Cơ sở lý luận về hình phạt trong đồng phạm

 Nguyễn Thị Thanh    
Cơ sở lý luận về hình phạt trong đồng phạm
5 (100%) 1 vote

Đồng phạm và một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt mà trong đó hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm. Do đó, khi tội phạm được thực hiện bởi đồng phạm thì tội phạm đó thay đổi về chất và mang tính nguy hiểm cao hơn tội phạm riêng lẻ.

Cơ sở lý luận về hình phạt trong đồng phạm

Cơ sở lý luận về hình phạt trong đồng phạm

1. Khái niệm ,các đặc trưng cơ bản và ý nghĩa của đồng phạm

1.1. Khái niệm đồng phạm

Nghiên cứu thực tiễn công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm cho thấy một tội phạm có thể do một hoặc nhiều người thực hiện. Được coi là đồng phạm khi những người phạm tội có chung hành động và cùng cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể. Pháp luật hình sự các nước quan niệm không giống nhau về khái niệm đồng phạm. Điểm qua quy định của một số nước trên thế giới quy định về khái niệm đồng phạm thấy rằng:

Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định về người đồng phạm là người phối hợp với người khác cùng thực hiện một hành vi phạm tội hoặc một người tìm cách xúi giục người khác phạm tội hoặc đề nghị người khác phạm tội. Hình phạt đối với người đồng phạm được quy định nhẹ hơn hình phạt nặng nhất và có thể thấp hơn hình phạt nhẹ nhất áp dụng đối với tội đã hoàn thành (Điều 2 Chương 23).

Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định: “Khi xét xử từng người đồng phạm phải căn cứ vào việc người đó tham gia thực hiện tội phạm do cố ý hay vô ý” {Điều 4 (Chương 23)}. Như vậy, luật hình sự một số nước quan niệm đồng phạm có cả trong những tội phạm thực hiện do lỗi vô ý.

Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định về khái niệm người đồng phạm bao gồm người “đồng chính phạm” và “người xúi giục, người giúp sức“. Theo đó, hai hoặc nhiều người cùng thực hiện một tội phạm đều là những chính phạm (Điều 60). Người xúi giục người khác hoặc xui người xúi giục sẽ bị xử lý như người chính phạm (Điều 61). Người giúp đỡ chính phạm và người xui người giúp đỡ chính phạm là người giúp sức (Điều 62). Hình phạt đối với. người giúp sức được giảm nhẹ hơn so với hình phạt đối với chính phạm (Điều 63). Người xúi giục hoặc giúp sức thực hiện một tội phạm mà đối với tội đó bị xử phạt giam hình sự hoặc bị phạt tiền về tội hình sự nhỏ thì không bị xử phạt, trừ trường hợp có quy định khác (Điều 64).

Bộ luật hình sự Pháp cũng quy định về chính phạm và đồng phạm (tòng phạm). Theo đó, chính phạm là người thực hiện các hành vi bị coi là tội phạm hoặc chuẩn bị thực hiện một trọng tội hoặc khinh tội trong trường hợp luật quy định (Điều 121.4). Người có ý thức giúp đỡ hoặc trợ lực và đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị hoặc thực hiện tội phạm bị coi là đồng phạm của một trọng tội hoặc khinh tội. Người dùng tặng vật, hứa hẹn, đe dọa, dùng mệnh lệnh, lạm dụng chức vụ hoặc quyền hạn để xúi giục hoặc có các chỉ dẫn để cho người khác thực hiện tội phạm cũng bị coi là đồng phạm (Điều 121.7). Người đồng phạm bị phạt như chính phạm (Điều 121.6).

Về các loại người đồng phạm và trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm, Điều 133 Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 quy định: “các loại người đồng phạm gồm người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức“. Bộ luật hình sự Liên bang Nga, giống như Bộ luật hình sự nước ta, quan niệm đồng phạm chỉ có trong các tội phạm cố ý. Điều 32 Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 quy định: “Hai hay nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội cố ý là đồng phạm“.

Vấn đề đồng phạm được luật hình sự Việt Nam quy định từ sớm. Quốc triều hình luật tuy chưa có quy định về khái niệm nhưng cũng đã đề cập đến vấn đề đồng phạm tại một số điều như Điều 35, Điều 36, Điều 116, Điều 411, Điều 412, Điều 454, Điều 469, Điều 539 (1). Các điều trên không quy định về khái niệm đồng phạm mà chỉ quy định về những người đồng phạm, bao gồm: thủ phạm, kẻ chủ mưu, kẻ tòng phạm (người xúi giục, người giúp sức), đồng thời đã có những quy định phân hóa trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Ví dụ, Điều 53 Quốc triều hình luật quy định:

Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng” [28, tr. 53].

Điều 469 Quốc triều hình luật quy định:

Đồng mưu đánh người bị thương thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng là thủ phạm; kẻ chủ mưu cũng phải cùng một tội; còn người tòng phạm thì được giảm một bậc; đánh đến chết thì xem xét chết vì thương tích nào, kẻ đánh thương tích ấy nặng tội. Nếu không xét được rõ ràng thì kẻ hạ thủ sau cùng xử nặng tội. Nếu đánh loạn xạ không biết ai đánh trước sau, nhiều ít thì kẻ chủ mưu nặng tội nhất, còn kẻ khác đều xử giảm tội một bậc [28, tr. 170-171].

Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta đã sử dụng thuật ngữ “cộng phạm” để nói về khái niệm đồng phạm. Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của ngành Tòa án, “coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp cùng tham gia tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội”. Theo quan niệm này, dấu hiệu xác định đồng phạm là hai người trở lên cùng chung ý chí và hành động nhằm đạt kết quả phạm tội.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhằm bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được, bảo vệ trật tự xã hội mới Nhà nước ta đã ban hành một số sắc lệnh về việc trừng trị một số tội phạm trong đó có quy định việc xử lý các trường hợp cộng phạm theo nguyên tắc “Những người tòng phạm hoặc oa trữ những tang vật của các tội phạm cũng bị xử lý như chính phạm” [16].

Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 quy định: “Người phạm tội đưa hối lộ và nhận hối lộ có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là 3/4 tài sản. Những người đồng phạm khác cũng bị xử phạt như trên“.

Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 đã quy định về các loại người đồng phạm và phân hóa trách nhiệm hình sự khá rõ đối với từng người người đồng phạm, tùy thuộc tính chất và mức độ tham gia phạm tội của họ. Điều 2 Pháp lệnh trên quy định nguyên tắc trừng trị bọn phản cách mạng là “nghiêm trị bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, bọn thủ ác, bọn ngoan cố chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những kẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm đường và những kẻ thật thà hối cải, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt cho những kẻ lập công chuộc tội“.

Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng đã phân hóa trách nhiệm hình sự của các loại người: chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, xúi giục, người hoạt động đắc lực, người tham gia, giúp đỡ. Ví dụ, Điều 6 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng khi đề cập tội xâm phạm an ninh lãnh thổ đã quy định:

Kẻ nào xâm nhập lãnh thổ, phá hoại an ninh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì bị xử phạt như sau:

  1. a)   Bọn cầm đầu, chỉ huy, bọn có tội ác nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình;
  2. b)   Bọn tham gia thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm;
  3. c)   Kẻ nào tiếp tế, chỉ đường, giúp đỡ cho bọn nói trên hoạt động thì bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm [39].

Trong các pháp lệnh được ban hành dù vẫn chưa đưa ra khái niệm về đồng phạm nhưng nhận thức và quy định về đồng phạm đã có bước tiến bộ đáng kể. Đáng chú ý nhất là các văn bản nêu trên đã nêu nguyên tắc xử lý: khi xét xử cần phân biệt giữa các hình thức đồng phạm khác nhau, phân biệt giữa hành vi “oa trữ” tức là hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do chiếm đoạt được mà có là cộng phạm (nếu có hứa hẹn trước) với hành vi “oa trữ” không là cộng phạm mà là một hành vi phạm tội riêng biệt (nếu không có hứa hẹn trước). Tòa án nhân dân tối cao đã có một số văn bản hướng dẫn khái niệm về cộng phạm đối với một số tội phạm cụ thể [31, tr. 29-32].

Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 thì chưa có một căn bản pháp luật hình sự nào quy định thống nhất về khái niệm cộng phạm đối với tội phạm nói chung. Để có cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xử lý về hình sự đối với những trường hợp nhiều người có ý cùng thực hiện một tội phạm, Bộ luật hình sự đã có điều luật riêng quy định về đồng phạm. Khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 quy định đồng phạm là trường hợp “có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm đồng phạm như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của hai người trở lên” [10, tr. 458].

Điều 20 Bộ luật hình sự nước ta quy định khái niệm đồng phạm ngay tại khoản 1, sau đó mới quy định các loại người đồng phạm tại khoản 2. Như vậy, để được coi là người đồng phạm với vai trò là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thì trước hết những người này phải thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm tại khoản 1, nghĩa là phải thỏa mãn dấu hiệu hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Quan điểm phổ biến trong lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự hiện nay cho rằng, để được coi là “cố ý cùng thực hiện một tội phạm” trong vụ đồng phạm thì ngoài việc mỗi người tham gia vào việc phạm tội phải có lỗi cố ý, ít nhất họ còn phải nhận thức được sự cố ý tham gia vào việc phạm tội của người thứ hai cùng với mình để thực hiện một tội phạm. Xuất phát từ quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự và từ quan điểm phổ biến trên, nảy sinh vấn đề là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người khác thực hiện tội phạm nhưng không thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm, ngoài một số điều luật quy định trách nhiệm hình sự riêng đối với những người này thì lại không có cơ sở để truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ. Ví dụ, vì những động cơ cá nhân nào đó mà một người xúi giục

người khác phạm một tội cụ thể, sau đó lại đi báo với cơ quan cơ thẩm quyền bắt giữ người đó hoặc một người giúp sức cho người khác thực hiện tội phạm những người được giúp sức (người trực tiếp thực hiện tội phạm) lại không nhận biết được sự giúp sức đó. Trong những trường hợp này, theo lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta thì không có quan hệ đồng phạm vì không có sự cùng cố ý giữa người xúi giục hoặc giúp sức với người trực tiếp thực hiện tội phạm. Vậy thì người xúi giục và người giúp sức trong trường hợp này có phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập không? Bộ luật hình sự nước ta chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm hình sự của người xúi giục hay giúp sức người khác phạm tội nhưng không đồng phạm với người đó (trừ một số trường hợp hành vi xúi giục đã được xây dựng thành cấu thành tội phạm độc lập). Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, trong trường hợp người xúi giục hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm nhưng không thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành

vi xúi giục hoặc giúp sức thực hiện tội phạm. Tên tội danh trong trường hợp này có thể là tập hợp từ xúi giục hoặc giúp sức với từ chỉ tên tội mà người đó xúi giục hoặc giúp sức. Điều luật viện dẫn cho trường hợp này sẽ là điều luật xác định tội mà người đó xúi giục hoặc giúp sức cùng điều luật quy định về người xúi giục hoặc giúp sức.

Quan điểm này có yếu tố hợp lý là phản ánh được bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi xúi giục và hành vi giúp sức trong trường hợp những hành vi này không đồng phạm và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội đáng kể bằng các biện pháp xử lý hình sự. Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập, theo cách diễn đạt tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự thì hành vi xúi giục và giúp sức chỉ là hành vi xúi giục, giúp sức với tính cách là hành vi đồng phạm, khi đã thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm tại khoản 1 điều này. Vì vậy, việc viện dẫn quy định tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự để áp dụng cho người có hành vi xúi giục hoặc giúp

sức người khác thực hiện tội phạm, nhưng không đồng phạm để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự hay quyết định hình phạt của người đó cần được cân nhắc thêm.

1.2. Đặc trưng cơ bản của đồng phạm

Theo nội dung khái niệm về đồng phạm quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999, tội phạm được coi là đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu đặc trưng và bắt buộc sau:

1.2.1. Những dấu hiệu khách quan

Thứ nhất, có sự tham gia của hai người trở lên thực hiện một tội phạm. Đây là dấu hiệu bắt buộc thuộc về mặt khách quan của đồng phạm, nếu thiếu về số lượng người tham gia thực hiện một tội phạm thì sẽ không có cầu thành đồng phạm. Tội phạm do một người thực hiện chỉ là trường hợp phạm tội riêng lẻ, cấu thành tội phạm độc lập, hậu quả phạm tội là do hành động và ý  chí của một người gây ra. Chỉ khi có từ hai người trở lên tham gia thực hiện tội phạm thì mới có sự bàn bạc và cùng nhau hành động [6, tr. 218].

Trong đồng phạm, những người tham gia thực hiện tội phạm đều phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm, tức là họ phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ tuổi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Riêng đối với người thực hành còn phải có thêm dấu hiệu của chủ thể đặc biệt nếu cấu thành tội phạm của tội mà cả bọn cùng tham gia thực hiện đòi hỏi. Nếu trong một vụ án có nhiều người tham gia thực hiện nhưng chỉ có một người tham gia thỏa mãn các điều kiện về chủ thể thì vụ án đó không có đồng phạm [30, tr. 16]. Ngoài ra, mỗi người đều phải có hành vi tham gia vào tội phạm. Những hành vi   này có thể là hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục hoặc là hành vi giúp sức. Nếu không có một trong những loại hành vi này thì không thể coi là cùng tham gia thực hiện một tội phạm, như vậy cũng không thể coi là người đồng phạm được.

Trong đồng phạm đòi hỏi mỗi người đều phải có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm và những hành vi này phải có tính chất nguy hiểm đang kể cho xã hội được coi là tội phạm. Khi có nhiều người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm, không phải mọi người đều tham gia như nhau mà có người tham gia ít, có người tham gia nhiều, có sự tham gia của họ có tính chất quyết định đến hoạt động tội phạm chung, hậu quả phạm tội chung nhưng có hành vi của họ chỉ có tác động nhỏ, về hình thức hành vi của người này cũng là hành vi đồng phạm nhưng vì tác động thực tế của nó là nhỏ nhặt, tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên không coi là hành vi đồng phạm, không là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác (khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự).

Thứ hai, có sự cùng chung hành động của người tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Cùng tham gia thực hiện tội phạm có nghĩa là trong đồng phạm, mỗi người phải có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc là hành vi trực tiếp thực hiện hoặc là hành vi tổ chức hoặc là hành vi xúi giục hoặc là hành vi giúp sức. Những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể của họ được thực hiện trong mối liên kết thống nhất, qua lại lẫn nhau.

Hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung và là điều kiện cho hành vi của người khác, có ảnh hưởng tác động đến hành vi đó, làm cho nó thay đổi về chất, có hiệu quả hơn. Hành vi của mỗi người là một khâu cần thiết cho hoạt động tội phạm của cả bọn “nhằm thực hiện một tội phạm nhất định và để đạt được một kết quả phạm tội thống nhất” [29, tr. 196]. Hậu quả của tội phạm là là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người cùng tham gia thực hiện tội phạm mang lại. Hành vi của người thực hành là nguyên nhận trực tiếp làm phát sinh hậu quả chung, còn hành vi của người khác thông qua hành vi của người thực hành mà gây ra hậu quả đó. Những hành vi của người tổ chức, người xúi giục bao giờ cũng phải xảy ra trước hành vi của người thực hành. Còn hành vi của người giúp sức có thể xảy ra trước hoặc đồng thời với hành vi   phạm tội của người thực hành nhưng không khi nào xảy ra sau khi hành vi của người thực hành đã kết thúc [6, tr. 220].

1.2.2. Những dấu hiệu chủ quan

Thứ nhất, có sự cùng cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm. Nếu thiếu dấu hiệu này thì mặc dù hành vi của những người phạm tội thỏa mãn dấu hiệu khách quan ở trên cũng sẽ không có đồng phạm mà chỉ là hình thực nhiều người cùng phạm một tội [30, tr. 23]. Trong cuốn “Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong luật hình sự Việt Nam” tác giả Nguyễn Niên cho rằng: “Sự cùng cố ý phạm tội làm cho ý chí của những người đồng phạm được thống nhất với nhau và hành động phạm tội của mỗi người đều thống nhất trong sự chi phối chung của sự cùng cố ý thực hiện một tội phạm” [19, tr. 149]. Sự cùng cố ý trong đồng phạm phải được thể hiện ở hai mặt lý trí và ý chí. Mỗi người đồng phạm trong việc thực hiện tội phạm đều biết được hoạt động phạm tội của nhau; đều ý thức được rằng, bằng hành vi phạm tội của mình cùng với những hành vi phạm tội của những người khác, mình đã phạm tội hoặc góp phần thực hiện tội phạm. Tuy nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội nhưng những người đồng phạm vẫn thực hiện vì mong muốn có hoạt động phạm tội chung và mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Theo luật hình sự Việt Nam thì đồng phạm chỉ đặt ra đối với những trường hợp cùng phạm tội cố ý. Ở những tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý, người phạm tội không có ý định phạm tội, không có sự bàn bạc thỏa thuận cùng nhau thực hiện tội phạm, không mong muốn hoặc không bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, giữa họ không có sự cùng cố ý nên trong trường hợp này không có đồng phạm xảy ra. Mỗi người phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi vô ý phạm tội của mình [6, tr. 222].

Thứ hai, có mục đích trong đồng phạm. Với những tội phạm luật hình sự quy định mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì những người đồng phạm phải có mục đích phạm tội đó. Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích phạm tội thì sẽ không có đồng phạm. Đối với những tội phạm mà mục đích và động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì khi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, những người đồng phạm có thể có những mục đích và động cơ khác nhau.

1.3. Ý nghĩa của khái niệm đồng phạm

Chế định đồng phạm nói chung và khái niệm đồng phạm nói riêng lần đầu tiên được quy định trong luật hình sự của nước ta có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta.

Về mặt lý luận, khái niệm đồng phạm được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 để từ đó xác định các quy phạm khác của chế định đồng phạm về những loại người đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm trong đồng phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm; là cơ sở lý luận cho việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề khác mang tính đặc thù đối với đồng phạm như các giai đoạn thực hiện tội phạm, các hình thức đồng phạm, tổ chức phạm tội… Khái niệm đồng phạm cùng với cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý để phân biệt những hành vi đồng phạm với những hành vi   liên quan đến tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự những người đồng phạm. Việc nhận thức đúng đắn khái niệm đồng phạm và xác định chính xác đồng phạm trong thực tiễn xét xử là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc xử lý được quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm xử lý đúng người, đúng tội, không kết tội oan và không bỏ lọt tội phạm. Như vậy, khái niệm đồng phạm có ý nghĩa thống nhất về mặt nhận thức trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử.

Bên cạnh những ý nghĩa nói trên, khái niệm đồng phạm còn có ý nghĩa trong việc xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của đồng phạm khi so sánh với các hình thức phạm tội khác như hình thức phạm tội riêng lẻ, hình thức phạm tội do nhiều người thực hiện nhưng không có đồng phạm. Việc xác định đúng đắn các dấu hiệu của đồng phạm và các loại người đồng phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đã xảy ra trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng sai lầm trong việc xác định đồng phạm, dẫn đến việc truy tố, xét xử không đúng quy định của pháp luật.

Trong mối quan hệ với luật tố tụng hình sự, khái niệm đồng phạm có ý nghĩa là một trong những cơ sở để thực hiện nhiều chế định của luật tố tụng hình sự như chế định chứng cứ (xác định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ), chế định vật chứng…

Ngoài ra, khái niệm đồng phạm còn có ý nghĩa là cơ sở cho một số ngành khoa học pháp lý có liên quan đến khoa học luật hình sự như tội phạm học, tâm lý học tư pháp… trong khi nghiên cứu các vấn đề về tội phạm có tổ chức, tội phạm trong vị thành niên, vấn đề đồng phạm dưới góc độ tâm lý học để đề xuất những biện pháp phòng, chống tội phạm có hiệu quả thiết thực hơn [30, tr. 35].

2. Những loại người đồng phạm

Trong việc thực hiện tội phạm của mình, hành vi của những người đồng phạm không hoàn toàn giống nhau mà vai trò, tình chất và mức độ tham gia phạm tội của họ là khác nhau.

Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự ở nước ra cũng như các nước trên thế giới, chúng ta thấy, khái niệm người đồng phạm chưa được chú ý đúng mức mà chỉ chú ý đến từng loại người đồng phạm cụ thể. Ví dụ: Quốc triều hình luật không có quy phạm định nghĩa về người đồng phạm mà chỉ có quy định về người đồng phạm là thủ phạm, chủ mưu, kẻ tòng phạm. Các văn bản pháp luật hình sự do Nhà nước ta ban hành từ sau Cách mạng tháng tám cho đến trước thời điểm Bộ luật hình sự của nước ta ra đời cũng không đưa ra khái niệm về người đồng phạm mà chỉ có quy định lúc đầu là chính phạm, tòng phạm, sau là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, người xúi giục, người tham gia, người giúp sức. Để có khái niệm đúng đắn về người đồng phạm, chúng ta phải xuất phát từ khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ bản của chế định đồng phạm. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm chung về người đồng phạm như sau: “Người đồng phạm là người cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với người khác [30, tr. 37].

Như vậy, người đồng phạm không những phải thỏa mãn các điều kiện của chủ thể tội phạm, mà còn phải thỏa mãn dấu hiệu cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm với người khác. Căn cứ vào thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 đã chia những người đồng phạm thành bốn loại, bao gồm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức “Cơ sở để phân biệt các loại người đồng phạm là tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm” [29, tr. 181]. Nhìn chung, những đặc điểm chủ quan ở những người đồng phạm là giống nhau, vì vậy những đặc điểm thuộc phương diện khách quan trở thành tiêu chuẩn cơ bản phân biệt những loại người đồng phạm.

2.1. Người thực hành

Trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, người thực hành đã được đề cập đến với những tên gọi khác nhau: thủ phạm, thủ, chánh yếu phạm. Trong các văn bản pháp luật hình sự do Nhà nước ta ban hành trước khi có Bộ luật hình sự cũng đã có những cách gọi khác nhau đó là: các sắc lệnh ban hành ngay sau khi Cách mạng tháng 8 gọi là chính phạm, đồng phạm, đến Pháp lệnh ngày 30-12-1967 trừng trị các tội phản cách mạng thì gọi là bọn tham gia. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật hình sự trên mới chỉ quy định tên của loại người đồng phạm này mà chưa có quy phạm định nghĩa thế nào là người thực hành. Bộ luật hình sự của nhiều nước trên thế giới như Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển… cũng không có quy phạm định nghĩa về người thực hành nằm trong khái niệm chính phạm bao gồm người tổ chức, chỉ huy các hoạt động phạm tội hoặc giữ vai trò chính trong đồng phạm. Một số nước như Liên bang Nga, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ có quy phạm định nghĩa về người thực hành. Đặc biệt là Bộ luật hình sự Liên bang Nga có quy phạm định nghĩa về người thực hành khá chi tiết:

Người thực hành là người trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm với những người khác (những người đồng thực hành) cũng như người thực hiện tội phạm bằng cách sử dụng những người khác mà những người này không phải chịu trách nhiệm hình sự do độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự hoặc những tình tiết khác do bộ luật này quy định [Dẫn theo 30, tr. 38-39]. Bộ luật hình sự năm 1999 tại khoản 2 Điều 20 quy định: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”. Trong lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng luật hình sự, người trực tiếp thực hiện tội phạm được hiểu ở hai dạng sau:

  Dạng thứ nhất: đó là những người tự mình trực tiếp thực hiện hành vi   nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể. Trong thực tiễn xét xử của Tòa án, dạng người thực hành này thường hay gặp nhất. Người phạm tội có thể trực tiếp sử dụng công cụ, phương tiện nhưng cũng có thể không sử dụng công cụ, phương tiện để phạm tội.

Trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, có những trường hợp người thực hành thực hiện trọn vẹn các dấu hiệu của một hành vi phạm tội cụ thể. Đối với những tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt, ví dụ như: “tội hiếp dâm”, “tôi tham ô tài sản”… thì người thực hành (hoặc những người thực hành phải có đầy đủ dấu hiện của chủ thể đặc biệt. Còn những người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức không cần có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt [6, tr. 223].

  Dạng thứ hai: đó là những người không trực tiếp thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng lợi dụng hoặc sử dụng người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Xét về hình thức, người bị sử dụng hay bị lợi dụng đã thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng xét về bản chất thì họ không có lỗi mà hậu quả ấy do người đã sử dụng, lợi dụng họ gây ra hoặc họ có lỗi vô ý. Vì vậy, người bị sử dụng vào việc phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người sử dụng, lợi dụng họ gây ra hoặc họ có lỗi vô ý. Vì vậy, người bị sử dụng vào việc phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người sử dụng, lợi dụng họ.

Trong thực tiễn xét xử có thể xảy ra các trường hợp sau:

  Sử dụng người không có năng lực nhận thức, người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

  Sử dụng người không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý vì bị sai lầm về những tình tiết khách quan của tội phạm.

  Sử dụng người khác gây thiệt hại bằng việc cưỡng bức, uy hiếp về tính mạng, sức khỏe hoặc về tinh thần ở mức độ cao nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội [30, tr. 40].

Đối với những tội phạm đòi hỏi chủ thể phải trực tiếp thực hiện như tội hiếp dâm, tội loạn luân… thì người thực hành không thể là người sử dụng hoặc lợi dụng người khác để những người này thực hiện hành vi khách quan đó được mà chỉ có người thực hành ở dạng thứ nhất.

Hành vi của người thực hành giữ vị trí trung tâm trong một vụ án đồng phạm vì khi giải quyết trách nhiệm hình sự đối với người đồng phạm như định tội danh, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quyết định hình phạt.

Khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự quy định: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”. Lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta đã thừa nhận người thực hành (hoặc người thực hiện tội phạm nói chung) không chỉ là người trực tiếp thực hiện tội phạm mà còn là người trực tiếp tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với những người khác (có thể họ chỉ thực hiện một phần trong chuỗi hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm). Người thực hành cũng có thể là người sử dụng người khác như một phương tiện để thực hiện ý định phạm tội của mình. dụ, sử dụng người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người không có năng lực trách nhiệm hình sự, người không nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, người bị cưỡng bức về tinh thần đến mức không có điều kiện lựa chọn quyết định thực hiện hành vi theo ý muốn của mình v.v. Rõ ràng, khái niệm người thực hành quy định tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự chưa thể hiện hết các dạng người thực hành trên. Do vậy, khái niệm này cần được mô tả cụ thể, chi tiết hơn theo hướng Bộ luật hình sự không quy định khái niệm đồng phạm mà chỉ quy định khái niệm người thực hiện tội phạm (người thực hành) và các loại người tổ chức thực hiện tội phạm, người xúi giục thực hiện tội phạm, người giúp sức thực hiện tội phạm. Sau đó quy định người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thực hiện tội phạm (có thể là người đồng phạm hoặc không phải đồng phạm theo quy định hiện hành) phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều luật tương ứng Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, nghĩa là điều luật quy định về trách nhiệm hình sự của người thực hiện tội phạm, đồng thời có viện dẫn quy định về người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức thực hiện tội phạm.

2.2. Người tổ chức

Người tổ chức được đề cập đầu tiên trong Quốc triều hình luật với các tên gọi người khởi xướng, người đứng đầu, kẻ chủ mưu, trong đó nguyên tắc trừng trị người tổ chức được đặt ra là: “kẻ chủ mưu nặng tội nhất, còn kẻ khác đều xử giảm một bậc“.

Các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước ta được ban hành sau Cách mạng tháng Tám [31, tr. 260, 193] cho đến khi Bộ luật hình sự ra đời, cũng như các bộ luật trên đều không có quy phạm định nghĩa về người tổ chức. Các văn bản này chỉ quy định về người tổ chức với các tên gọi chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, chỉ huy.

Luật hình sự của nhiều nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Bỉ, Vương quốc Thụy điển, Vương quốc Nhật Bản… đều không đề cập khái niệm người tổ chức. Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định về người tổ chức như sau: “Người tổ chức là người tổ chức hoặc lãnh đạo việc thực hiện tội phạm hay là người thành lập, lãnh đạo tổ chức phạm tội hoặc cộng đồng phạm tội“.Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 thì:

người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm“.

 Người chủ mưu: là người chủ động về mặt tinh thần gây ra tội phạm, có sáng kiến thành lập các băng, nhóm tội phạm, đề xuất những âm mưu và vạch ra đường lối, phương hướng hoạt động chung cho tổ chức, kích động, thúc đẩy đồng bọn hoạt động.

  Người cầm đầu: là người đứng ra thành lập các băng, ổ, nhóm tội phạm, hoặc tham gia soạn thảo kế hoạch, phương hướng chính cho tổ chức phát triển và hoạt động hoặc các kế hoạch để thực hiện tội phạm.

  Người chỉ huy: là người giữ vai trò trực tiếp điều khiển việc thực hiện tội phạm cụ thể của đồng bọn trong băng, ổ nhóm phạm tội; trực tiếp đôn đốc đồng bọn làm theo mệnh lệnh của mình hay theo kế hoạch phạm tội đã định sẵn.

Những vai trò trên có thể do những người phạm tội khác nhau đảm nhận, nhưng cũng thể chi do một người nắm giữ. Người tổ chức là người giữ vai trò tổ chức thực hiện một tội phạm cụ thể hoặc thành lập băng, nhóm phạm tội hoặc một tổ chức phạm tội có cơ cấu phối hợp chặt chẽ sẽ là điều kiện hoạt động của đồng bọn trong tổ chức nên hành vi phạm tội của người tổ chức nguy hiểm nhất trong vụ đồng phạm. Vì vậy, đoạn 2 khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự quy định nguyên tắc xử lý là “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy…”

2.3. Người xúi giục

Các bộ luật trước đây như Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ dù chưa có quy phạm định nghĩa nhưng đều đề cập người xúi giục. Điều 21 Hoàng Việt luật lệ quy định: “90 tuổi trở lên, 07 tuổi trở xuống, dù có phạm tội chết cũng không phải chịu tội phạm nào. Có ai xúi giục thì bắt tội người ấy“.

Sau Cách mạng tháng 8, sắc lệnh của Nhà nước ta cũng không đề cập gì đến người xúi giục. Tuy nhiên, tại Hội nghị tổng kết công tác ngành tòa án năm 1968, Tòa án nhân dân tối cao đưa ra khái niệm “người xúi giục” như sau: “kẻ xúi giục là kẻ biết có tổ chức phản cách mạng, hưởng ứng mục đích của tổ chức phản cách mạng, không biết hoặc không biết đầy đủ về toàn bộ tổ chức phản cách mạng…” [31, tr. 30-31]

Luật hình sự của nhiều nước trên thế giới như Cộng hòa liên bang Đức, Vương quốc Bỉ, Vương quốc Nhật Bản… có quy phạm định nghĩa về người xúi giục. Bộ luật hình sự Vương quốc Nhật Bản đưa ra khái niệm về người xúi giục như sau: “Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm sẽ bị xử lý như người chính phạm” [Dẫn theo 30, tr. 52].

Khoản 2 Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm“. Xúi giục là hành vi tác động đến tư tưởng người khác, làm xuất hiện ý thức phạm tội và thúc đẩy thực hiện ý định đó. Người xúi giục là người nghĩ ra việc phạm tội và thúc đẩy cho tội phạm đó được thực hiện thông qua người khác. Người xúi giục đã có hành vi tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác khiến người này từ chỗ chưa có ý định phạm tội đến chỗ nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện ý định đó. Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm thể hiện rất đa dạng như mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ, lừa phỉnh, đe dọa… nhưng khái quát lại chỉ có hai phương thức thực hiện đó là: thuyết phục và bắt buộc.

Phương thức thuyết phục tức là dùng lý lẽ, vật chất để người khác tin theo mà thực hiện tội phạm, như cho tiền, quà tặng, dụ dỗ, lừa phỉnh.

Phương thức bắt buộc tức là buộc người khác phải chất nhận thực hiện tội phạm như đe dọa, cưỡng ép, khống chế. Việc lựa chọn phương thức nào phụ thuộc vào bản chất của người xúi giục và mối quan hệ của người xúi giục và người bị xúi giục.

Hành vi xúi giục phải trực tiếp, cụ thể. Nghĩa là người xúi giục phải trực tiếp nhằm vào một hoặc một số người cụ thể và phải nhằm gây ra việc thực hiện một tội phạm cụ thể. Hành vi xúi giục được thực hiện bằng lỗi cố ý. Người xúi giục nhận thức được hành vi xúi giục của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hậu quả của hành vi ấy nhưng vẫn thực hiện vì mong muốn người bị xúi giục thực hiện tội phạm.

Hành vi xúi giục có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau phụ thuộc vào bản chất của người xúi giục, người bị xúi giục cũng như mối quan hệ giữa họ với nhau.

Xúi giục người có nhân thân xấu, có tiền án, tiền sự phạm tội khác với trường hợp xúi giục người có nhân thân tốt. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, sự nhẹ dạ của những người vị thành niên để thúc đẩy, xúi giục họ phạm tội là trường hợp có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội. Giữa hành vi của người xúi giục và hành vi của người bị xúi giục có mối quan hệ nhân quả. Hành vi xúi giục là nguyên nhân dẫn đến tội phạm do người bị xúi giục thực hiện, còn hành vi phạm tội của người bị xúi giục là mục đích và là kết quả của hành vi xúi giục. Thực tiễn xét xử cho thấy người xúi giục có thể hoặc không cùng trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm với người bị xúi giục.

Với những tội phạm luật hình sự quy định động cơ, mục đích là động cơ bắt buộc trong cấu thành tội phạm, để thỏa mãn điều kiện của đồng phạm, người xúi giục và người bị xúi giục phải có cùng động cơ, mục đích phạm tội. Còn trong những trường hợp khác, người xúi giục và người bị xúi giục có thể có động cơ và mục đích khác nhau.

Lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng hình sự nước ta cũng đã thừa nhận trường hợp một người xúi giục người khác phạm tội nhưng sự xúi giục không có kết quả, người bị xúi giục không nghe theo thì chỉ riêng người xúi giục phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã xúi giục. Nếu một người đã giúp sức người khác thực hiện một tội phạm nhưng người này đã không thực hiện tội phạm đó, hoặc không sử dụng sự giúp sức thì người giúp sức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã xúi giục [41, tr. 40]. Trong trường hợp này, vẫn giữ nguyên trình tự và nội dung quy định tại khoản 1 và 2 Điều 20 Bộ luật hình sự hiện hành nhưng tại khoản 2 điều luật này, sau khi quy định khái niệm các loại người đồng phạm, cần bổ sung một đoạn theo hướng: trong trường hợp người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thực hiện tội phạm không phải là người đồng phạm thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành

vi tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức thực hiện tội phạm của mình theo điều luật tương ứng Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự về tội phạm mà người đó tổ chức, xúi giục hay giúp sức và viện dẫn điều khoản quy định về người tổ chức, người xúi giục hoặc giúp sức thực hiện tội phạm.

2.4. Người giúp sức

Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, các bộ luật như Quốc Triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ, đều chưa đưa ra khái niệm người giúp sức. Hoàng Việt hình luật có khái niệm về người giúp sức nhưng nội hàm của khái niệm này rộng bao gồm cả những hành vi liên quan đến tội phạm như che giấu tội phạm, không tố giác tội phạm.

Sau Cách mạng tháng 8, những văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước ta có đề cập đến người giúp sức với thuật ngữ tòng phạm song cũng không có quy phạm định nghĩa về loại người đồng phạm này. Tuy nhiên, khái niệm giúp sức lại được nêu ra trong sách báo pháp lý: “Người giúp sức là những người có hành vi giúp đỡ cho việc thực hiện tội phạm của những kẻ đồng phạm khác được dễ dàng”.

Bộ luật hình sự năm 1999 tại khoản 2 Điều 20 quy định: “Người giúp sức là người tạo ra những điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm”.

Theo định nghĩa nêu trên thì người giúp sức chỉ là người tạo ra những điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho người thực hành thực hiện tội phạm chứ người giúp sức không trực tiếp thực hiện tội phạm. Hành vi giúp sức thường được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động; có thể được thực hiện trước hoặc trong khi tội phạm đang xảy ra. Dựa vào những dấu hiệu khách quan, hành vi giúp sức được chia làm hai loại: giúp sức về vật chất và giúp sức về tinh thần.

Giúp sức về vật chất: là cung cấp công cụ, phương tiện để sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, giúp sức về kỹ thuật, giúp đỡ bằng chân, tay, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường, che giấu người phạm tội, xóa các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc tạo ra những điều kiện vật chất cần thiết khác để người thực hành thực hiện tội phạm dễ dàng, thuận lợi.

Giúp sức về tinh thần: là những hành vi tạo những điều kiện thuận lợi cho người thực hành thực hiện tội phạm nhưng không mang tính chất như chỉ dẫn, góp ý, cung cấp thông tin liên quan đến thực hiện tội phạm; hứa hẹn trước sẽ che giấu người phạm tội che giấu các công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tiêu thụ các vật có được bằng việc thực hiện tội phạm [30, tr. 60]

Hành vi giúp sức khác hành vi xúi giục ở chỗ nó làm cho người thực hành đã có ý định phạm tội quyết tâm thực hiện tội phạm, còn hành vi xúi giục tác động mạnh đến tư tưởng, ý chí của người bị xúi giục (người thực hành) làm cho người này nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện ý định đó. Phạm vi trách nhiệm hình sự của người giúp sức được giới hạn bởi giai đoạn phạm tội mà người thực hành đạt được [6, tr. 228].

Hành vi giúp sức khác hành vi xúi giục ở chỗ nó làm cho người thực hành đã có ý định phạm tội quyết tâm thực hiện tội phạm, còn hành vi xúi giục tác động mạnh đến tư tưởng, ý chí của người bị xúi giục (người thực hành) làm cho người này nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện ý định đó. Phạm vi trách nhiệm hình sự của người giúp sức được giới hạn bởi giai đoạn phạm tội mà người thực hành đạt được [5, tr. 131].

3. Các hình thức đồng phạm

Khoa học luật hình sự Việt Nam căn cứ vào những đặc điểm của mối quan hệ giữa những người đồng phạm về mặt chủ quan và khách quan để phân loại các hình thức đồng phạm.

  Căn cứ vào dấu hiệu khách quan, hình thức đồng phạm được chia thành hai loại: đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp.

Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong đó những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều có vai trò là người thực hành. Những người đồng phạm không có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo. Trong trường hợp này, mỗi người đồng phạm đều thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm của điều luật thuộc phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Dấu hiệu cơ bản để phân biệt đồng phạm giản đơn với đồng phạm có một người thực hành là mỗi người thực hành có thể thực hiện một phần hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, nhưng tổng hợp hành vi của những người đồng phạm thỏa mãn dấu hiệu khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm thì tội phạm do những người đồng thực hành thực hiện vẫn được coi là tội phạm hoàn thành, đặc điểm này để phân biệt với hình thức đồng phạm chỉ có một người thực hành. Đồng phạm giản đơn còn có đặc điểm đặc trưng là thời gian, địa điểm phạm tội của những người đồng thực hành trùng hợp nhau. Khi định tội danh đối với hành vi của những người đồng phạm ở hình thức đồng phạm đồng thực hành, ta căn cứ vào điều luật tương ứng thuộc phần các tội phạm của Bộ luật hình sự mà không cần viện dẫn điều luật quy định đồng phạm thuộc phần chung của Bộ luật hình sự.

Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm có sự phân công vai trò của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của những người đồng phạm không những khác nhau ở nội dung phạm tội và hình thức phạm tội mà còn khác nhau về thời gian, địa điểm phạm tội. Phần lớn các hình thức đồng phạm có thông mưu trước, bởi vì hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức thường được tiến hành trước thời điểm người thực hành thực hiện hành vi phạm tội. Sự thỏa thuận giữa những người đồng phạm

hình thức đồng phạm này có thể trước thời điểm thực hiện tội phạm một thời gian dài, cũng có thể ngay trước thời điểm thực hiện tội phạm. Sự khác nhau cơ bản giữa đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp ở chỗ đồng phạm phức tạp thì chỉ có một người hoặc một số người đồng phạm thực hiện hành vi trong cấu thành tội phạm trong khi đó, ở đồng phạm giản đơn thì tất cả những người đồng phạm đều thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm; đồng phạm phức tạp có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn đồng phạm giản đơn.

  Căn cứ vào dấu hiệu chủ quan, chia các hình thức đồng phạm thành đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước:

Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó không có sự thỏa thuận, bàn bạc với nhau trước giữa những người đồng phạm hoặc có sự bàn bạc, thỏa thuận với nhau trước nhưng không đáng kể. Ở hình thức đồng phạm này, mối liên hệ về mặt chủ quan giữa những người đồng phạm ở mức thấp nhất, chỉ giới hạn ở mặt nhận thức của một người đồng phạm tham gia hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác thường là vào thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm hoặc trong quá trình thực hiện tội phạm. Lý do không cho những người đồng phạm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, phối hợp chặt chẽ với nhau cũng như áp dụng các biện pháp che giấu, phối hợp chặt chẽ với nhau cũng như áp dụng các biện pháp che giấu, xóa dấu vết của tội phạm như ở đồng phạm có thông mưu trước.

Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm có sự thỏa thuận, bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện trước khi hoạt động tội phạm. Thực tiễn cho thấy đồng phạm có thông mưu trước có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn so với hình thức đồng phạm không có thông mưu trước. Sự thông mưu trước cũng có thể rất chi tiết, cụ thể, nói lên mức độ phối hợp cao giữa những người đồng phạm trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm. Cũng có thể có những trường hợp, những người đồng phạm không chỉ thỏa thuận, bàn bạc trước về một tội phạm mà còn có thể về một số tội phạm cùng thực hiện, có kế hoạch chi tiết thực hiện từng tội phạm cụ thể. Cách thức trao đổi, thỏa thuận giữa những người đồng phạm có thể bằng lời nói, thư từ hoặc các tín hiệu riêng.

  Căn cứ vào những đặc điểm về mặt khách quan và chủ quan, đồng phạm được chia thành hai loại: đồng phạm có tổ chức và đồng phạm thường.

Đồng phạm có tổ chức là hình thức phạm tội có sự câu kết chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc của các thành viên cùng một tổ chức tội phạm [5, tr. 131].

Đồng phạm thường là hình thức đồng phạm không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm.

*  Phạm tội có tổ chức

Trong các hình thức đồng phạm có thông mưu trước thì phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt. Các văn bản pháp luật hình sự trước đây của nước ta [31, tr. 326; 9; 453] tuy có đề cập phạm tội có tổ chức nhưng đều chưa có quy định về khái niệm của hình thức này. Trong các văn bản đó, phạm tội có tổ chức mới chỉ được quy định là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt.

Hình thức phạm tội có tổ chức được quy định trong luật hình sự một số nước như Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ, Liên bang Nga, Malaysia… với các tên gọi và quan niệm khác nhau: băng có tổ chức, cướp có băng nhóm, nhóm có tổ chức [30, tr. 89-90].

Khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm“. Tình tiết phạm tội có tổ chức không những là tình tiết tăng nặng quy định ở Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 mà còn là tình tiết định khung hình phạt tại nhiều điều luật. Ngoài ra, Bộ luật hình sự còn quy định những trường hợp tổ chức thực hiện tội phạm thành những tội danh riêng biệt. Ví dụ: Điều 275 “Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc   lại nước ngoài trái phép“; Điều 148 “Tổ chức tảo hôn“; Điều 248 “Tổ chức đánh bạc” v.v.

Giống như các hình thức đồng phạm khác, phạm tội có tổ chức phải có từ hai người trở lên cố ý cùng tham gia tội phạm và có sự thống nhất ý chí của những người cùng thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, đặc điểm chủ yếu nhất nói lên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cao hơn cả của hình thức đồng phạm này là sự cấu kết chặt chẽ thể hiện cả ở mặt khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, trước khi phạm tội thường đã hình thành một tổ chức tội phạm với các quy mô khác nhau (lớn, nhỏ) của những người đồng phạm. Tổ chức tội phạm đó thường tồn tại trong một khoảng thời gian dài nhằm thực hiện nhiều tội phạm hay phạm tội nhiều lần và là các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, có sự thỏa thuận, bàn bạc trước và phân công vai trò đã hình thành nên mối quan hệ và sự thống nhất hành động của họ chặt chẽ và bền vững [2, tr. 22].  Trên thực tế, đồng phạm có tổ chức được thể hiện ở các dạng sau:

  Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội được hình thành với phương thức hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững. Trong tổ chức này có mối quan hệ chỉ huy – phục tùng, có sự phân công vai trò cụ thể của từng người đồng phạm. Có thể tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp của những tên tội phạm chuyên nghiệp để thống nhất cùng nhau thực hiện hoạt động phạm tội.

  Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo kế hoạch đã thống nhất trước.

  Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, đầy đủ mọi mặt như chuẩn bị công cụ, phương tiện hoạt động, chuẩn bị kế hoạch che giấu tội phạm [5, tr. 75-76].

Tội phạm có tổ chức là hệ thống các tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm có tổ chức hay các tội phạm được thực hiện do thành lập, tham gia các tổ chức phạm tội trong khoảng thời gian không gian xác định.

Như vậy, việc phân loại các hình thức đồng phạm góp phần đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định đồng phạm trong phần chung của Bộ luật hình sự. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là căn cứ thống nhất để phân loại các hình thức đồng phạm.

* Tổ chức phạm tội

Trong các nhóm phạm tội thì tổ chức phạm tội có tính chất nguy hiểm nhất, bởi vì những thành viên của tổ chức phạm tội không chỉ thỏa thuận với nhau về việc cùng tham gia thực hiện hoạt động tội phạm mà còn thống nhất hình thành những tổ chức bất hợp pháp bền vững, chặt chẽ.

Tổ chức phạm tội được thành lập với mục đích để thực hiện một hoặc nhiều tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tổ chức phạm tội được kết cấu theo kiểu phân công vai trò giữa các thành viên nên để đạt được mục đích phạm tội thì các thành viên cùng nhau phối hợp, điều chỉnh sự đóng góp cá nhân vào hậu quả phạm tội chung. Tổ chức phạm tội còn có đặc trưng cơ bản nữa là luôn chịu sự điều hành của một nhóm cầm đầu. Chính nhóm cầm đầu này đảm bảo sự phối hợp phạm tội của các thành viên và hướng các hoạt động này vào mục đích của tổ chức phạm tội [30, tr. 107-112].

4. Danh mục tài liệu tham khảo

  1.        Bộ Tư pháp (1996), Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển (Bản dịch tiếng Việt – Tài liệu tham khảo), Hà Nội
  2.        Lê Cảm (1988), “Về chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn)”, Tòa án nhân dân, (2+3).
  3.        Lê Cảm (1989), “Vấn đề pháp lý của quy phạm “nguyên tắc quyết đinh hình phạt” tại Điều 37 Bộ luật hình sự Việt Nam (Một số vấn đề lý luận – thực tiễn và hoàn thiện pháp luật)”, Tòa án nhân dân, (1+2).
  4.        Lê Cảm (1999), “Những cơ sở khoa học – thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Khoa học (KHXH), (2).
  5.        Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, tập III, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  6.        Lê Cảm (Chủ biên) (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung)Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, (tái bản lần thứ nhất, 2003).
  1.        Lê Cảm (Chủ biên) (2002), “Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới”, Thông tin Khoa học pháp lý, (8).
  2.        Lê Cảm (2003), “Hệ thống pháp luật hình sự Liên bang Nga”, Nghiên cứu châu Âu, (1).
  3.        Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  4.    Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  5.    Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/02 về truy tố các tội bắt cóc, ám sát, tống tiền, Hà Nội.  
  6.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
  7.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
  8.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
  9.    Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  10. Nguyễn Ngọc Hòa (1991), Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  1. Uông Chu Lưu (Chủ biên) (2001), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 – Tập 1 (Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  1. Dương Tuyết Miên (2003), Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
  1.    Nguyễn Niên (1986), Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
  2. Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần chung)Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
  1.    Đinh Văn Quế (2002), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), Tập V – Các tội phạm về chức vụ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
  3. Quốc hội (1988), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội.
  4. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
  5. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
  6. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội.
  7. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
  8. Quốc triều hình luật (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  9.    Kiều Đình Thụ (1996), Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1996.
  10.    Trần Quang Tiệp (2000), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội.
  11. Tòa án nhân dân tối cao (1975), Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, Hà Nội.
  12.    Tòa án nhõn dõn tối cao (2005), Báo cáo tổng kết cụng tỏc ngành Tòa án năm 2005, Hà Nội.
  13.    Tòa án nhõn dõn tối cao (2006), Báo cáo tổng kết cụng tỏc ngành Tòa án năm 2006, Hà Nội.
  14.    Tòa án nhõn dõn tối cao (2007), Báo cáo tổng kết cụng tỏc ngành Tòa án năm 2007, Hà Nội.
  15.    Tòa án nhõn dõn tối cao (2008), Báo cáo tổng kết cụng tỏc ngành Tòa án năm 2008, Hà Nội.
  16.    Tòa án nhõn dõn tối cao (2009), Báo cáo tổng kết cụng tỏc ngành Tòa án năm 2009, Hà Nội
  17.    Trịnh Quốc Toản (2003), “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Chương XVI “Quyết định hình phạt”)”, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, do Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
  1.    Đào Trí Úc (Chủ biên) (1994), Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  2.    Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
  3.     Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1999), Bộ luận khoa học Bộ luật hình sự , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4.    Trịnh Tiến Việt (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội.
  1.    Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Trung tâm đào tạo từ xa – Đại học Huế, Nxb Giáo dục, Hà Nội.