Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục an toàn giao thông trường tiểu học

5 (100%) 2 votes

Quản lý giáo dục an toàn giao thông là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Mục đích giáo dục giáo dục an toàn giao thông cho học sinh cũng chính là một trong những mục đích của quản lý, đây là mục đích có tính khách quan.

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viết luận văn thuê ở TpHCM  Hà Nội, Đà nẵng,… Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục an toàn giao thông trường tiểu học
Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục an toàn giao thông trường tiểu học

1. Các khái niệm cơ bản

1.1. Quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” lột tả bản chất hoạt động điều khiển các hoạt động của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.” [35].

Trong thực tiễn, đã có nhiều cách hiểu và biểu đạt về khái niệm quản lý, tuỳ theo mục đích tiếp cận khác nhau của mỗi tác giả.

Theo sự phân tích của K.Mác thì “Bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có quản lý” . Trong tác phẩm: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả Harold Kontz viết “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về thời gian,tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22].

Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định”. Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức”.

Khái quát hơn các tác giả ở khoa Sư phạm – ĐHQGHN là Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”.

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.

Tóm lại, các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ, tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản lý là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Đó là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Theo những quan điểm phổ biến hiện nay, quản lí là một quá trình với các chức năng sau.

Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Đây là chức năng đầu tiên của hoạt động quản lí.

Ảnh 1 – Quá trình quản lý

Tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.

Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.

Đây là chức năng kết nối hai chức năng trên.

Kiểm tra: Kiểm tra là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết của cá nhân, nhóm hoặc một tổ chức.

Như vậy, quản lý bao giờ cũng có tính định hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có tác động tương ứng phù hợp nhằm hướng dẫn điều khiển đối tượng quản lý để đạt được những mục tiêu đề ra một cách tối ưu nhất.

Từ đó có thể khái quát: “Quản lí là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia”.

>>>>>  Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên đại học theo tiếp cận quản lý nhân lực

1.2. Quản lý giáo dục

Cũng như quản lí nói chung, quản lí giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Về thuật ngữ “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Sự thực, thuật ngữ này có 2 cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Quản lý cấp vĩ mô tương ứng với việc quản lý một hoặc một loạt đối tượng có quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống. Nhưng trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống con, và tương ứng với hệ thống con này có hoạt động quản lý, đó là quản lý vi mô. Tuy việc phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối nhưng giới nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục thống nhất quy ước: quản lý giáo dục cấp vĩ mô là quản lý một nền/ hệ thống giáo dục; còn quản lý giáo dục cấp vi mô xem như quản lý trường học hay tổ chức giáo dục cơ sở.

* Đối với cấp vĩ mô:

M.L.Kônzacôv cho rằng: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [23].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.

Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm quản lý giáo dục đối với cấp vĩ mô là:

“QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, CMHS và các lực lượng XH trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường” [19].

Từ đây ta có thể khái quát QLGD là sự tác động chủ đích, có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan… của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức mạnh các nguồn giáo dục, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức hệ thống giáo dục đạt được các mục tiêu giáo dục đã đề ra với chất lượng, hiệu quả cao nhất.

Đối với cấp vi mô, trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, như quản lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt động ngoại khóa,…; quản lý các đối tượng khác nhau: quản lý giáo viên, học sinh, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất,…; quản lý (thực ra là tác động đến) nhiều khách thể khác nhau: quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục, điều tiết và điều chỉnh ảnh hưởng từ bên ngoài nhà trường, tham mưu với Hội Cha mẹ học sinh,…

Như vậy, ở góc độ vi mô, có thể hiểu quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất.

Từ những quan niệm trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ các yếu tố của quản lý giáo dục, đó là: chủ thể quản lý, phương pháp quản lý, công cụ quản lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý.

Các yếu tố này được thể hiện trong sơ đồ sau:

Ảnh 2 – Các yếu tố quản lý giáo dục

QLGD chịu sự chi phối và tác động của các quy luật xã hội. Bởi vì hệ thống giáo dục là một phân hệ trong toàn bộ hệ thống xã hội. Chính vì thế mà QLGD cũng có các chức năng như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Đặc điểm khác biệt của QLGD là quản lí con người với những đặc điểm tâm sinh lí, năng lực, phẩm chất, nhân cách đa dạng phức tạp. Kết quả giáo dục không hoàn toàn phụ thuộc vào nhà giáo mà phục thuộc cả vào người học, vào nhận thức và thái độ học tập của họ. Bởi người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục. Sản phẩm của giáo dục là nhân cách con người, vì vậy không được phép tạo ra phế phẩm. Ngoài ra QLGD phải phối kết hợp đồng bộ, chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình -nhà trường – cộng đồng xã hội. Trong đó nhà trường giữ vai trò trung tâm và có tính quyết định tới chất lượng GD.

1.3. Quản lý nhà trường

Trường học là đơn vị cơ sở của tổ chức và hệ thống giáo dục, đồng thời là một dạng của tổ chức trong xã hội. Vì vậy có thể hiểu quản lí trường học theo hai nghĩa cơ bản sau:

Đó là quản lí giáo dục tại cơ sở.

Đó là quản lí một tổ chức trong xã hội, và cụ thể là tổ chức giáo dục. Theo nghĩa đầu, quản lí trường học lại có hai khía cạnh khác nhau nhưng thống nhất với nhau mật thiết đến mức đôi khi khó phân biệt. Khía cạnh thứ nhất liên quan đến các cấp quản lí chính quyền và chuyên môn thuộc các cấp trên của trường. Mỗi trường học thực chất vẫn do các cấp nhà nước từ địa phương đến trung ương quản lí. Thủ tướng, bộ trưởng, chủ tịch tỉnh, thành phố, chủ tịch huyện, quận, xã, phường đều là những chủ thể quản lí trường học. Khi đó quản lí trường học do các cấp trên trường thực hiện. Và đó là lí do ra đời mô hình quản lí dựa vào trường học (School-based management).

Khi nói quản lí dựa vào trường học chính là bàn đến quản lí của các cấp trên trường, chứ không phải bàn về chuyện quản lí nội bộ hay tự quản ở trường. Nhưng trường học còn được quản lí bởi bộ máy bên trong trường do hiệu trưởng đứng đầu. Đó là quản lí trường học tại cấp trường, hay quản lí bên trong trường. Thông thường quản lí trường học chỉ được hiểu theo nghĩa này, mà khía cạnh thứ nhất hay bị lãng quên. Trên thực tế, quản lí trường học tại cấp trường vừa có tính chủ động, độc lập tương đối tùy theo cơ chế phân cấp cụ thể, song chính nó vẫn chịu sự chi phối và tác động quản lí của các cấp trên trường. Cả bộ máy quản lí cấp trường hoàn toàn do các cấp trên trường bổ nhiệm hoặc bãi miễn.

Trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với quản lý nhà trường. Quản lí giáo dục thực chất chỉ có giá trị khi đến được trường học, cho dù nói về cấp quản lí nào. Quá trình giáo dục chỉ diễn ra

trường, các hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục chỉ diễn ra ở trường, chứ không phải ở bộ, tỉnh, huyện… Quản lí giáo dục là quản lí hệ thống các trường học nằm trong phạm vi quyền hạn của cấp quản lí nhất định. Đồng thời quản lí trường học chính là quản lí giáo dục diễn ra tại cấp cơ sở. Cho nên nội dung quản lí giáo dục nói chung và nội dung quản lí trường học đều như nhau, chỉ khác nhau về qui mô mà thôi, bao gồm:

Quản lí tài chính giáo dục.

Quản lí cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật (tài sản vật chất).

Quản lí nhân sự (cán bộ, công chức, nhân viên, giáo viên, học sinh – tài nguyên con người).

Quản lí chuyên môn (chương trình, hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập, phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và quản lí, các hoạt động nghiên cứu và phát triển khác).

Quản lí môi trường (tự nhiên và văn hóa).

Quản lí các quan hệ giáo dục của ngành giáo dục với các thiết chế xã hội khác (Đoàn, Đội, Công đoàn, các hội nghề nghiệp, các hội chính trị-xã hội, gia đình học sinh, cộng đồng dân cư)

Trong mỗi nội dung quản lí này đều luôn có 2 mặt gắn liền với nhau là quản lí hành chính sự vụ (Administration) và quản lí chất lượng (Quality Management).

Theo nghĩa một tổ chức, trường học được quản lí giống như mọi tổ chức khác, nhưng có đặc điểm chuyên môn của mình là giáo dục. Bản chất của quản lí trường học lúc này là gây ảnh hưởng, định hướng và phát triển tổ chức trường theo mục tiêu và giá trị đã định, dựa trên việc xác định tầm nhìn, sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược, huy động và sử dụng các nguồn lực, tạo dựng tên tuổi (thương hiệu) và quản lí văn hóa nhà trường.

Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với QLGD ở cấp vi mô. Quản lý nhà trường là một quá trình vận động của các thành tố tổ chức của nhà trường. Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung-phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý. Các thành tố đó luôn vận động trong mối tương tác lẫn nhau, đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội chung quanh mình. Tác động bên ngoài nhà trường gồm các cơ quan QLGD cấp trên, nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện giáo dục, dạy học nhà trường. Tác động bên trong nhà trường là hoạt động của các chủ thể quản lý của chính nhà trường nhằm huy động điều phối giám sát các lực lượng giáo dục của nhà trường thực hiện có chiến lược có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học và giáo dục đã đặt ra.

Theo tác giả Trịnh Thị Hồng Hà: “Quản lý nhà trường là quản lí giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lí là các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lí trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lí chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lí là con người, cơ sở vật chất-kĩ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có.” [13]

Theo tác giả Bùi Minh Hiền “Quản lý nhà trường là quá trình tác động mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, cán bộ, nhân viên, người học và các bên liên quan) và huy động sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn luôn biến động.”[15.31]

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Làm Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ .

Như vậy quản lý nhà trường là việc người hiệu trưởng xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả đạt được so với yêu cầu và chuẩn mực đề ra trong chương trình giáo dục và nhiệm vụ năm học về chất lượng, phát triển toàn diện nhân cách học sinh.

Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lí trường học như sau: quản lí trường học là quản lí giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lí là các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lí trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lí chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lí là con người, cơ sở vật chất-kĩ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có.

>>>  Cơ sở lý luận trong quản lý đổi mới phương pháp dạy học

1.4. An toàn giao thông

Theo từ điển Tiếng Việt: “An toàn là đảm bảo tốt, không gây thiệt hại dù lớn hay nhỏ về vật chất và tính mạng của con người” [36]. An toàn giao thông là khái niệm luôn gắn liền với hoạt động của con người trong lĩnh vực giao thông. Theo tác giả Đỗ Đình Hoà (Học viện cảnh sát nhân dân) thì : “An toàn giao thông là sự việc đảm bảo không có những việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người. Khi các đối tượng tham gia giao thông, đang hoạt động trên địa bàn giao thông công cộng tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông, không có sự cố gây thiệt hại về người và tài sản cho xã hội” [18].

Đây là một khái niệm có tính chất khái quát cao và có ý nghĩa khoa học vì an toàn giao thông luôn gắn với hành vi của con người trong lĩnh vực giao thông song không nhất thiết phải có phương tiện giao thông (VD: Đi bộ trên vỉa hè). Quan niệm như vậy sẽ khái quát hơn so với việc coi an toàn giao thông là “bảo đảm an toàn khi đi trên các phương tiện giao thông” như một số tác giả khác.

An toàn giao thông phải luôn gắn liền với mọi người không kể ở đâu, lúc nào khi tham gia giao thông. An toàn giao thông gồm :

An toàn giao thông đường bộ.

An toàn giao thông đường sắt

An toàn giao thông đường thuỷ (gồm nội thuỷ và hằng hải).

An toàn giao thông hàng không.

Bên cạnh đó còn có những vấn đề an toàn giao thông hỗn hợp như đường sắt và đường bộ.

Như vậy, an toàn giao thông là các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông bao gồm việc chấp hành luật giao thông, có ý thức khi tham gia giao thông. An toàn giao thông còn là sự an toàn đối với người tham gia lưu thông trên các phương tiện đường bộ, hàng hải, hàng không, là cư xử phù hợp khi lưu thông trên các phương tiện giao thông.

1.5. Giáo dục an toàn giao thông

Giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi. Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy và người học cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau. Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – XH của các thế hệ loài người”.

Có nhiều người đưa ra các khái niệm về giáo dục an toàn giao thông:

Giáo dục an toàn giao thông là quá trình giao tiếp giữa người dạy và người học để chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực giao thông, nhằm định hướng, kêu gọi ý thức giao thông cao nhất cho mỗi cá nhân người học. Ở điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu hiện nay, giáo dục an toàn giao thông cũng có thể xem là một tính cộng đồng khi tất cả các hoạt động xã hội đều có lồng ghép sự kêu gọi ý thức tham gia giao thông ở mỗi người.

Giáo dục an toàn giao thông là quá trình hình thành và phát triển kĩ năng tham gia giao thông an toàn dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm gương của người khác;…

Giáo dục an toàn giao thông còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của nhà trường nhằm phát triển kĩ năng và ý thức tham gia giao thông cho học sinh.

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, giáo dục an toàn giao thông được hiểu là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cần thiết về giao thông để mỗi cá thể học sinh khi tham gia giao thông đều có sự định hướng, ý thức hình thành và sự chấp hành, tuân thủ các luật giao thông đường bộ do nhà nước quy định. Đề từ đó làm căn cứ cho việc phát triển ý thức học tập hành vi giao thông tự chủ ở mỗi cá nhân các em HS về sau.

>>> Một số lý luận trong công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường học

1.6. Quản lý giáo dục an toàn giao thông

Cũng như quản lí giáo dục nói chung, quản lí giáo dục an toàn giao thông là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Mục đích giáo dục giáo dục an toàn giao thông cho học sinh cũng chính là một trong những mục đích của quản lý, đây là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lý cùng với đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội, vv… bằng hành động của mình hiện thực hóa mục đích đó trong hiện thực.

Như vậy, “QLGD an toàn giao thông được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục an toàn giao thông cho học sinh của nhà trường”.

Từ đây ta có thể khái quát QLGD an toàn giao thông là sự tác động chủ đích, có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan… của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức mạnh các nguồn giáo dục, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục an toàn giao thông cho học sinh với chất lượng, hiệu quả cao nhất.

2. Giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường Tiểu học

Nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các vi phạm an toàn giao thông trong học sinh, góp phần thực hiện hiệu quả công tác giáo dục an toàn giao thông, Bộ GD-ĐT đã triển khai công tác giáo dục HSSV nắm vững các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông. Theo đó, các nội dung trọng tâm là các quy tắc giao thông đường bộ phù hợp với cấp học; quy định về đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy. Ngoài ra còn phổ biến cho HSSV các kiến thức về bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông; cảnh báo các lỗi vi phạm thường mắc phải, nguy cơ tai nạn và hậu quả phải gánh chịu khi vi phạm. Các sở GD-ĐT đã thực hiện chỉ đạo quyết liệt việc bắt buộc đội mũ bảo hiểm cho HS từ 6 tuổi trở lên; quy định rõ trách nhiệm của hiệu trưởng nhà trường trong việc triển khai và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Tổ chức tập huấn cho giáo viên; rà soát lại chương trình, nội dung, phương pháp, thời lượng giảng dạy về trật tự an toàn giao thông đang thực hiện…

Các trường thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy an toàn giao thông trong trường học; lấy thái độ, hành vi về thực hiện an toàn giao thông của HS là tiêu chí đánh giá rèn luyện, xếp loại. Giáo viên chủ nhiệm nhắc nhở, có hình thức kiểm tra, giám sát hàng ngày đối với HS, thực hiện nghiêm túc kế hoạch giảng dạy an toàn giao thông theo quy định, giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục an toàn giao thông trong các môn học.

Cùng với đó, việc yêu cầu sự vào cuộc của các cấp chính quyền, sự phối kết hợp của CMHS cũng được quan tâm. Hàng năm, các nhà trường tổ chức kí kết các văn bản cam kết giữa các lực lượng giáo dục trong việc thực thi giáo dục an toàn giao thông cho học sinh. Theo đó, trách nhiệm giữa các bên liên quan được quy định cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung: hình thành ý thức tham gia giao thông an toàn cho học sinh nhà trường.

 

2.1. Đặc điểm của học sinh Tiểu học

Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi. Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình. Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ.

Hệ thống các đặc điểm và đặc tính phát triển của lứa tuổi 6-11 thông qua các nghiên cứu khoa học đã được thông qua:

2.1.1. Nhận thức và sự phát triển trí tuệ ở học sinh tiểu học

Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như: Hoạt động vui chơi, hoạt động lao động, hoạt động xã hội. Sự phát triển trí tuệ hay còn gọi là phát triển nhận thức của học sinh tiểu học đã được các nhà khoa học nghiên cứu và xác định 2 quá trình từ cảm tính đến lý tính.

Nhận thức cảm tính là do các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Và cơ quan tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm.

 

Nhận thức lý tính gồm tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể .

Trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgic: Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em…

Tóm lại, phát triển nhận thức cho học sinh tiểu học là yêu cầu quan trọng đối với việc giáo dục an toàn giao thông cho thông cho trẻ. Tuy nhiên, sự phát triển nhận thức lứa tuổi này đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.

2.1.2. Tình cảm ở học sinh tiểu học

Theo kết quả các nghiên cứu của N.S.Leitec và P.I. Iakobson thì đứa trẻ 7 tuổi thường chưa có khả năng tri giác đúng đắn những biểu hiện giận dữ, sự sợ hãi và nỗi kinh hòang của người khác. Do sự thiếu hoàn thiện trong tri giác và sự hiểu biết những tình cảm mà làm cho học sinh tiểu học thường hay bắt chước máy móc người lớn trong việc biểu hiện tình cảm của mình. Vì thế có thể nói tình cảm của học sinh tiểu học chưa bền vững, dễ thay đổi . Khi đó, phương pháp giáo dục an toàn giao thông hiệu quả cho trẻ được kết hợp với các đặc tính trên, phát triển theo từng khối lớp đến từng em theo những kỹ năng phù hợp lứa tuổi

2.1.3. Nhân cách ở học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành. Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt. Việc hình thành nhân cách sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình. Giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lứa tuổi hình thành nhân cách này là vấn đề rất phức tạp nhưng không phải nan giải.

Tóm lại, học sinh tiểu học hồn nhiên, trong sáng, dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới, luôn hướng tới tương lai nhưng các em chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ, định hướng của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội.

2.2. Mục đích, ý nghĩa của giáo dục an toàn giao thông cho học sinh Tiểu học

Mục tiêu giáo dục an toàn giao thông ở trường tiểu học là một bộ phận quan trọng của quá trình giáo dục nói chung. Giáo dục an toàn giao thông góp phần thực hiện, mục đích chung của quá trình giáo dục, hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng của nhân cách người công dân để các em nghiêm túc tuân thủ luật pháp, hiểu được tầm quan trọng của vấn đề an toàn giao thông.

Giáo dục an toàn giao thông ở Tiểu học nhằm đạt được mục đích sau:

Giúp học sinh phát triển nhận thức an toàn giao thông và các kỹ năng thực tế để áp dụng vào các hành vi hàng ngày khi các em đi trên đường. Học sinh phải biết về luật và hệ thống phương tiện giao thông, VD: Tránh xe thì phải tránh về bên phải, vượt xe là bên trái. Khi sang đường phải đi đúng phần đường cho người đi bộ và tín hiệu đèn xanh mới được đi… Phải bắt đầu từ những cái sơ khai nhất như đèn đỏ phải dừng lại, đèn xanh được đi.

Từng bước xây dựng thói quen ứng xử có văn hoá, đúng pháp luật, xoá bỏ những thói quen tuỳ tiện vi phạm quy tắc giao thông, hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông góp phần xây dựng môi trường giao thông trật tự, an toàn, văn minh,thân thiện. Có thái độ không đồng tình với những hành vi vi phạm luật giao thông.

Hướng dẫn học sinh biết cách phòng tránh tai nạn giao thông khi đi trên đường phố có các tình huống phức tạp, biết lựa chọn đường đi bảo đảm an toàn và có thái độ ứng xử văn minh khi tham gia giao thông.

Căn cứ vào Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ ban hành về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế TNGT và ùn tắc GT, Sở GD và ĐT Hà Nội đã hướng dẫn các phòng GD và ĐT các trường học và các cơ sở GD trên toàn thành phố thực hiện kế hoạch triển khai công tác GD trật tự an toàn giao thông từ năm học 2008 – 2009 với mục đích: Nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, GV, HS, sinh viên trong toàn ngành khi tham gia GT phải chấp hành nghiêm chỉnh luật GT. Coi việc chấp hành mọi qui định trong các điều luật GT là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cán bộ công chức, GV, HS sinh viên ngành GD và ĐT Hà Nội, góp phần giải toả ùn tắc GT và làm giảm thiểu TNGT trên các tuyến phố của thành phố.

2.3.3. Nội dung giáo dục an toàn giao thông trong trường Tiểu học

Giáo dục an toàn giao thông cho các em học sinh tiểu học nhằm xây dựng ý thức giao thông cho các em từ nhỏ, hình thành những thói quen tốt sau này. Vì vậy, nội dung giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho học sinh tập trung nâng cao về nhận thức pháp luật và tâm lý pháp luật cho các em, cụ thể là:

Bám sát nội dung của Luật giao thông đường bộ (Đã được Quốc héi thông qua ngày 29/6/2001) và Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành ngày 12/07/2001, cùng những nghị định của Thủ tướng chính phủ, các văn bản dưới luật khác liên quan đến đảm bảo an toàn giao thông. Truyền thụ cho học sinh những hiểu biết có tính phổ biến, cần thiết về luật giao thông đường bộ và những quy định về giao thông đường sắt, đường thuỷ một cách dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với nhận thức của các em.

Lấy việc hình thành kỹ năng, hành vi đúng làm cơ bản. Giúp cho học sinh có hành vi đúng và biết cách xử lý các tình huống giao thông theo quy định của Luật giao thông đường bộ, khi đi đường học sinh không cần thuộc câu chữ trong luật nhưng có hành vi đúng theo quy định của Luật giao thông đường bộ.

Dạy từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó theo sự phát triển nhận thức của trẻ em, có nội dung trùng lặp (sự lặp lại) nhằm củng cố khắc sâu thêm và tăng cường rèn luyện kỹ năng.

Chủ đề giáo dục an toàn giao thông xoay quanh 8 nội dung sau:

Đi bộ và qua đường an toàn trên đường phố, trục lộ giao thông.

An toàn khi ngồi trên xe máy, xe đạp.

Cách đi xe đạp an toàn trên đường phố (kỹ năng đi xe an toàn).

An toàn khi đi trên các phương tiện giao thông công cộng.

Hiểu biết các hiệu lệnh điều khiển và chỉ huy giao thông (Điều khiển giao thông của cảnh sát giao thông).

Đèn tín hiệu giao thông, biển báo hiệu giao thông, vạch kẻ trên đường…

Những điều kiện an toàn, chưa an toàn của đường phố.

Các loại đường giao thông và phương tiện giao thông.

Tìm hiểu các nguyên nhân cơ bản gây tai nạn giao thông, cách phòng tránh tai nạn giao thông, trách nhiệm của học sinh trong việc đảm bảo an toàn giao thông.

Ngày 15 tháng 1 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi các Sở Giáo dục và Đào tạo Kế hoạch thực hiện công tác giáo dục an toàn giao thông trong trường học năm 2014,số 19 KH/BGDĐT. Theo đó, nội dung giáo dục an toàn giao thông đường bộ được quy định cụ thể đối với bậc Tiểu học như sau:

– Đi bộ trên đường, qua đường an toàn, đi xe đạp trên đường an toàn.

– Ngồi trên xe đạp, xe máy an toàn chấp hành nghiêm việc đội mũ bảo hiểm; an toàn khi đi ô tô, xe buýt.

– Hiệu lệnh của tín hiệu đèn giao thông, hiệu lệnh và chỉ dẫn của báo hiệu đường bộ, hiệu lệnh của CSGT; văn hóa khi tham gia giao thông.

2.3. Các hình thức giáo dục an toàn giao thông trong trường Tiểu học

Trong các trường Tiểu học hiện nay, giáo dục an toàn giao thông được tiến hành theo một số hình thức chủ yếu sau:

2.3.1. Dạy, học an toàn giao thông theo tài liệu của Bộ GD&ĐT phối hợp với UB an toàn giao thông Quốc gia biên soạn từ lớp 1 – lớp 5

Điều 6 Luật giao thông đường bộ quy định: “Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trách nhiệm đưa pháp luật giao thông đường bộ vào giảng dạy trong nhà trường phù hợp với các cấp học ngành học.”

Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế TNGT và ùn tắc GT: Bộ GD & ĐT có trách nhiệm: Ban hành chương trình GDTT an toàn giao thông phù hợp trong nhà trường, tăng thời lượng giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa về TT an toàn giao thông. Thực hiện chương trình giảng dạy TT an toàn giao thông mới từ niên học 2008-2009 ở tất cả các cấp học. Trên cơ sở các quy định trên, trong những năm qua, ngành giáo dục đã triển khai biên soạn và đưa vào giảng dạy bộ tài liệu giáo dục an toàn giao thông cho học sinh các bậc học từ mầm non đến đại học. Riêng đối với Tiểu học, từ lớp 1 đến lớp mỗi lớp có 6 bài học về an toàn giao thông trong Tài liệu Giáo dục an toàn giao thông, lớp 5 có 5 bài học về an toàn giao thông trong Tài liệu Giáo dục an toàn giao thông cho học sinh Lớp 5. Nội dung được hình ảnh hoá một cách sinh động, gắn với thực tế, giúp học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu, được biên soạn riêng cho từng lớp, mỗi lớp có nội dung chủ đề khác nhau, hoặc có cùng chủ đề nhưng khác nhau ở nội dung bài học cũng như các câu hỏi và bài tập, phù hợp với lứa tuổi của học sinh ở mỗi lớp. Các chủ đề cho từng lớp phù hợp với các chủ đề ngoại khoá về an toàn giao thông được thực hiện trong trường phổ thông.

2.3.2. Thực hiện dạy lồng ghép trong các môn học văn hóa: Đạo đức; tự nhiên xã hội, Khoa học…

Dạy lồng ghép có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học các môn học như: lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông… vào các môn học có liên quan như Đạo đức; tự nhiên xã hội, Khoa học… Cụ thể trong chương trình Tiểu học có:

Lớp 1: 3 tiết trong môn Tự nhiên – Xã hội và Đạo đức .

Lớp 2: Thời lượng: 2 tiết trong môn Tự nhiên – Xã hội.

Lớp 3: 1 tiết trong môn Tự nhiên – Xã hội.

Lớp 4: 1 tiết ở chủ đề Con người và sức khỏe trong môn Khoa học; 2 tiết trong môn Đạo đức.

Lớp 5: 1 tiết ở chủ đề Con người và sức khỏe trong môn Khoa học.

2.3.3. Tổ chức thông qua hoạt động GDNGLL

Tổ chức hội thi vẽ tranh, hội thi học tốt thể hiện những hiểu biết về an toàn giao thông.

Tổ chức sân chơi về an toàn giao thông nhằm thực hành kỹ năng an toàn giao thông đường bộ.

Tổ chức ký cam kết thực hiện an toàn giao thông giữa trường, học sinh, gia đình.

Sân khấu hóa: tổ chức luyện tập và diễn những tiểu phẩm vui…

-Học sinh tham gia thi Giao thông thông minh trên trang web: http://gttm.go.vn/ Cuộc thi Giao thông thông minh trên Internet là một hoạt động nhằm giáo dục kiến thức, kỹ năng, thay đổi nhận thức, hành vi của học sinh, sinh viên và các đối tượng khác khi tham gia giao thông, góp phần xây dựng văn hóa giao thông.

3. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường Tiểu học

Chức năng QLGD là các hoạt động xác định được chuyên môn hóa, nhờ đó mà chủ thể quản lí tác động lên đối tượng để thực hiện mục tiêu. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý hoạt động GD an toàn giao thông là một bộ phận của quản lý giáo dục. Do đó quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông theo các nội dung cơ bản sau:

3.1. Lập kế hoạch giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học

Nhiệm vụ cốt yếu của nhà quản lý là làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức. Đó là chức năng lập kế hoạch (hoạch định). Lập kế hoạch là quá trình thiết lập, dự tính một cách khoa học các mục tiêu, nội dung, phương pháp, trình tự, thời gian tiến hành các công việc, chuẩn bị huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin,…) để triển khai các hoạt động một cách chủ động nhằm đạt kết quả cao nhất các mục tiêu giáo dục của nhà trường. Kế hoạch hoạt động GDan toàn giao thông có thể tách riêng hoặc nằm trong kế hoạch tổng thể của một nhà trường, được xây dựng theo từng năm học, mang tính pháp quy, được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp phê duyệt.

Hiệu trưởng dựa trên những định hướng lớn về hoạt động giáo dục an toàn giao thông của Đảng, chính phủ, Bộ GD&DT, các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cấp quản lý và căn cứ vào điều kiện thực tế của nhà trường về tổ chức bộ máy, về nguồn lực và các điều kiện khác để xây dựng kế hoạch hoạt động. Kế hoạch phải mang tính cụ thể, tức là xác định mục tiêu cần đạt, dự kiến các nguồn lực để thực hiện (nhân lực, tài lực, vật lực), phân bố thời gian hợp lý và quyết định những biện pháp có tính khả thi để thực hiện. Kế hoạch đó phải thể hiện được các yêu cầu chủ yếu sau:

Khảo sát tình hình thực trạng nhằm định hướng các nội dung và hình thức giáo dục an toàn giao thông sao cho phù hợp với đặc điểm của nhà trường, của học sinh, của đội ngũ giáo viên,…

Xác định mục tiêu của hoạt động GD an toàn giao thông: Cần chỉ ra hoạt động GD an toàn giao thông nhằm vào đối tượng nào, giáo dục để đối tượng ấy thu nhận được những kiến thức, kỹ năng và có thái độ như thế nào. Nói cụ thể hơn là sau khi được giáo dục về an toàn giao thông thì các em học sinh sẽ đạt được mức độ như thế nào so với yêu cầu của pháp luật đối với một người tham gia giao thông .

Dự kiến các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động GD an toàn giao thông: Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng được chọn ai, ở đâu để làm giảng viên, chi phí cho mọi hoạt động về GD an toàn giao thông sẽ ở nguồn nào, tài liệu và phương tiện vật chất khác (như hội trường, máy móc thiết bị, tranh ảnh tài liệu, mô hình, …) được khai thác ở đâu, thời lượng để thực hiện chương trình GD an toàn giao thông và tổ chức vào thời gian nào trong năm học, …

Dự kiến các biện pháp thực hiện và hình thức thực hiện mục tiêu GD an toàn giao thông: Dự kiến các biện pháp và hình thức tổ chức là việc làm cũng không kém phần quan trọng. Việc này được thực hiện khi thực hiện chương trình GD an toàn giao thông. Nó thể hiện việc tổ chức giáo dục tập trung cả thời gian, hay tập trung từng giai đoạn, tổ chức thành lớp hay theo nhóm, ở tại trường hay tổ chức kết hợp với tham quan thực tế, …

3.2. Tổ chức hoạt động và tổ chức bộ máy GDan toàn giao thông cho học sinh tiểu học

Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau để thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD ý thức an toàn giao thông cho HS, cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác, đó chính là chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục an toàn giao thông ở trường học. Vai trò của một bộ phận, cá nhân hàm ý bộ phận hay cá nhân đó hiểu rõ công việc mình làm, trong một phạm vi nào đó, nhằm mục đích, mục tiêu nào đó, công việc của họ ăn khớp như thế nào với các cá nhân hay bộ phận khác, và những thông tin cần thiết để hoàn thành công việc.

Như vậy, chức năng tổ chức trong quản lý GD an toàn giao thông là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trong nhà trường Tiểu học. Đồng thời việc thực hiện chức năng này còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc, và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ, giáo viên, các lực lượng khác – người vận hành các bộ phận của tổ chức.

Việc tổ chức hoạt động và tổ chức bộ máy GD an toàn giao thông trong nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu về GD an toàn giao thông cho học sinh và tạo nên sức mạnh của tập thể, nếu việc phân phối và sắp xếp các nguồn lực được tổ chức một cách khoa học và hợp lý. Chúng ta có thể thực hiện chức năng này như một quá trình gồm 5 bước sau:

Lập danh sách các công việc cần hoàn thành để đạt được mục tiêu về GD an toàn giao thông cho học tiểu học.

Phân chia toàn bộ công việc thành các nhiệm vụ để các thành viên hay tổ nhóm trong và ngoài nhà trường thực hiện một cách thuận lợi và hợp logic.

Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả.

Thiết lập một cơ chế điều phối, tạo thành sự liên kết hoạt động giữa các thành viên hay bộ phận chuyên môn, chức năng tạo điều kiện đạt được mục tiêu giáo dục một cách dễ dàng.

Theo dõi, đánh giá tính hiệu nghiệm của của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều chỉnh nếu cần thiết để đảm bảo đạt được mục tiêu theo đúng tiến độ đã định.

Như vậy, để thực hiện được chức năng quan trọng này, hiệu trưởng hình thành một cấu trúc tổ chức tối ưu của hệ thống quản lý trong nhà trường về GD an toàn giao thông. Đó là sự phân quyền, phân nhiệm cho phó hiệu trưởng và các tổ chuyên môn; là việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự; là những quy định về cơ chế hoạt động phối hợp giữa chuyên môn với các đoàn thể trong nhà trường cùng bảo đảm thực hiện mục tiêu về GD an toàn giao thông đã đề ra; là sự phân bố nguồn lực và quy định thời gian cho các bộ phận nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định. Trong quá trình hoạt động của nhà trường, hiệu trưởng phải xác lập được một mạng lưới các mối quan hệ tổ chức và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong nhà trường cũng như mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng xã hội để góp phần GD an toàn giao thông cho học sinh đạt hiệu quả tốt nhất.

3.3. Chỉ đạo các hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học

Chỉ đạo là chức năng được thể hiện rõ trong nội dung của khái niệm quản lý. Sau khi lập kế hoạch và cơ cấu bộ máy GD an toàn giao thông trong nhà trường thì khâu vận hành và điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo. Nội dung của chức năng này là quá trình tác động của hiệu trưởng tới mọi thành viên của nhà trường, nhằm biến những yêu cầu chung về hoạt động GD an toàn giao thông của nhà trường thành nhu cầu, hoạt động của từng người, trên cơ sở đó mọi người tích cực tự giác tham gia và đem hết khả năng của mình để làm việc. Do vậy việc chỉ đạo các hoạt động GD an toàn giao thông là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu GD an toàn giao thông cho học sinh trong các nhà trường tiểu học.

Việc chỉ đạo các hoạt động GD an toàn giao thông, Hiệu trưởng cần thực hiện các nội dung sau đây:

Hiệu trưởng (hoặc trưởng các bộ phận) thực hiện quyền chỉ huy theo từng mảng công việc được giao và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ đã được nêu trong kế hoạch. Ra những quyết định quản lý đúng và kịp thời.

Thường xuyên đôn đốc, động viên và khuyến khích các cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh thực hiện.

Thực hiện giám sát việc triển khai nhiệm vụ của các cá nhân hoặc nhóm, bộ phận. Nếu có sai sót hoặc không hợp tình hình thực tiễn thì cần có phương án điều chỉnh kịp thời.

+ Thúc đẩy các hoạt động phát triển chung trong nhà trường.

Để thực hiện tốt những nội dung trên, người Hiệu trưởng phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.

3.4. Kiểm tra, đánh giá các hoạt động GD an toàn giao thông cho học sinh tiểu học

Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý trong việc quản lý các hoạt động GD an toàn giao thông nói riêng, cũng như quá trình quản lý nói chung. Có thể nói, chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý. Kiểm tra, đánh giá là một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một bộ phận trong quá trình thực hiện quyết định. Ngoài ra, còn có thể hiểu kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lý (GV, NV, HS,…) với các quyết định quản lý đã lựa chọn.

Trong việc kiểm tra, đánh giá các hoạt động GD an toàn giao thông, chức năng này thể hiện việc thực hiện các hoạt động kiểm tra/giám sát một cách chủ động đối với các công việc liên quan đến GD an toàn giao thông của nhà trường nhằm tìm ra, khẳng định những ưu điểm, phát hiện những hạn chế, sai sót, kịp thời thực hiện điều chỉnh cần thiết để hoạt động đi đúng hướng, đảm bảo thực hiện mục tiêu cuối cùng là hình thành ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho học sinh. Trong quá trình vận hành các hoạt động giáo dục an toàn giao thông của nhà trường, nếu không đạt được kết quả mong muốn, Hiệu trưởng cần phải áp dụng các biện pháp điều chỉnh cần thiết để đạt được mục tiêu.

Quá trình kiểm tra/ giám sát là tiến trình điều chỉnh và tự điều chỉnh liên tục và thường diễn ra theo trình tự sau:

Thiết lập các tiêu chuẩn mà một học sinh cần đạt được khi kết thúc một quá trình GD an toàn giao thông.

Đo lường mức độ đạt được của học sinh so với tiêu chuẩn đã đề ra để có cơ sở tiến hành bước tiếp theo..

Tiến hành điều chỉnh sự lệch chuẩn nếu kết quả đo lường không đạt được mục tiêu. Khi đó, Hiệu trưởng phải xem xét lại quá trình thực hiện nhằm phát hiện những biện pháp, cách thức tổ chức chưa hợp lý để tiến hành điều chỉnh lại những biện pháp tổ chức của mình.

Tiến hành điều chỉnh các tiêu chuẩn nếu cần thiết. Trên thực tế, có những vấn đề khi triển khai thực hiện mới lộ ra những bất cập, thiếu tính khả thi. Khi đó, việc kiểm tra giám sát sẽ giúp Hiệu trưởng thấy có thể có những tiêu chuẩn, tiêu chí không còn phù hợp phải thay đổi.

Như vậy, kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục an toàn giao thông là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng về hoạt động giáo dục an toàn giao thông, qua đó khuyến khích những nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch và đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời, nhằm giúp các bộ phận và cá nhân đạt được các mục tiêu về giáo dục an toàn giao thông cho học sinh đã đề ra. Trong quá trình thực hiện vai trò kiểm tra, hiệu trưởng cần phải xác định được kiểm tra, đo lường việc thực thi nhiệm vụ, so sánh, đối chiếu với mục tiêu đã đề ra và đưa ra quyết định điều chỉnh cần thiết. Cần thường xuyên đánh giá, sơ kết những thay đổi có được, mà không phải đợi đến cuối học kỳ hay cuối năm.

4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục an toàn giao thông

4.1. Các nhân tố chủ quan

4.1.1. Nhà quản lý

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về chất lượng và hiệu quả giáo dục của trường mình. Việc đưa giáo dục an toàn giao thông vào trong trường học có thực hiện thành công hay không, đầu tiên phải phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai trong thực tiễn của hiệu trưởng. GD an toàn giao thông ở trường không thể triển khai được nếu hiệu trưởng không nhận thức đúng đắn về sự cần thiết phải giảng dạy an toàn giao thông. Để có thể hướng dẫn người dưới quyền thực hiện, hiệu trưởng phải có trình độ tổ chức và năng lực triển khai ứng dụng những lý luận dạy học mới trong thực tiễn nhà trường, biết tổ chức học tập và tổng kết kinh nghiệm để nhân rộng. Ngoài ra, uy tín của hiệu trưởng trong tập thể sư phạm có tác dụng như chất xúc tác, thúc đẩy sự phát triển của nhà trường.

4.1.2. Giáo viên

Giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy bởi vì giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức, kiến thức theo mục đích của chương trình giáo dục an toàn giao thông. Do đó giáo viên phải trang bị chuẩn về chuyên môn. Giáo viên không chỉ nắm vững nội dung một bài học mà mình truyền đạt mà phải nắm được kiến thức của cả chương trình môn học, phần học, có như vậy giáo viên mới liên kết, hệ thống hoá kiến thức cần thiết giúp học sinh dễ nắm bắt những nội dung chính của bài học, môn học, phần học. Khi giáo viên chuẩn về kiến thức chuyên môn sẽ tự tin trong quá trình truyền thụ, tránh được sự phụ thuộc vào giáo án, chủ động dẫn dắt người học tiếp cận kiến thức theo mục đích của mình.

Ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, giáo viên cần phải có kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tiễn. Giàu kiến thức thực tiễn giúp giáo viên làm sinh động bài giảng, gắn kết giữa nội dung bài giảng với thực tiễn thông qua những minh hoạ, ví dụ từ thực tiễn; từ đó người học dễ tiếp thu bài, dễ nhớ bài và điều quan trọng là người học thấy nội dung bài giảng gắn liền với cuộc sống chứ không phải xa rời, khó hiểu. Cùng với đó, năng lực tổ chức hoạt động giáo dục an toàn giao thông cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả GD. Biểu hiện cụ thể của năng lực này là thầy giáo biết giao việc cho học sinh, biết hướng dẫn các em làm việc, theo dõi và giúp đỡ kịp thời những em gặp khó khăn để em nào cũng làm việc có hiệu quả. Trong quá trình đó, thầy giáo còn cần gây được hứng thú học tập cho trẻ, kích thích sự suy nghĩ độc lập, sáng tạo của các em.

4.1.3. Học sinh

Dạy học là quá trình tác động biện chứng giữa người dạy và người học, người học là đối tượng tiếp nhận thông tin mà người dạy hướng đến, do đó, người học có tác động đến chất lượng hoạt động của người dạy.

Trong quan niệm mới về giáo dục, người học là trung tâm của quá trình giảng dạy, người học tiếp nhận kiến thức không phải một cách thụ động mà là chủ thể của quá trình nhận thức, chủ động trong việc tiếp nhận thông tin. Do đó, chất lượng giảng dạy phải được xét đến việc tỷ lệ tri thức mà người học tiếp nhận được. Mặt khác, sự tham gia các hoạt động của người học trong quá trình tiếp nhận tri thức có ảnh hưởng đến tâm lý người dạy, tạo sự hưng phấn, khơi sự nhiệt huyết của người dạy. Các em ở tiểu học là khó truyền đạt khó tiếp thu nhất, vì có em phát triển chậm, nhanh, bình thường, ở nhiều mức độ khác nhau. Mục tiêu của GD an toàn giao thông tiểu học hiện nay, là tạo được sự tương tác giáo tiếp an toàn giao thông giữa học sinh và CMHS.

4.1.4. Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học

Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học có tác động nhất định đến quá trình dạy học. Cơ sở vật chất tốt tạo môi trường thoải mái cho cả người dạy và người học, do đó, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu và ghi nhớ bài được hiệu quả hơn. Phương tiện dạy học tốt, đặc biệt là phương tiện hiện đại giúp giáo viên tăng thêm sự hấp dẫn của bài học, lôi cuốn học viên qua những hình ảnh, phim minh hoạ hoặc những sơ đồ hoá kiến thức nội dung bài giảng giúp học sinh dễ nhớ bài, nhớ lâu hơn.

4.1.5. Gia đình

Gia đình, người thân có ảnh hưởng rất lớn tới trẻ em khi giáo dục ý thức tham gia giao thông cho học sinh. Việc gia đình chấp hành luật giao thông như thế nào, ý thức tuân thủ khi tham gia giao thông ra sao,… đều có ảnh hưởng trực tiếp tới việc xây dựng và hình thành văn hóa giao thông cho học sinh.

4.2. Các nhân tố khách quan

Môi trường : Các phương tiện giao thông đa dạng, hình thức tham gia giao thông, … cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục thực tế cho trẻ lứa tuổi học sinh tiểu học. Môi trường thực tiễn tác động tới nhận thức và hành vi của trẻ, giúp trẻ chiêm nghiệm những bài học trên lớp. Nếu những gì các em nhìn nhận từ môi trường là phù hợp tiêu chuẩn của xã hội thì các em sẽ có điều kiện thực hành những điều các em đã được học trong nhà trường, từ đó góp phần hình thành ý thức và kĩ năng tham gia giao thông. Nếu không, những bài học từ nhà trường sẽ không đạt được hiệu quả giáo dục.

Giáo dục giao thông ngoài nhà trường: So với việc giảng dạy trong nhà trường với các giáo trình giáo dục an toàn giao thông trên lớp, các hình thức ngoại khóa an toàn giao thông, các môn dạy lồng ghép cho đến các hình thức giáo dục, hoạt động giáo dục xã hội an toàn giao thông,.. thì tình hình tuyên truyền giáo dục thực tiễn về giao thông đường bộ cũng có tác động đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân, trong đó có cả học sinh.

Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ : Việc quy hoạch tổ chức giao thông theo các tuyến, việc quy hoạch lòng đường hè phố văn minh, sạch đẹp,… giúp cho HS dễ dàng vận dụng những bài học từ trường lớp, từ đó hình thành ý thức tham gia GT

 

5. Tài liệu tham khảo

  1. Bùi Xuân Cậy (2007), Đường đô thị và tổ chức giao thông, NXB Giao thông vận tải.
  2. Nguyễn Như Chiến (2009), Nghiên cứu hành vi chấp pháp luật giao thông đường bộ của học sinh THCS, Luận án tiến sĩ tâm lý học, Viện Tâm lý học.
  3. Vũ Sĩ Doanh (2005), Những giải pháp tăng cường công tác đảm bảo trật tự ATGT đường bộ của của lực lượng CSGT giai đoạn 1001 – 2010, đề tài khoa học cấp Bộ công an, mã số NC 2000-C26-005.
  4. Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai (1995), Bàn về giáo dục pháp luật, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  5. Trinh Hồng Hà (3/2003), Phân tích một số chức năng cơ bản của hiệu trưởng trong quản lí trường học hiện nay, Thông tin khoa học giáo dục, Tr.29-33.
  6. Bùi Minh Hiền (2006-Chủ biên), Quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  1. Bùi Minh Hiền, Nguyễn Vũ Bích Hiền (Đồng chủ biên – 2015), Quản lý và lãnh đạo nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  2. Đặng Thành Hưng (2012), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, Trường DHSP2, HN
  3. Đặng Thành Hưng (2010), Đặc điểm của quản lý giáo dục và quản lý trường học trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Tạp chí GD số 22/10 HN
  4. Đỗ Đình Hòa (2006), Điều tra tai nạn giao thông, NXB Công an nhân dân.
  5. Lê Văn Hồng (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
  6. Trần Kiểm (2006), Khoa học Quản lý giáo dục. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục.
  1. Trần Kiểm (2013), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm.
  2. Trần Kiểm (2014), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm.
  3. Harold Kontz (1993), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB KHKT, Hà Nội
  4. M.I. Kônđacốp (1984), Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, Trường Cán bộ QLGD Henry Fayol (1949), Thuyết quản lý hành chính
  1. Mary Parker Follet, Học thuyết quản lý

 

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo