Lý luận chung về chính sách tín dụng của doanh nghiệp

 Nguyễn Thị Hà    
Lý luận chung về chính sách tín dụng của doanh nghiệp
Rate this post

Lý luận chung về chính sách tín dụng của doanh nghiệp

Mục Lục

1/ Mục tiêu của chính sách tín dụng

Một chính sách tín dụng của doanh nghiệp được xác định phải dựa trên mục tiêu của doanh nghiệp đề ra là gì? Và xem xet nó có ảnh hưởng như thế nào đến mục tiêu của doanh nghiệp và phải xác định mục tiêu rõ ràng khi xây dựng chính sách tín dụng. Đồng thời cần có sự cân nhắc xem xét ước tính sự tăng trưởng của khối lượng bán và lợi nhuận của doanh nghiệp nhằm đối diện với điều kiện cạnh tranh.

Tuy nhiên việc xây dựng mục tiêu chính sách tín dụng cần phải cân nhắc giữa hai yếu tố:

a/ Chi phí liên quan đến khoản phải thu của khách hàng: những chi phí này bao gồm:

-Chi phí về đầu tư.

-Chi phí thu hồi các khoản phải thu.

-Chi phí quản lý hành chính.

-Chi phí bổ sung.

b/ Lợi nhuận mang lại cho khoản đầu tư bổ sung về nợ phải thu từ khách hàng:

Lợi nhuận từ chính sách tín dụng mang lại do sự tăng lên của doanh thu. Đó chính là lợi nhuận tăng thêm từ việc đầu tư bổ sung vào khoản phải thu từ khách hàng.

Mục tiêu của chính sách tín dụng

Mục tiêu của chính sách tín dụng

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ làm thuê luận văn, luận án cao học, viết essay tiếng anh, khóa luận tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp, dịch vụ chạy SPSS,… chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

2/ Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng

Một chính sách tín dụng luôn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố:

a/ Lợi nhuận tiềm năng:

Là cơ sở để đánh giá chính sách tín dụng có hiệu quả hay không. Chúng ta cần xem xét khả năng bán hàng tín dụng cũng như cũng như tài sản đầu tư vào các khoản phải thu chưa được thanh toán, điều cần quan tâm là lợi nhuận tiềm năng có bù đắp được những phí tổn của chính sách tín dụng hay không là điều đáng quan tâm.

b/ Mức độ cạnh tranh trên thị trường:

Trong điều kiện cạnh tranh gây gắt, tín dụng thương mại là công cụ cạnh tranh hiệu quả. Bởi vì, với một mức độ cạnh tranh  và một cường độ cạnh tranh lớn thì một doanh nghiệp không thể thắt lưng buộc bụng đứng nhìn các đối thủ cạnh tranh đưa ra các phương thức, các chính sách cạnh tranh được. Do đó ở một phương diện nào đó các doanh nghiệp cần phải xem xét đưa ra các thái độ hình thức tín dụng hiệu quả để lôi kéo khách hàng về phía mình.

c/ Lượng cầu:

Chính sách tín dụng được áp dụng hiệu quả nhất trong trường hợp lượng cầu còn ở mức thấp, nó là công cụ dùng để kích thích gia tăng sức mua, gia tăng lượng cầu. Việc cố gắng mở rộng chính sách tín dụng trong trường hợp này là khá tốt.

Tuy nhiên trong trường hợp lượng cầu lên cao thì việc áp dụng chính sách tín dụng mở rộng sẽ không có hiệu quả cao.

d/ Khối lượng bán:

Với một khối lượng bán nhỏ thì sẽ không đem lại hiệu quả khi mở rộng chính sách tín dụng, bởi vì với những chi phí, phí tổn phát sinh trong trường hợp này nó sẽ không có khả năng cân bằng với lợi nhuận mang lại từ việc mở rộng chính sách tín dụng. Cho nên trong trường hợp khối lượng bán đủ lớn thì việc mở rộng chính sách tín dụng mới đáng quan tâm.

e/ Giá trị tồn kho:

Một doanh nghiệp có giá trị tồn kho lớn, thời gian tồn kho dài chi phí tồn kho lớn thì họ sẽ có xu hướng mở rộng chính sách tín dụng thương mại để giải tỏa tồn kho giảm đi bớt gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp.

f/ Bản chất của sản phẩm hàng hóa:

Thời hạn tín dụng thương mại được chấp thuận mở rộng còn tùy thuộc vào bản chất của sản phẩm có thời hạn luân chuyển cao hay thấp.

g/ Tình trạng của người bán:

Điều kiện tín dụng được chấp thuận tùy theo tình trạng tài chính và vị trí của người bán trên thị trường.

h/ Tình trạng của người mua:

Điều kiện tín dụng được chấp thuận còn tùy thuộc vào tình trạng tài chính của người mua, người mua là khách hàng quen hay vãng lai.

i/ Điều kiện kinh tế:

Một môi trường kinh tế ổn định, một ngành có tốc độ tăng trưởng cao thường tạo cho các nhà cung cấp một sự tin tưởng an tâm khi thực hiện chính sách tín dụng và thu hút họ tham gia một cách mạnh mẽ vào hoạt động này.

Ngược lại nếu một môi trường kinh tế có nhiều bất ổn biến động thì các nhà cung cấp tín dụng sẽ thờ ơ và không mấy quan tâm đến lĩnh vực này.

Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng

Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng

3/ Xây dựng các điều kiện tín dụng:

Việc xây dựng các điều kiện tín dụng dựa trên việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng và kết hợp với tình trạng khả năng hiện tại của doanh nghiệp để đưa ra các điều kiện tín dụng thích hợp.

Điều kiện tín dụng được xác định bởi hai nhân tố:

a/ Kỳ hạn trả tiền:

Là thời hạn thanh toán được đề nghị trong giao dịch giữa hai bên. Khi kỳ hạn trả  tiền tăng sẽ làm khoản phải thu từ khách hàng tăng lên, có nghĩa là doanh thu từ doanh nghiệp tăng lên. Nếu giả sử kỳ hạn trả tiền tăng từ 30 ngày lên 60 ngày thì có thể số phải thu từ khách hàng tăng lên gấp đôi.

b/ Tỷ lệ chiết khấu:

Khi doanh nghiệp tăng tỷ lệ chiết khấu thì nói chung doanh nghiệp có thể thu hút được nhiều khách hàng mới làm cho doanh thu sẽ tăng thêm. Ngược lại khi kỳ hạn trả tiền bị rút ngắn thì khách hàng sẽ xem xét đến chiết khấu của doanh nghiệp.

4/ Đánh giá chính sách tín dụng của doanh nghiệp:

Để đánh giá và lựa chọn các chính sách tín dụng khác nhau cần ước tính sự ảnh hưởng của các chính sách này đến lợi nhuận của doanh nghiệp như thế nào, và với mỗi chính sách tín dụng cần phải ước tính những thay đổi sau:

– Doanh thu dự kiến.

– Giá vốn hàng bán.

– Chi phí hành chính, nợ phải thu khó đòi, chi phí thu hồi nợ.

– Chiết khấu chấp nhận.

– Thời gian bình quân của một kỳ thu nợ.

– Giá trị khoản phải thu của khách hàng.

a/ Ước tính doanh thu:

Đây là giai đoạn đầu tiên quan trọng nhất vì nó tạo cơ sở cho tất cả các dự đoán khác. Vấn đề dự đoán doanh thu do ảnh hưởng của các chính sách tín dụng cần phải dựa vào việc nghiên cứu các thái độ, thói quen của người tiêu dùng hay khách hàng và đối thủ cạnh tranh.

b/ Ước tính chi phí giá vốn hàng bán:

Bộ phận kế toán quản trị sẽ ước tính về chi phí giá vốn hàng bán theo doanh thu đã ước tính. Ở mỗi mức doanh thu sẽ tương ứng với chi phí về giá vốn hàng bán được xác định. Tuy nhiên cần chú ý một số trường hợp biến động về giá vốn hàng bán khi mức hoạt động thay đổi.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, khi khối lượng bán tăng lên chi phí về giá vốn hàng bán bắt đầu giảm vì một vài chi phí cố định (như khấu hao tài sản cố định) khi phân bổ cho mỗi sản phẩm sẽ giảm đi. Tuy nhiên ở một vài mức sản xuất, chi phí về giá vốn có thể tăng lên vì cần phải trả thêm các chi phí bổ sung.

Đối với các doanh nghiệp thương mại biến động về giá vốn hàng bán chủ yếu do nhân tố thị trường (giá mua). Ngoài ra còn chịu sự tác động của các chính sách thu mua, cung ứng… của doanh nghiệp.

c/ Ước tính chi phí quản lý liên quan đến chính sách tín dụng khách hàng, chi phí thu hồi nợ và các khoản phải thu khó đòi:

Chi phí liên quan đến chính sách tín dụng khách hàng, chi phí thu hồi nợ:

Các chi phí này tỷ lệ với khoản phải thu từ khách hàng, vì vậy phải căn cứ vào khoản phải thu, thực trạng về các khoản chi phí này trong quá khứ để ước tính mức chi phí phù hợp.

Đối với khoản phải thu khó đòi:

Chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế ở doanh nghiệp trong thời gian qua và tùy theo khách hàng của doanh nghiệp để ước tính tỷ lệ % khoản phải thu khó đòi.(Ở đây ước tính khoản phải thu khó đòi không phải căn cứ vào thực tế khoản phải thu hiện tại của doanh nghiệp mà việc ước tính dựa vào doanh thu).

d/ Ước tính doanh thu chiết khấu và số tiền chiết khấu:

Khi đưa ra chính sách tín dụng cần phải ước tính tỷ lệ % những khách hàng muốn được chiết khấu. Thông thường người ta xác định tỷ lệ này so với doanh thu và tùy theo thị trường, tình trạng của khách hàng mà xác định doanh thu chiết khấu và số tiền chiết khấu.

e/ Ước tính kỳ thu tiền bình quân:

Thông thường khách hàng chấp nhận chiết khấu sẽ trả tiền vào ngày cuối cùng của thời hạn được hưởng chiết khấu. Một số khách hàng sẽ trả tiền trong kỳ hạn tín dụng, một số khách hàng khác sẽ trả chậm hơn kỳ hạn tín dụng. Chính vì vậy khi ước tính kỳ hạn thu tiền bình quân cần phải chú ý đến tất cả các khách hàng.

Ngoài ra việc ước tính kỳ thu tiền bình quân còn phải căn cứ vào kỳ thu tiền bình quân của cùng kỳ năm.

f/ Ước tính khoản phải thu từ khách hàng:

Từ công thức tính số ngày một vòng quay khoản phải thu từ khách hàng ta sẽ ước tính được khoản phải thu từ khách hàng theo công thức:

KPT từ khách hàng ước tính =    Doanh thu ước tính x kỳ thu tiền bình quân / 360

g/ Tính chi phí tăng thêm của vốn ứ đọng ở khoản phải thu bởi các chính sách tín dụng:

Khi các khoản phải thu tăng thêm thì chi phí tài trợ cho khoản vốn này tăng thêm và ngược lại. Chúng ta tính chi phí tăng thêm đối với sự gia tăng khoản phải thu từ khách hàng theo các chính sách tín dụng khác nhau của doanh nghiệp.

Giả sử doanh nghiệp Y có chi phí sử dụng vốn là 10%, nếu doanh nghiệp không chấp nhận chính sách tín dụng  thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được 10% chi phí sử dụng vốn do không dùng lượng vốn này đầu tư vào khoản phải thu.

h/ Đánh giá lợi ích của chính sách tín dụng:

Sau khi ước tính các chi phí của các chính sách tín dụng khác nhau ta có thể sử dụng bảng sau để đánh giá hiệu quả của mỗi chính sách tín dụng để lựa chọn chính sách tín dụng tối ưu nhất.

5/ Phân tích yêu cầu tín dụng đối với khách hàng:

Phân tích tín dụng là quá trình xác định đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng.

Để phân tích yêu cầu tín dụng được chính xác cần phải trải qua các bước:

a/ Thu thập thông tin:

– Thu thập thông tin từ các nguồn:

+ Những thông tin được cung cấp bởi các văn phòng dịch vụ cung cấp thông tin, các chi nhánh chuyên môn, các tạp chí báo đài…

+ Những thông tin của khách hàng được lưu trữ trong hồ sơ về khách hàng của doanh nghiệp.

+ Những thông tin được các ngân hàng thông báo, từ các báo cáo tài chính của khách hàng.

b/ Tập hợp những thông tin về khách hàng và phân loại những thông tin tập hợp được:

Sau khi thu thập thông tin các nhà quản lý có trách nhiệm tập hợp những thông tin này lại và phân loại để dễ dàng phục vụ cho phân tích.

Tùy theo tầm quan trọng của khoản phải thu từ khách hàng, nhà quản lý sẽ tập hợp những thông tin ở mức độ chi tiết khác nhau.

c/ Phân tích thông tin để xác định giá trị của khách hàng:

Các phương pháp được sử dụng để phân tích giá trị của khách hàng bao gồm:

– Phân tích tín dụng:

Là phương pháp phân tích thời gian thực hiện thanh toán các khoản nợ của khách hàng trong quá khứ. Trên cơ sở phân tích chúng ta sẽ phân loại khách hàng thành nhóm các khách hàng có uy tín luôn thanh toán đúng hạn và nhóm khách hàng luôn thanh toán chậm trễ để có được những giải pháp xử lý cụ thể.

Việc thanh toán nhanh thường là một dấu hiệu tốt, xong chúng ta cần phải chú ý đến một số khách hàng có khó khăn trong thanh toán có thể họ chỉ thanh toán một khoản nhỏ sau đó không thanh toán số tiền với khối lượng mua lớn chưa được thanh toán.

– Phân tích tỷ số tài chính:

Là phương pháp dựa trên tỷ số tài chính để phân tích một cách tỉ mỉ tình hình kinh doanh và tài chính của khách hàng trong tương lai. Việc phân tích này chủ yếu dựa vào các báo cáo tài chính của khách hàng, các điều luật nhằm xem xét các rủi ro tín dụng của công ty. Những cơ sở phân tích này dựa trên hệ thống các tỷ số tài chính, các thông số tài chính.

– Các chỉ số tín dụng :

Việc phân tích rủi ro tín dụng là công việc hết sức quan trọng vì nó có thể ảnh hưởng đến khả năng hoạt động, sự sống còn của một doanh nghiệp sau này. Do đó cần phải có một kế hoạch và mục tiêu thực hiện công việc một cách cụ thể rõ ràng.

Việc phân tích các chỉ số tín dụng này chủ yếu dựa vào phương pháp phán đoán “5C”.

+ Tư cách tín dụng của khách hàng ( The Customer’s Charater)

+ Khả năng thanh toán của khách hàng (The Customer’s Capacity to pay).

+ Vốn của khách hàng (The Customer’s capital)

+ Thế chấp của khách hàng ( The collateral)

+ Điều kiện kinh doanh của khách hàng (The Condition of The Customer’s Business).

Hỗ trợ cho việc phân tích các chỉ số tín dụng người ta sử dụng hàm chấm điểm Z, để dự phòng và chẩn đoán đánh giá các khó khăn của các doanh nghiệp. Để đánh giá nguy cơ các bảng tài trợ cho ta những thông tin về cơ cấu tài chính, nhu cầu tài trợ của các công ty. Từ đó có thể phân loại các doanh nghiệp thành các nhóm tùy theo xác suất phá sản của chúng lớn hay nhỏ.

6/ Quyết định tín dụng:

Để tiến hành ra quyết định tín dụng chúng ta cần phải thực hiện 3 bước đầu tiên:

– Cố định doanh thu

– Ra quyết định bán hàng theo trương mục mở hay yêu cầu khách hàng ký một hợp đồng tín dụng .

– Tính xác suất thanh toán tiền cho mỗi khách hàng.. Bước kế tiếp ra quyết định về chính sách tín dụng sau khi xem xét đến tất cả các yếu tố.

Tín dụng được chấp nhận nếu lợi nhuận bình quân lớn hơn lợi nhuận từ chối tín dụng .

Một điều cần ghi nhớ khi quyết định tín dụng là:

+ Thứ nhất: Tối đa hóa lợi nhuận.

+ Thứ hai  : Tập trung chú ý vào những chương mục ( tài khoản) nguy hiểm.

+ Thứ ba   : Phải tra cứu kỹ các đơn đặt hàng, các hợp đồng.

7/ Chính sách thu các khoản phải thu:

Một khi thực hiện một chính sách tín dụng thì điều tất yếu phải quan tâm là làm thế nào để giảm các khoản phải thu ở mức thấp nhất và tránh những mất mát ở một mức cho phép có thể chấp nhận được, khách hàng có thể làm cho chúng ta lâm vào tình cảnh và nguy cơ rủi ro về tài chính lớn khi họ cố tình kéo dài khoản nợ hoặc không chịu thanh toán. Điều đó làm cho doanh nghiệp  phát sinh hai khoản chi phí:

– Thứ nhất: Buộc doanh nghiệp phải sử dụng nguồn lực nhiều hơn trong việc thu nợ.

– Thứ hai: Buộc doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn vào tài sản lưu động.

Do đó doanh nghiệp phải đề ra một chính sách thu nợ hợp lý và cần có lịch trình thu nợ cụ thể cũng như các biện pháp đòi nợ có hiệu quả để tránh xảy ra tình trạng xích mích với khách hàng và giảm tỷ lệ mất mát ở mức thấp nhất.

Khi một khách hàng trễ hẹn thanh toán chúng ta có thể xử lý bằng cách gửi báo cáo tài khoản, thư bắt buộc, gọi điện thoại hoặc Fax. Nếu những biện pháp trên không có tác dụng công ty sẽ chuyển khoản thu nợ này cho một đại lý chuyên thu hồi nợ để nhờ thu hộ.

Điều cần lưu ý là việc thu hồi nợ chỉ có ý nghĩa khi chi phí thu hồi nợ thấp hơn khoản nợ phải đòi.

8/ Kiểm soát theo dõi thường xuyên chính sách tín dụng:

Kiểm soát chính sách tín dụng bao gồm các hoạt động tổ chức và quản lý các hoạt động khi triển khai thực hiện một chính sách tín dụng. Nó bao gồm các công việc:

– Thứ nhất: Kiểm tra việc bán tín dụng, đánh giá hiệu quả của việc bán hàng và thu tiền.

– Thứ hai: Kiểm tra khách hàng có thực hiện đúng mục đích kinh doanh và nghĩa vụ thanh toán của mình đối với doanh nghiệp hay không.

– Thứ ba:  Đánh giá hiệu quả chính sách tín dụng đã thực hiện.

Tham khảo thêm các bài viết khác:

Khái niệm việc làm, vai trò của việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế

Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp