá trình đấu tranh của nhân loại bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh, góp phần tuyên truyền đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Tranh thủ cả về sức người, cả về vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế.

Chúng ta cho phép các giáo sỹ, tổ chức tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam để thăm trao đổi với các tổ chức giáo hội ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và pháp luật của Việt Nam. Phải tuân theo các qui định của Việt Nam về xuất nhập cảnh, đi lại và hoạt động. Không cho phép các tổ chức tôn giáo vào truyền đạo và lập tổ chức tôn giáo mới. Mọi hoạt động viện trợ của các tổ chức tôn giáo nước ngoài đều phải tuân theo chính sách, chế độ hiện hành và thông qua cơ quan được Thủ tướng giao. Các tổ chức hoạt động cá nhân tôn giáo muốn được nhận viện trợ phải xin phép Thủ tướng.

Hiện tại Tri thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Làm Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo