Lý luận về thi hành phạt tù trung thân

 Nguyễn Thị Thanh    
Lý luận về thi hành phạt tù trung thân
Rate this post

Lý luận thi hành phạt tù trung thân nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thống về thi hành hình phạt tù chung thân ở Việt Nam hiện nay, xác định những tồn tại, nguyên nhân từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thi hành hình phạt tù chung thân.

"Lý luận thi hành phạt tù trung thân "

Lý luận thi hành phạt tù trung thân

1. Nhận thức chung về thi hành hình phạt tù chung thân

1.1   Khái niệm và bản chất của thi hành hình phạt tù chung thân

Hoạt động thi hành án là một hình thức thực hiện pháp luật. Để làm sáng tỏ khái niệm thi hành hình phạt tù chung thân, trước hết cần làm rõ khái niệm thi hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức quyết định” [58 tr.1559]. Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế; còn thi hành án hình sự là thực hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế.

Trong khoa học pháp lý cũng có một số quan điểm khác nhau về thi hành án hình sự: Tại chuyên đề Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án hiện nay, của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, GS.LS Phan Hữu Thư có nêu:”Thi hành án là một giai đoạn của tố tụng, bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng. Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, Quyết định của Tòa án thì mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản, giấy tờ. Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu quả công tác thi hành án. Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử” [ 44, tr12].

Theo TS. Trần Thành Hưng, thi hành án hình sự là một hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, buộc người bị kết tội phải chấp hành hình phạt theo bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật” [ 30, tr 9].

PGS.TS Võ Khánh Vinh, PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng cho rằng, thi hành án là hoạt động tính hành chính – tư pháp: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự đều dừng lại ở việc phán quyết của Tòa án, còn thi hành án lại được triển khai bắt đầu từ một phán quyết của Tòa án có hiệu lực thi hành. Hơn nữa các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án hình sự tuân theo các nguyên tắc mang đậm tính hành chính hơn là tố tụng. Nhưng mặt khác, không thể không thấy mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tố tụng hình sự và thi hành án hình sự: tố tụng là tiền đề, khởi đầu của thi hành án; ngược lại, thi hành án là thực hiện kết quả tố tụng trong thực tế. Không có tố tụng thì không có thi hành án, nhưng không có thi hành án thì tố tụng trở nên vô nghĩa” [59 , tr26 – 27] Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án nhưng nhìn chung về bản chất pháp lý đều thống nhất thừa nhận: thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự. Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất quan trọng. Quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.Nếu chỉ dừng ở mức đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc trưng của quyền lực nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng. Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể về thi hành án hình sự, các ngành tư pháp trung ương nói chung và Toà án nhân dân tối cao nói riêng cũng đã ban hành một số Thông tư liên tịch, Nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.

Thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án ra thi hành trên thực tế. Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng trong các hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp luật, trong đó buộc người bị xử phạt tù phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định. Một bản án, quyết định của Toà án có được thi hành nghiêm chỉnh hay không là tuỳ thuộc vào giai đoạn này.

Theo khoản 3 Điều 2 Luật Thi hành án hình sự năm 2010, thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo trong trại giam, trại tạm giam trong thời gian nhất định để họ trở thành người có ích cho xã hội.

Trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm thi hành hình phạt tù chung thân như sau: Thi hành hình phạt tù chung thân là việc cơ quan, người có thẩm quyền đưa bản án phạt tù chung thân đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế, tức là buộc ngƣời bị kết án phạt tù chung thân phải chấp hành hình phạt tại trại giam không có thời hạn.

1.2Mục đích, ý nghĩa của thi hành hình phạt tù chung thân

Hình phạt tù chung thân là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tù vô thời hạn. Trong hoạt động thi hành án hình sự, hoạt động thi hành án phạt tù luôn thể hiện tính cưỡng chế nghiêm khắc, trong đó hoạt động thi hành hình phạt tù chung thân được coi là có tính nghiêm khắc nhất. Người bị kết án tù chung thân bị tước quyền tự do không có thời hạn, bị cách ly khỏi xã hội và chịu sự quản lý, giáo dục trong các trại giam, trại tạm giam, chịu sự điều chỉnh của những quy định pháp luật chặt chẽ [38, tr30]. Như vậy, có thể thấy mục đích của thi hành hình phạt tù chung thân là nhằm giáo dục, cải tạo người bị kết án tù chung thân nhận ra được lỗi lầm, trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội; răn đe người khác phạm tội. Thi hành hình phạt tù chung thân giống như thi hành bất kỳ hình phạt nào khác đều có ý nghĩa là làm cho bản án có hiệu lực của Tòa án được thi hành trên thực tế. Không chỉ vậy, việc thi hành hình phạt tù chung thân còn có ý nghĩa phòng ngừa riêng đối với người phạm tội (cách ly người phạm tội khỏi xã hội không thời hạn để người đó không còn thực hiện được hành vi nào nguy hiểm cho xã hội nữa), giáo dục người khác có ý   thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm nói chung, động viên, khuyến khích sự tham gia của xã hội và công dân vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm [34, tr 50].

1.3. Mối quan hệ giữa phạt tù chung thân và phạt tù có thời hạn và thi hành phạt tử hình

Như đã nêu ở trên, hình phạt tù chung thân là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ quyền tự do cư trú, đi lại của người bị kết án vô thời hạn, buộc họ phải sống và làm việc trong trại giam do Nhà nước quy định. Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ quyền tự do cư trú, đi lại của người bị kết án trong một khoảng thời gian nhất định , buộc họ phải sống và làm việc trong trại giam do Nhà nước quy định.

Về bản chất, hình phạt tù chung thân và hình phạt tù có thời hạn là hai dạng của hình phạt tù, vì vậy chúng đều có những tính chất của hình phạt tù, cơ bản chỉ khác nhau ở khoảng thời gian áp dụng hình phạt đối với người bị kết án. Hình phạt tù chung thân là hình phạt được áp dụng vô thời hạn (suốt đời) còn hình phạt tù có thời hạn thì chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định.

Hình phạt tù chung thân và hình phạt tù có thời hạn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình thi hành hình phạt tù chung thân, nếu phạm nhân cải tạo tốt và thỏa mãn các điều kiện được đặc xá thì người bị kết án tù chung thân có thể được xem xét miễn giảm án xuống thành tù có thời hạn. Đây được coi là sự chuyển hóa hình phạt trong quá trình cải tạo, thi hành án.

Hình phạt tử hình được coi là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước bỏ quyền sống của một con người. Mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và hình phạt tù chung thân được thể hiện ở chỗ đây là hai loại hình phạt nghiêm khắc kế tiếp nhau và có thể thay thế nhau tùy từng trường hợp cụ thể, những trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999 có thể được xem xét chuyển thành hình phạt tù chung thân.

1.4. Cơ quan thi hành hình phạt tù chung thân

Khoản 2 Điều 10 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định cơ quan thi hành án hình sự, bao gồm: Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu (sau đây gọi là trại giam); Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh); Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện); Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu).

Như vậy, Cơ quan thi hành án phạt tù nói chung và cơ quan thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng (không thuộc quân đội nhân dân) là cơ quan chuyên trách được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành bản án phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đó là: Trại giam thuộc Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [58, tr127].

Thứ nhất, về trại giam. Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Thi hành án hình sự thì trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân và thực hiện các thủ tục pháp lý trong quá trình phạm nhân chấp hành án tại trại giam theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, về cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Điều 13 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Theo đó có nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án phạt tù chung thân như: giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án tù chung thân trên địa bàn cấp tỉnh; Tiếp nhận quyết định thi hành án tù chung thân của Tòa án có thẩm quyền; hoàn tất thủ tục, hồ sơ và danh sách người chấp hành án phạt tù chung thân để báo cáo, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quyết định; Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chung thân, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù chung thân; Ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức lực lượng truy bắt phạm nhân bỏ trốn khỏi trại tạm giam…

Đối với người bị kết án phạt tù chấp hành án tù chung thân tại phân trại quản lý phạm nhân của Trại tạm giam Công an tỉnh sẽ do Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh quản lý. Ngày 24/12/2010, Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân thuộc Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 10968/QĐ-X11 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp cấp tỉnh. Xuất phát từ quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Công an cấp tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh được gắn với phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Đến nay, trên toàn quốc đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp cấp tỉnh để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, về cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện. Điều 13 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Theo đó cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan công an cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án phạt tù chung thân như giúp Trưởng Công an cấp huyện quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án tù chung thân trên địa bàn cấp huyện; Áp giải thi hành án đối với người bị kết án phạt tù chung thân đang được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ; Trực tiếp quản lý số phạm nhân phục vụ tại nhà tạm giữ; Tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án phạt tù chung thân đang ở nhà tạm giữ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; Lập hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người bị kết án phạt tù chung thân đang ở nhà tạm giữ, được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án đi chấp hành án; đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã đối với người trốn thi hành án phạt tù chung thân…

Xuất phát từ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy Công an cấp huyện thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện được gắn với Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp cấp huyện. Đây là quy định mới nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc tổ chức, theo dõi, quản lý thi hành các án phạt ngoài tù, tử hình, trục xuất thời gian qua, góp phần thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án hình sự trong phạm vi cả nước [23, tr. 38].

Nhiệm vụ cơ bản nhất của cơ quan thi hành hình phạt tù chung thân là đảm bảo việc thi hành các bản án phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong thực tế theo đúng quy định của pháp luật. Thi hành đúng có nghĩa là thực hiện đúng nội dung của bản án hoặc quyết định của Tòa án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, bằng các phương pháp và theo hình thức luật cho phép. Thi hành đúng còn có nghĩa là phải kết hợp giữa trừng trị, cải tạo và giáo dục. Phải thực hiện tách người chấp hành hình phạt tù chung thân suốt đời ra khỏi xã hội trừ những trường hợp được xét giảm án nhằm cải tạo giáo dục họ, ngăn ngừa họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Thông qua việc thi hành án giáo dục ý thức pháp luật đối với toàn xã hội nói chung, ngăn ngừa tội phạm nói riêng, động viên quần chúng tham gia vào công tác thi hành án hình sự nói chung, công tác thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng. Các nhiệm vụ trên tuy có tính độc lập tương đối nhưng có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ nhau trong để hoạt động thi hành án hình sự đạt hiệu quả cao.

1.5. Điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân

Điều kiện thi hành hình phạt tù nói chung được hiểu là điều kiện pháp lý cần và đủ để thực hiện hình phạt tù chung thân trên thực tế. Các điều kiện này được quy định trong Hiến pháp , Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật thi hành án hình sự năm 2010, Quy chế trại giam năm 2008, Các cơ quan, tổ chức thi hành hình phạt tù chung thân phải bắt buộc dựa trên và tuân theo các điều kiện pháp lý đó để có thể đưa người bị kết án thi hành hình phạt tù chung thân. Theo cách hiểu này, việc thi hành hình phạt tù chung thân chỉ phát sinh từ khi một người bị coi là có tội, tức là từ khi người đó bị kết án bằng bản án có hiệu lực của Tòa án (bản án kết tội và có áp dụng hình phạt tù chung thân).

Để đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp của thi hành án tù chung thân, các điều kiện về thi hành hình phạt tù nói chung được quy định cụ thể, rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Về các điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân:

  1.  Điều kiện thứ nhất: Bản án có hình phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:

Những bản án và quyết định được thi hành là những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật bao gồm:

  1. a)    Những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm;
  2. b) Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
  3. c)    Những quyết định của Tòa án cấp Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. [13]

Bản án phạt tù chung thân được thi hành là những bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, một bản án sơ thẩm của Tòa án chỉ có hiệu lực khi nội dung của bán án phản ánh sự thật khách quan có căn cứ và không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật tố tụng hình sự quy định. Như vậy, hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo kháng nghị sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật,cũng chính là thời điểm phát sinh điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân. Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo kháng nghị, thì theo quy định tại Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét để kiểm tra đối với phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo kháng nghị. Do vậy, bản án phúc thẩm của Tòa án cũng có thể được coi là điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân trong trường hợp bản án này xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến hình phạt tù chung thân. Trong trường hợp, nếu có kháng cáo, kháng nghị những vấn đề khác không liên quan đến hình phạt tù chung thân, thì bản án phúc thẩm của Tòa án chỉ được coi là điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân nếu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án phạt theo hướng giảm nhẹ cho người phạm tội (cụ thể là xem xét giảm từ hình phạt tử hình xuống hình phạt tù chung thân).

Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm có trách nhiệm kiểm tra mặt pháp lý những bản án, quyết định hình phạt tù chung thân đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong trường hợp này, Quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được coi là điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân

Về nguyên tắc, thời điểm bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật chính là thời điểm thi hành hình phạt tù chung thân. Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp người bị kết án trốn tránh mà không bị truy nã nên bản án, quyết định của Tòa án qua một thời gian nhất định mà chưa được thi hành. Như vậy, bên cạnh thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật, bản án đã có hiệu lực pháp luật đó chỉ trở thành điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân khi nó còn hiệu lực thi hành. Để đảm bảo tính ổn định của các quan hệ pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân và nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, Khoản 4 Điều 55 Bộ luật Hình sự có quy định về thời hiệu thi hành bản án đối với trường hợp áp dụng hình phạt tù chung thân như sau:

“d) 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình” [11].

Tóm lại, còn thời hiệu thi hành cũng là một trong những yếu tố của bản án có hiệu lực thi hành, tức là bản án được đưa ra thi hành khi bản án đó vẫn còn hiệu lực pháp luật.

  1.      Điều kiện thứ hai: Tòa án ra quyết định thi hành bản án phạt tù chung thân

Bản án đã có hiệu lực pháp luật và đang còn hiệu lực thi hành được đưa ra thi hành khi có quyết định thi hành án của của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc của Chánh án Tòa án khác cùng cấp được ủy thác ra quyết định thi hành án. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:

“ Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành bản án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án [13]. Như vậy, bản án phạt tù chung thân mặc dù đã phát sinh hiệu lực nhưng chỉ được thi hành khi có quyết định thi hành án của người có thẩm quyền. Việc ra quyết định thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Tòa án, cụ thể là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành bản án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án. Quyết định thi hành án là văn bản áp dụng pháp luật, có ý nghĩa bắt buộc trong việc đưa bản án phạt tù chung thân ra thi hành nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của bản án.

Như vậy, có thể nói, điều kiện để thi hành hình phạt tù chung thân là bản án và quyết định của Tòa án áp dụng hình phạt tù chung thân đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành hình phạt tù chung thân của Chánh án Tòa án khác cùng cấp được Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ủy quyền ra quyết định thi hành án. Đây là hai điều kiện tiên quyết, là cơ sở có tính nguyên tắc được pháp luật tố tụng hình sự quy định, buộc các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành hình phạt tù chung thân phải tuân theo trong việc đưa người bị kết án tù chung thân vào thi hành hình phạt tại trại giam

2. Sơ lược lịch sử các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân

2.1 Các quy định về thi hành hình phạt tù chung thân trước năm 1945

Ở thời kỳ phong kiến, pháp luật hình sự nước ta quy định hệ thống hình phạt gồm 5 hình phạt: xuy hình, tượng hình, đồ hình, lưu hình và tử hình. Lưu hình là hình phạt đi đày xa, loại hình phạt này đứng hàng thứ tư trong thang hình phạt cổ và được xếp ngay sau hình phạt tử hình, tức là mức độ nghiêm khắc chỉ đứng sau hình phạt tử hình trong thang hình phạt cổ [43, tr121].

Thời Lê sơ có ban hành một bộ luật khá độc đáo là Bộ luật “Quốc Triều khám tụng điều lệ” quy định về thủ tục kiện cáo,xét xử, thi hành án…đây được coi là một bước ngoặt lớn trong pháp luật về thi hành án hình sự nói chung và thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng nhưng các vấn đề liên quan đến thi hành án lại không được đề cập nhiều và khả năng áp dụng thiếu thống nhất. Ví dụ như quy định nhiều hình thức thi hành án cho cùng một hình phạt. Hình phạt tù chung thân hầu như được áp dụng và cho thi hành ngay, có trường hợp tuyên án bằng miệng là bản án được thi hành ngay. Ở thời kỳ này, hình phạt tù chung thân cũng được áp dụng nhằm mục đích giáo dục, răn đe người khác không phạm tội tương tự. Ngoài Bộ luật “Quốc triều khám tụng điều lệ”, vào thời kỳ cầm quyền của Lê Thánh Tông còn ra đời bộ điển chế vĩ đại nhất của lịch sử pháp luật phong kiến Việt Nam đó là Bộ luật Hồng Đức. Trong Bộ luật Hồng Đức đã có khá nhiều quy định về chế độ giam giữ, chế độ đối với tù bị thương, bị bệnh, về kiểm soát ngục thất… Đặc biệt Bộ luật đã có những quy định về các hành vi vi phạm về quy định thi hành án của Hình quan, Ngục quan là những người có trách nhiệm trong thi hành án, đều bị xác định là tội phạm và bị trừng trị rất nghiêm khắc [42, tr122].

Ở thời kỳ Pháp thuộc, với sự du nhập những yếu tố mới trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước thông qua cách quản lý xã hội của chính quyền thực dân Pháp, hoạt động thi hành án có những thay đổi đáng kể so với thời kỳ phong kiến trước đây, theo hướng chú trọng hơn cả ở trong pháp luật về thi hành án nói chung và cả trong thực tiễn thi hành án nói riêng. Thay đổi quan trọng nhất là đã có sự phân biệt hoạt động thi hành án hình sự và thi hành án dân sự. Từ đây, pháp luật về thi hành án hình sự bắt đầu được quy định ở những chế định riêng biệt, rõ ràng và được áp dụng thống nhất hơn. Tuy nhiên, hoạt động thi hành án vẫn mang những hạn chế cố hữu của một chế độ xã hội được xây dựng trên bất công và đàn áp, nhiều nhà tù với chế độ giam giữ hết sức hà khắc vẫn được thực dân Pháp xây dựng để đàn áp các phong trào yêu nước, các chiến sỹ yêu nước…

2.2   Các quy định về thi hành hình phạt tù chung thân từ năm 1945 đến nay.

Sau khi tuyên bố độc lập năm 1945, đất nước ta bắt đầu bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, Nhà nước mới ra đời đứng trước vô vàn những khó khăn. Song song với phát triển kinh tế, Nhà nước mới ra đời cũng chú trọng đến ban hành những văn bản pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội.

Thời kỳ này, hình phạt tù chung thân đã được quy định trong Thông tư số 498-P4 ngày 30/10/1946 của Bộ Tư pháp, theo đó:”Chung thân cũng là một hình phạt có tính chất đặc biệt. Cũng như hình phạt tử hình, nó có thể được áp dụng đối với một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Trước yêu cầu cấp thiết của việc tổ chức giam giữ và tiến hành giáo dục, cải tạo những người bị kết án, ngày 07/11/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 150/SL về tổ chức trại giam, bỏ hình thức “tù khổ sai”, “tù cầm cố” vốn được áp dụng phổ biến trong thời ký phong kiến thực dân. Ngày 18/8/1953 ra đời Sắc lệnh số 175/SL quy định về chế độ quản chế; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 49/NQ-UBTVQH ngày 20/6/1961 quyết định phải tập trung cải tạo những phần tử nguy hiểm cho xã hội và còn một số văn bản khác liên quan đến hoạt động giam giữ, cải tạo, giáo dục phạm nhân, trong đó có việc giam giữ những phạm nhân chấp hành hình phạt tù chung thân [41, tr40].

Nhìn chung, trong giai đoạn này các quy định về thi hành hình phạt chủ yếu điều chỉnh hoạt động thi hành án phạt tù (gồm tù có thời hạn và tù chung thân). Tuy nhiên, chưa có sự phân biệt giam giữ người bị kết án tù với người bị giam cứu, người bị cơ quan thi hành chính bắt đề phòng và phân biệt giữa người bị kết án tù chung thân với tù có thời hạn.

Năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự ra đời, lần đầu tiên khẳng định nguyên tắc “Chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù”. Đây là một bước tiến lớn về mặt nhận thức, khắc phục được những thiếu sót đánh đồng người bị tạm giữ, tạm giam với người bị kết án phạt tù của những văn bản quy định về thi hành hình phạt tù trước đây. Tuy nhiên, sau khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, chúng ta còn thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể việc thi hành hình phạt tù của các cơ quan có thẩm quyền. Để khắc phục tình trạng này, khắc phục những lệch lạc, sai sót trong quá trình giam giữ, cải tạo, giáo dục phạm nhân, ngày 27/4/1989, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành Chỉ thị 123 về tăng cường quản lý, cải tạo phạm nhân trong tình hình mới; ngày 15/8/1989 Liên ngành Bộ Nội vụ – Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 04/TT-LN làm cơ sở cho việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

Trước khi Nhà nước ta ban hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993, các quy định về thi hành án phạt tù nói chung và thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng còn giản đơn, thậm chí còn chưa đầy đủ và nhất

quán về nguyên tắc, thiếu cụ thể về quyền và nghĩa vụ dẫn đến tồn tại nhiều mâu thuẫn, do vậy gây khó khăn cho việc vận dụng và làm giảm hiệu lực của pháp luật. Mặt khác, sự non yếu về kỹ thuật lập pháp cũng đã tạo ra nhiều sơ hở ngay trong các quy định của pháp luật. Trong quá trình thực thi pháp luật nhiều cán bộ thi hành án lạm dụng biện pháp cứng rắn, đôi khi là hà khắc khiến cho người chịu hình phạt tù chung thân không nhận thức được mục đích giáo dục, cải tạo của việc thi hành án tù chung thân đối với họ nên không có tâm lý ổn định, thiếu yên tâm cải tạo, làm giảm hiệu quả thi hành án tù chung thân. Ngoài ra cũng phải kể đến những bất cập, yếu kém trong công tác quản lý, cải tạo phạm nhân, nhất là sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức với gia đình phạm nhân cũng như sự phối hợp giữa các trại giam chưa đạt hiệu quả cao.

Sau khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993, hoạt động thi hành án phạt tù nói chung và thi hành hình phạt tù chung thân có nhiều chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, quá trình áp dụng đã cho thấy những bất cập giữa pháp luật thi hành án phạt tù với yêu cầu nâng cao chất lượng thi hành án phạt tù cũng như giữa pháp luật thi hành án phạt tù với các văn bản pháp luật khác có liên quan, chẳng hạn như: những quy định về phân loại trại giam trong Pháp lệnh thi hành án phạt tù không còn phù hợp với BLHS năm 1999; không có lực lượng chuyên trách thực thi việc bắt người thi hành án phạt tù; vẫn còn nhiều người bị kết án phạt tù chưa được đưa vào trại giam để chấp hành hình phạt…[48, tr524].

Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993, đã quy định khá đầy đủ các trình tự, thủ tục của quá trình hoạt động thi hành hình phạt tù.

Tuy nhiên, do tình hình thực tế yêu cầu phải có một đạo luật quy định cụ thể và đầy đủ về hoạt động thi hành án hình sự, Luật Thi hành án hình sự 2010 ra đời là một văn bản quan trọng chứa đựng đầy đủ và có hệ thống các quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự, trong đó có thi hành án phạt tù. Đạo luật này cùng với một số các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước về thi hành án hình sự đã tạo thành hệ thống các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự thống nhất, đồng bộ và có ý nghĩa áp dụng trong thực tiễn.

Ngay sau khi có Luật Thi hành án hình sự năm 2010, hàng loạt các văn bản dưới luật khác cũng được ban hành, trong đó phần lớn là những văn bản liên quan đến hướng dẫn thực hiện các quy định của đạo luật nói trên về thi hành án phạt tù. Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong những năm gần đây đối với công tác thi hành án nói trên. Mặc dù vậy, ở phương diện lập pháp, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hệ thống pháp luật Việt Nam về thi hành án hình sự vẫn không thể tránh khỏi một số bất cập do hoàn cảnh đất nước đang đổi mới mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực và do nhu cầu hội nhập quốc tế của đất nước.

Trên cơ sở xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật thi hành án hình sự, quy định về thi hành án hình sự nói chung và công tác thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt là từ khi Nhà nước ban hành các văn bản về công tác thi hành án hình sự như: Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993, Quy chế trại giam năm 1993, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 2007 và Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong công tác thi hành án hình sự ở nước ta, khắc phục những bất cập trước đây, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thi hành án nói chung cũng như thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng.

3 Khái quát pháp luật thi hành hình phạt tù chung thân ở một số nƣớc trên thế giới

3.1 Pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân của Liên bang Nga

 Liên Bang Nga pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng hay thi hành hình phạt tù nói chung được thể hiện trong Quyết định

ngày 24/01/1918 về “các đội lao động trong nhà tù” của Hội đồng Dân ủy. Trong đó có quy định: các nhà tù tổ chức thực hiện lao động có ích cho xã hội và lao động được coi là một trong những phương tiện quan trọng để cải tạo phạm nhân. Ngoài ra, việc thi hành hình phạt tù chung thân còn được thể hiện ở Hướng dẫn tạm thời về “Tước tự do là một hình phạt và trình tự thực hiện nó” được ban hành ngày 23/7/1918 theo đó trại giam gồm 5 loại:

  1. i)   Các trại giam chung (nhà tù); ii) Các trại trừng phạt – giáo dục (chủ yếu dành cho thanh niên); iii) Các trại thử thách để dành cho những người có căn cứ để tha tù trước thời hạn; iiii) Các cơ sở chữa bệnh bắt buộc dành

cho những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần; iiiii) Các bệnh viện nhà tù [41, tr46].

Bộ luật Lao động – cải tạo của Liên bang Nga được ban hành ngày 16/10/1924 chia trại giam thành 3 nhóm:

Nhóm A: Các trại giam để áp dụng các biện pháp bảo vệ xã hội có tính chất cải tạo bao gồm: Các nhà giam; các trại lao động – cải tạo; các đội lao động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp; các phòng giam cách ly đặc biệt; các trại lao động – cải tạo quá độ.

Nhóm B: Các trại giam để áp dụng các biện pháp bảo vệ xã hội có tính chất giáo dục – y tế gồm: Các trại lao động dành cho những người chưa thành niên phạm tội; Các trại lao động dành cho những người phạm tội là thanh niên thành phần công nhân, nông dân.

Nhóm C: Các trại giam để áp dụng các biện pháp bảo vệ xã hội có tính chất y tế bao gồm các trại dành cho người mắc bệnh tâm thần, các phạm nhân mắc bệnh lao hoặc các bệnh khác…

Ngày 01/8/1933, Bộ luật Lao động – cải tạo của Liên bang Nga thay thế Bộ luật Lao động – cải tạo năm 1924 được ban hành, trong đó mục đích chính sách lao động – cải tạo được khẳng định là đặt người bị kết án trong những điều kiện ngăn ngừa họ gây thiệt hại cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; cải tạo và làm cho họ thích nghi với đời sống lao động. Phương tiện để cải tạo người bị kết án là lao động và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Ngày 10/12/1970, Bộ luật lao động – cải tạo được sửa đổi tiếp tục điều chỉnh việc thi hành các hình phạt tước tự do và các hình phạt khác.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, ngày 18/12/1996, Bộ luật Thi hành án hình sự của Liên bang Nga được ban hành và được sửa đổi ngày 12/01/1998. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2001 của Liên bang Nga được Đuma Quốc gia thông qua ngày 22/11/2001; sau đó được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và lần sửa gần đây nhất là ngày 18/10/2011. Tại Chương XIV phần thứ ba quy định về thi hành án, gồm 3 mục quy định việc đưa bản án ra thi hành; thủ tục giải quyết các vấn đề liên quan đến thi hành án và thủ tục xét xử phúc thẩm. Như vậy, việc thi hành án hình sự nói chung và thi hành án phạt tù nói riêng cũng được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga và Bộ luật Thi hành án hình sự. Trách nhiệm quản lý hệ thống nhà tù thuộc về cơ quan thi hành án Liên bang (FSES) được thực hiện căn cứ vào Nghị định số 314 ngày 09/03/2004 của Tổng thống. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm soạn thảo các văn bản pháp lý liên quan tới các vấn đề về nhà tù, song FSES là cơ quan phụ trách riêng về việc thực hiện. Cơ quan này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Văn phòng Tổng thống. Cơ quan thanh tra thi hành án hình sự, trực thuộc FSES, chịu trách nhiệm về những đối tượng bị kết án với những chế tài thay thế và được phóng thích [41, tr47].

FSES chịu trách nhiệm tiến hành giáo dục và điều trị tâm lý chuẩn đoán trong nhà tù. Về việc giúp cho phạm nhân xây dựng lại cuộc sống, cơ quan thanh tra phối hợp chặt chẽ với các trung tâm môi giới việc làm và các địa phương để tìm ra giải pháp cho các vấn đề xã hội mà những đối tượng bị kết án với những chế tài thay thế hay phóng thích phải đối mặt.

3.2 Pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân ở Vương quốc Anh

Vào thế kỷ XIX, Anh đã bắt đầu thực thi việc thi hành hình phạt tước quyền tự do: người bị tước quyền tự do đầu tiên bị biệt giam một thời gian, sau đó được chuyển sang giam chung với những người khác và kết thúc ở giai đoạn này có thể được tha tù trước thời hạn. Thời gian của từng giai đoạn phụ thuộc vào thái độ của người bị kết án. Như vậy, ngay ở thế kỷ này, nước Anh đã áp dụng hình phạt tù nói chung và hình phạt tù chung thân nói riêng một các tương đối tiến bộ, người bị kết án tù chung thân có thể được tha trước thời hạn (hình thức tù chung thân có thể được ân xá).

Tại Anh, pháp luật thi hành hình án hình sự được điều chỉnh bởi án lệ và các đạo luật. Các đạo luật điều chỉnh việc thi hành án hình sự như sau: Đạo luật về nhà tù năm 1952, Đạo luật hình sự năm 1967, Đạo luật hình sự năm 1977, Đạo luật về hành vi phạm tội chưa đạt năm 1981, Đạo luật về thẩm quyền của các Tòa án hình sự năm 1973, Đạo luật về tư pháp hình sự năm 1982, Đạo luật về cảnh sát và chứng cứ trong các vụ án hình sự năm 1984, Đạo luật về các cơ sở cải tạo đối với các nhóm người phạm tội khác nhau…

Ngày 09/5/2007, Bộ Tư pháp được thành lập tiếp nhận trách nhiệm quản lý hệ thống nhà tù tại Anh. Việc quản lý các hoạt động liên quan tới tù giam là trách nhiệm của Cơ quan Quản lý phạm nhân Quốc gia (NOMS)

  một cơ quan thừa hành của Bộ Tư pháp. Nhiệm vụ của NOMS là thực thi

các bản án và quyết định từ các tòa án của Anh thông qua việc ủy thác các dịch vụ liên quan tới phạm nhân là người trưởng thành đang bị giam giữ trong nhà tù hay quản thúc ở ngoài cộng đồng cho các tổ chức nhà nước, tư nhân và bên thứ ba [41, tr48].

3.3  Pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân ở Cộng hòa Pháp

Pháp được coi là nơi sinh ra hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa. Khác với Anh, pháp luật thi hành án hình sự của Pháp không có án lệ mà được điều chỉnh chỉ bởi các đạo luật có các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật thi hành án hình sự khác . Trong Bộ luật tố tụng hình sự của Pháp ban hành ngày 31/12/1957 đã được sửa đổi nhiều lần, lần sửa đổi, bổ sung mới nhất vào năm 2012. Quyển V Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp quy định về thủ tục thi hành án, trong đó quy định về việc thi hành các bản án hình sự. Theo đó, cơ quan thi hành án hình sự được quy định là Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm và Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm có quyền trực tiếp yêu cầu lực lượng công quyền hỗ trợ để bảo đảm việc thi hành án [41, tr49]. Trong mỗi Tòa sơ thẩm có một hoặc nhiều thẩm phán đảm nhiệm chức năng thẩm phán thi hành hình phạt. Các Ủy ban giám sát và giúp đỡ những người tha tù được lập ra tại các Tòa án theo danh sách của Chính phủ quy định bằng Nghị định.

Việc giáo dục phạm nhân được quy định: Kết quả lao động và học nghề là những tiêu chuẩn đánh giá để bảo đảm việc tái hòa nhập xã hội và đạo đức của phạm nhân. Trong các trại giam, phải tiến hành công tác chuẩn bị cần thiết để bảo đảm hoạt động nghề nghiệp cho người bị giam, nếu họ muốn. Quan hệ lao động của phạm nhân không phải là đối tượng hợp đồng lao động, trừ những hoạt động tiến hành bên ngoài trại giam.

Chế độ giam giữ, cải tạo đối với từng phạm nhân được quy định như sau: “ở mỗi trại giam, thẩm phán phụ trách thi hành án xác định những thể thức chính của chế độ giam giữ, cải tạo đối với mỗi phạm nhân. Trong phạm vi điều kiện do pháp luật quy định, thẩm phán phụ trách thi hành án cho phép phạm nhân được hưởng chế độ làm việc bên ngoài trại giam, chế độ bán tự do, được giảm thời hạn chấp hành hình phạt, được tạm đình chỉ thi hành hình phạt, được ra ngoài trại giam có người dẫn giải, được cấp giấy phép ra ngoài trại giam, được phóng thích có điều kiện” [41, tr49].

Việc miễn, giảm thi hành hình phạt tù trong đó có hình phạt tù chung thân được quy định như sau: “nếu người bị kết án bảo đảm có thể tái hòa nhập xã hội,thẩm phán phụ trách thi hành án có thể yêu cầu Tòa án nơi giam giữ người bị kết án cùng cấp với Tòa án đã tuyên án, chấm dứt việc áp dụng toàn bộ hay một phần các quy định về giáo dục, cải tạo phạm nhân được quy định trong Luật này hoặc giảm bớt thời gian bảo đảm thi hành hình phạt. Nếu bản án phạt tù do Tòa đại hình tuyên, Tòa án có thẩm quyền quyết định việc xin giảm là Tòa điều tra phúc thẩm thuộc hạt nơi người bị kết án đang bị giam.”

Tóm lại, việc thi hành hình phạt tù chung thân ở các nước tuy có khác nhau nhưng chung quy đều do một hệ thống cơ quan thi hành án thực hiện. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước mà tính chất, mức độ nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân cũng khác nhau. Hoạt động thi hành hình phạt tù chung thân ở mỗi nước phản ánh rõ nét chính sách hình sự của nhà nước đó trong việc thể hiện mục đích trừng trị, giáo dục và cải tạo đối với người phạm tội

4. Danh mục tài liệu tham khảo

*      Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam

  1.      Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  2.      Đảng cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  3.      Ban chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương, Tài liệu tập huấn về Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tháng 4/2004.
  4.   Bộ chính trị – BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 01/01/2002 “ về một số nhiệm vụ trong tậm của công tác tư pháp thời gian tới”.
  1.   Bộ chính trị – BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/05/2005 “ về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”.
  1.   Bộ chính trị – BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/06/2005 “ về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020”.

*      Văn bản pháp luật của Nhà nƣớc

  1.  Bộ Công An, Bộ Quốc Phòng, Toà Án Nhân Dân tối Cao,Viện Kiểm Sát Nhân Dân tối cao (2013), Thông tư liên tịch Số 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/5 huớng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, Hà Nội.
  2. Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Y tế (2013), Thông tư liên tịch 03/2013/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC – BQP-BYT ngày 15/5 hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, Hà Nội.
  1.   Chính phủ (2008), Nghị định 113/2008/NĐ-CP ngày 28/10 Ban hành quy chế trại giam, Hà Nội.
  1. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  2.   Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2009), Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  3.   Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2015), Bộ luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  1. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1988), Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  2. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  3. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2015), Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1992), Hiến pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
  5. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Hiến pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  6. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2010), Luật thi hành án hình sự, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  7.     Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2002), Luật tổ chức tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  8.   UBTVQH – Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2002), Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  9. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1993), Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Hà Nội.
  10.   Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh Thi hành án phạt tù (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.

*           Giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo, bài viết trên tạp chí

  1. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) (2012), Bình luận khoa học Luật Thi hành án hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  1.   Trương Hòa Bình (2002), Hoạt động thi hành án hình sự hiện nay – thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Khoa học pháp luật số 06.
  2.     Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  3.     Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
  4.   Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  5.   Vũ Trọng Hách (2006), Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  6.     Nguyễn Phong Hòa (2006), “Thực trang công tác thi hành án hình sự và những kiến nghị”, Tạp chí TAND số 21.
  7.   TS. Trần Thành Hưng (2014), Giáo trình Những vấn đề cơ bản về thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp”, Nxb Công an nhân dân
  8.   Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  9.   Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2000), Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công chứng, Luật sư, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
  10.     Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  11.     Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  12.   Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
  13.   Phạm Văn Lợi (2006) “Thực trạng pháp luật thi hành án phạt tù và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02.
  14.   C.Mác – Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  15.     Dương Tuyết Miên (2000), “Bàn về mục đích của hình phạt”, Tạp chí Luật học số 03.
  16.   Hồ Chí Minh (1995), “Toàn tập ( Tập 5)”, Nxb Chính trị quốc gia.
  17.   Nguyễn Quốc Nhật, Phạm Trung Hòa (2001), Giáo dục, giúp đỡ người tha tù tái hòa nhập cộng đồng ở Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  1.   Đại học Kiểm sát Hà Nội (2013), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án phạt tù hiện nay”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
  1. Đỗ Ngọc Quang (2007), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Giáo trình dùng cho hệ cao học luật chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm), In tại Học viện Cảnh sát nhân dân.
  1.   Quốc triều Hình luật (Luật hình triều Lê – Luật Hồng Đức) (2003), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
  1. Trần Quang Tiệp (2003), Một số vấn đề về thi hành án hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  1.   Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (2012), Những vấn đề cơ bản về công tác tạm giữ, tạm giam, tổ chức thi hành án phạt tù và quản lý, giáo dục trại viên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  2.   Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (2013), Những vấn đề cơ bản về thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  3.   Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  4.   Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  5.   Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  1. Lê Đức Tiết (2005), Văn hóa pháp lý Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  2.   Đào Trí Úc (Chủ biên) (1995), Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  1. Trịnh Tiến Việt (2003), Pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội.
  1.   Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2001), Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội.
  1.   Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2000), Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội.
  2.   Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2000), Bộ luật Tố tụng hình sự Vương quốc Anh, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội.
  3.   Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2003), Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới, Báo cáo phúc trình, Mã số đề tài: 2000-58-198, Hà Nội.
  1.   Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010-2015), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, Hà Nội.
  1.     Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội năm 2004.
  2. Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (2006),  Pháp luật thi hành án

  60 hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội năm 1998