Một số vấn đề lý luận chung về khu vực công và quản trị tài chính công

5 (100%) 1 vote

Một số vấn đề lý luận chung về khu vực công và quản trị tài chính công
Một số vấn đề lý luận chung về khu vực công và quản trị tài chính công

1. Khu vực công

Trong lĩnh vực nghiên cứu và khoa học trên thế giới ở giai đoạn hiện nay, đã và đang có khá nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra để hiểu như thế nào là một khu vực công. Theo giáo sư Derbyshire (1987), khu vực công (public sector) được hiểu là một số cơ quan vận hành để điều tiết các hoạt động của con người để cho loài người có thể sống và làm việc cùng nhau một cách hợp lý nhất có thể. Đối với Hiệp hội kế toán viên Michigan (1990) thì khu vực công là bất kỳ thực thể nào do trung ương, bang hay chính phủ địa phương sở hữu và được thành lập theo luật pháp, đồng thời những tổ chức này phải có trách nhiệm trình bày báo cáo tài chính hàng năm cho quốc hội phê duyệt. Còn dựa vào Từ điển Longman of Contemporary English (2012) thì khu vực công được hiểu là toàn bộ các ngành công nghiệp hoặc dịch vụ trong một quốc gia mà được sở hữu và quản lý bởi nhà nước, chẳng hạn như giáo dục, y tế hay giao thông vận tải.

Như vậy, có thể hiểu khu vực công là một khái niệm được dùng để xác định một tập hợp gồm có các cơ quan quản lý nhà nước của quốc gia, các tổ chức và doanh nghiệp công và cả hệ thống ngân hàng trung ương. Đây được xem là một thành phần cơ bản và không thể thiếu của nền kinh tế và cuộc sống xã hội. Thông qua khu vực này, chính phủ chịu trách nhiệm chính và thực hiện việc phân phối hàng hóa và dịch vụ công đến mọi miền trong cả nước. Nói cách khác, khu vực công được xem là một bộ phận hoặc một thành phần của nền kinh tế có liên quan đến việc cung cấp các sản phẩm công cơ bản.

Xem thêm >>>  Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn

2. Vai trò cơ bản của khu vực công

Trên thế giới, hiện tại thì việc tổ chức KVC có thể thực hiện theo nhiều mô hình khác nhau, chẳng hạn như nhà nước quản lý trực tiếp hay nhà nước cấp ngân sách hoạt động hay thành lập các đơn vị có sự liên kết với những tổ chức khác bên ngoài. Việc tổ chức KVC của quốc gia theo mô hình nào sẽ tùy thuộc vào chính sách của Nhà nước, tổ chức Đảng, đoàn thể, tổ chức kinh tế chính trị xã hội, các chính sách công… để có được một mô hình phù hợp nhất với quốc gia của mình. Nhưng dù theo mô hình nào hay cấu trúc như thế nào hay vận hành thực tế ra sao thì khu vực công luôn là một thành tố quan trọng trong nền kinh tế một vùng, lãnh thổ cũng và không thể thiếu trong bất kỳ quốc gia nào và đóng một số vai trò cơ bản như sau:

Thứ nhất, hướng đến sự phát triển của kinh tế: hiện nay, một tỷ trọng không nhỏ tại các nước thì sự phát triển kinh tế phụ thuộc khá lớn vào sự phát triển của các ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp nặng, chẳng hạn như sắt, thép, vận tải biển, khai thác mỏ…bởi những ngành này sẽ cung cấp nguyên liệu thô cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để vận hành được những doanh nghiệp trong lĩnh vực này thì cần một lượng vốn khổng lồ và điều này chỉ có thể được tài trợ bởi hệ thống tài chính khu vực công của chính phủ.

Thứ hai, hướng đến sự phát triển vùng, khu vực: các DN thuộc khu vực tư nhân thường sẽ bỏ qua sự quan tâm đối với những vùng nghèo khó hoặc lạc hậu, nhưng đối với các đơn vị công thì lại được giao hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ trên tất cả mọi vùng trong cả nước. Bằng cách này, KVC giúp giảm dần và hướng đến loại bỏ sự mất cân bằng giữa các khu vực và mang lại sự phát triển chung cho quốc gia.

Thứ ba, tạo việc làm cho nhân công: các khu vực công thì cũng cần một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức làm việc với số lượng không nhỏ. Ngoài ra trong khu vực công cũng cần tuyển dụng nhân sự với đa dạng các trình độ khác nhau. Điều này sẽ cung cấp một lượng việc làm khá lớn cho các cá nhân trong xã hội.

Thứ tư, không vì mục đích lợi nhuận: các tổ chức trong khu vực công đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực, cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội mà không có sự quan tâm, cân nhắc đến mức lợi nhuận mà tổ chức có thể đạt được.

Thứ năm, bảo vệ một số rủi ro cơ bản trong quá trình hoạt động: một số ngành nghề mang tính chất đặc thù do điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng cũng như nguồn vốn nên một số lĩnh vực đòi hỏi sự độc quyền nhất định. Đồng thời, một số rủi ro cơ bản trong hoạt động sẽ được nhà nước, chính phủ có thể đảm bảo.

Tham khảo thêm >>> Khái niệm đầu tư quốc tế và những nguồn vốn đầu tư quốc tế

3. Quản trị tài chính trong khu vực công

Kế toán thu, chi ngân sách là công cụ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thực tế có liên quan đến các hoạt động giao dịch thu, chi từ NSNN mà chính phủ cũng như các đơn vị thuộc KVC thực hiện. Vì vậy, để có một chế độ kế toán hữu hiệu thì việc quản trị tài chính trong KVC được xem là bước đầu tiên và là điều tất yếu phải thực hiện để cung cấp một cơ chế tài chính rõ ràng, minh bạch và đồng bộ.

3.1 Khái niệm quản trị tài chính khu vực công

Về cơ bản, quản trị tài chính khu vực công sẽ tập trung vào nguồn lực công của xã hội trong một quốc gia hay của các nước trên thế giới và liên quan mật thiết đến việc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ công. Hiện nay có khá nhiều khái niệm về vấn đề này. Theo Khuôn mẫu lý thuyết chung của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 2009) thì quản trị tài chính công (public financial management – PFM) là một quá trình thực hiện nhằm cung cấp những cách thức để sử dụng các nguồn lực công một cách hiệu quả và có thể giải trình ngân sách khi cần thiết, đồng thời giúp duy trì kỷ luật tài chính của một quốc gia. Theo đó, kỷ luật tài chính là cách kiểm soát ngân sách hiệu quả bằng việc thiết lập các mức trần về chi tiêu công của chính phủ. Việc đó đặt ra yêu cầu kiểm soát chi tiêu theo phương diện tổng thể, và nếu không có kỷ luật về tài chính thì sẽ không đạt được sự hữu hiệu và thực hiện các ưu tiên về chính sách và chương trình.

Còn theo Quyết định số 432/2003/QĐ-TTg ban hành 21.04.2003 thì mục tiêu của quản lý tài chính công chính là hiện đại hóa công tác quản lý NSNN từ khâu lập kế hoạch, thực hiện, báo cáo và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan; nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính công; hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng ngân sách; đảm bảo an ninh tài chính trong quá trình phát triển và hội nhập của quốc gia.

Dựa theo các khái niệm trên thì việc quản trị tài chính công được hiểu chính là các một bộ các chính sách, các hoạt động nhằm đảm bảo sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực công có giới hạn trong phạm vi một quốc gia, tức là bảo đảm rằng các nguồn kinh phí công được dùng đúng mục đích, cung cấp thông tin cho chính phủ để ra quyết định và để đánh giá được sự hữu hiệu đối với các chính sách đã ban hành, tạo ra sự bình ổn trong sự phát triển kinh tế, xã hội.

Tóm lại, nói một cách khái quát nhất thì quản trị tài chính khu vực công chính là một hệ thống liên hệ đến khía cạnh tài chính của việc sử dụng các dịch vụ, hàng hóa công mà những điều này được định hướng trước và sẽ được kiểm soát theo các mục tiêu của khu vực công. Một chu trình cơ bản của mô hình PFM sẽ bao gồm 4 thành phần và chúng sẽ tác động qua lại, có mối quan hệ chặt chẽ và vận hành theo một trình tự thống nhất để làm cho tài chính công của quốc gia đạt được sự bền vững.

Theo mô hình PFM trên cho thấy trình tự các quy trình khác nhau và nội dung cũng có những điểm khác biệt cơ bản. Quá trình này bao gồm những hoạt động cụ thể sau đây:

– Lập kế hoạch và dự toán ngân sách: đây là giai đoạn phân bổ nguồn lực công của một quốc gia và cùng phối hợp với các bộ phận chức năng khác để xem xét mức độ chi tiêu cho từng nội dung.

– Thực hiện ngân sách: đây là giai đoạn quản trị các hoạt động thuộc về phương diện tài chính (như doanh thu, thanh toán, thu mua, kiểm soát và quản trị dòng tiền).

– Kế toán và báo cáo: sau khi đã thực hiện theo như dự toán đề ra thì sẽ thông qua cách thức ghi chép của kế toán để thiết lập các báo cáo phù hợp với từng quốc gia nhằm cung cấp thông tin cho người sử dụng.

– Kiểm toán: đây là giai đoạn kiểm tra, xem xét, phân tích và đánh giá của đội ngũ kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán nhà nước.

Như vậy, mục tiêu cơ bản của PFM là quản lý nguồn lực tài chính có giới hạn với mục đích là nhằm bảo đảm tính kinh tế và tính hiệu quả trong việc phân phối đầu ra theo yêu cầu để đạt được những kết quả tốt cũng như đáp ứng được nhu cầu cộng đồng.

3.2  Vai trò của việc quản trị tài chính công

Quản trị tài chính công là một yếu tố quan trọng đối với một quốc gia vì việc này mang lại một phương thức quản lý tài sản công của toàn dân, phân bổ đến các đối tượng theo đúng nhu cầu và đạt được hiệu quả như mong đợi, tránh lãng phí, thất thoát. Cụ thể, việc quản trị tài chính công là công việc cần thiết phải quan tâm và là một công cụ tất yếu đối với nhà nước của bất kỳ quốc gia nào vì những lý do cơ bản sau:

Hệ thống PFM như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho chính phủ của một nước: theo đó, hệ thống PFM này sẽ giúp xác định tổng số tiền cụ thể cho từng năm tài chính chuyển vào NSNN của một quốc gia và sẽ đưa ra cách thức sử dụng nguồn kinh phí đó như thế nào để mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư.

Hệ thống PFM phải đủ mạnh để giúp cho chính phủ phân phối các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống nhằm tạo sự tăng trưởng bền vững trong nền kinh tế vĩ mô: các nhà làm quyết định cần có sự hiểu biết về sự ảnh hưởng của việc quyết định ngân sách đến các yếu tố vĩ mô khác nhau trong xã hội như sự tăng trưởng, lạm phát, nguồn cung tiền, nợ công và cán cân thanh toán.

Phân phối dịch vụ hữu hiệu và giảm nghèo hiệu quả cần phải căn cứ vào một hệ thống PFM hoạt động tốt: cung cấp hiệu quả đòi hỏi nhiều đối với quản trị tài chính, đặc biệt là dựa trên các chính sách hợp lý, có tính nhạy cảm theo ngành, nhưng một khi chính sách và các nguồn lực đã được đặt vào đúng vị trí thì lại được yêu cầu một hệ thống cung cấp nguồn vốn đáng tin cậy và đúng thời điểm.

Quá trình mua sắm đáng tin cậy cần thiết cho những mục đích hiệu quả và trách nhiệm về việc giải trình: điều này đảm bảo các quỹ công sẽ được sử dụng một cách thích hợp với các yêu cầu mua sắm một cách rõ ràng và minh bạch đối với quá trình mua hàng hóa và dịch vụ với nguồn tiền công.

Hệ thống PFM cũng là phương tiện quan trọng trong việc giám sát và đánh giá các chính sách và dự án thuộc khu vực công: nhà hoạch định chính sách cần phải hiểu được chi phí của chính sách mà họ áp dụng. Điều này không thể thực hiện được nếu mà không có một hệ thống PFM hiệu quả.

Hệ thống PFM lành mạnh sẽ làm cho đối tác trong và ngoài nước cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính nhiều hơn thông qua chính phủ: các khoản kinh phí do các đơn vị viện trợ và được chuyển qua hệ thống chính phủ sẽ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính đối với nhà nước và làm tăng nguồn lực cho quá trình cải cách.

Cải thiện hiệu suất doanh thu là rất quan trọng để tăng các nguồn lực công có sẵn cho sự phát triển: đòi hỏi một sự cải cách trong chính sách, gồm cải cách và việc thực thi trong lĩnh vực thuế phát sinh từ các hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu.

Tham khảo thêm >>> Những vấn đề lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.3  Các yêu cầu trong mô hình quản trị tài chính công

Hệ thống PFM gồm nhiều hoạt động liên tiếp và đan xen nhau, từ việc quản lý dòng tiền hàng ngày cho đến cụ thể hóa từng mục tiêu, chính sách và chiến lược trung, dài hạn. Với những công việc này thì việc PFM cần phải thỏa mãn một số điều kiện và yêu cầu để đạt được mức hiệu quả cao nhất có thể. Việc quản trị tài chính trong khu vực công cần có các yêu cầu về mặt hoạt động cụ thể như sau:

Nguồn lực tài chính cần phải có kế hoạch sử dụng một cách tối ưu nhất và phân bổ theo yêu cầu giữa các đầu ra khác nhau.

Đầu tư tối ưu vào tổng tài sản bằng nguồn kinh phí quốc gia cần phải thỏa mãn các yêu cầu về mặt chất lượng và đạt được tính kinh tế.

Việc sử dụng các nguồn lực tài chính để đạt được các đầu ra đặc thù cần phải có sự giám sát và kiểm soát đối với các kế hoạch mang tính chiến lược hoạt động của từng bộ phận bằng các công cụ xử lý dữ liệu định tính và định lượng để có những thống kê về tính hiệu quả trong quá trình dùng nguồn tài chính đó.

Như vậy, PFM là một công việc quan trọng và nếu chưa thật sự lành mạnh thì cần có sự cải cách một cách nhanh chóng, phù hợp. Quản trị tài chính công là cần thiết phải thực hiện để tạo sự tin cậy của dân chúng, các bên liên quan trong quá trình giúp đỡ về tài chính cùng kế toán thu, chi ngân sách và các lĩnh vực khác cho sự phát triển quốc gia.

3.4  Các thành phần của hệ thống quản trị tài chính công

Hệ thống quản trị tài chính công có một cấu trúc cơ bản hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau bao gồm 4 thành phần được thể hiện qua mô hình sau đây:

Hình 2

Nội dung của những thành phần trên hướng đến được trình bày chi tiết như sau:

3.4.1 Quản lý tài chính tổng thể

Một yêu cầu cơ bản của bất kỳ chính phủ của một quốc gia nào chính là quản lý tài chính công ở một mức độ cao thống nhất tuyệt đối. Để làm được điều này, nhà nước cần thiết kế một hệ thống kế toán thu, chi ngân sách tổng thể để có sự ghi chép và tổng hợp đầy đủ. Thành phần thứ nhất này sẽ hướng đến ba mục tiêu cụ thể, đó là (i) sự bền vững về mặt tài chính hay nói một cách khác là đảm bảo khả năng thanh toán các khoản đến hạn của nhà nước; (ii) tối đa hóa việc huy động các nguồn lực công nhằm tăng tính hiệu quả của phương diện tài chính và (iii) phân bổ nguồn lực theo thứ tự ưu tiên của các chính sách quốc gia trong từng năm hoặc từng chu kỳ.

3.4.2 Quản lý về mặt hoạt động

Quản trị tài chính công là một vai trò quan trọng trong việc quản lý về mặt hoạt động đối với các hoạt động hàng ngày của chính phủ. Điều này bao gồm việc quản lý hiệu suất của các chương trình mục tiêu hay các dự án công sao cho thỏa mãn 3 đặc điểm cơ bản mà PFM cần đạt được, đó là tính kinh tế, tính hữu hiệu và tính hiệu quả. Việc tính toán mức chi phải quản lý phù hợp theo hạn mức ngân sách. Mục đích của nhà quản lý khu vực công là chi tiêu ngân sách không được ít hơn hay nhiều hơn và theo một định hướng thống nhất và mang tính khoa học.

3.4.3 Quản lý rủi ro hệ thống

Một vấn đề mà tất cả các đơn vị công đều có thể gặp phải chính là rủi ro mang tính hệ thống. Hệ thống PFM là một phần giải pháp cũng như là một công cụ quan trọng để quản lý rủi ro trong tổ chức. Để quản trị rủi ro, các tổ chức cần có cơ chế kiểm soát tài chính hiệu quả, tuân thủ các quy định và yêu cầu về mặt pháp lý và tăng cường giám sát tài chính công thông qua bộ máy của cơ quan thanh tra, kiểm tra và kiểm toán.

3.4.4 Quản trị các bên liên quan

Thành phần này có một tầm quan trọng trong chính phủ bởi vì khái niệm quản trị các bên chính là đề cập đến nguyện vọng của người dân trong nền kinh tế. Đối với người dân trong cộng đồng, không có sự phân biệt nhóm này với nhóm kia mà việc quản trị công là cần phải đáp ứng tất cả nhu cầu của tất cả các nhóm người và của toàn xã hội. Để thành phần này thỏa mãn thì trong quy trình quản lý tài chính công cần tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đến toàn bộ các đối tượng khác nhau trong xã hội.

3.5  Một số kinh nghiệm về quản trị tài chính công

Hệ thống tài chính công gắn liền với hoạt động của nhà nước. Đây vừa là nguồn lực để nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình và vừa là công cụ để thực hiện các dịch vụ công, chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác của đất nước. Trong tiến trình đổi mới liên tục đất nước và nền kinh tế quốc gia, cũng như trong quá trình gia nhập và hòa vào xu hướng chung của thế giới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia là một việc làm tất yếu ở Việt Nam, đồng thời Đảng và nhà nước ta coi việc đổi mới hệ thống PFM là một nội dung quan trọng hàng đầu. Theo hướng dẫn của IMF (2013), một số bài học kinh nghiệm trong quá trình cải cách hệ thống tài chính công bao gồm:

Thứ nhất, cải cách hệ thống kế toán thu, chi NSNN: để có thông tin cho hệ thống tài chính làm căn cứ để ra chính phủ đưa ra các quyết định phù hợp, các chương trình trọng điểm cho quốc gia thì cần có nguồn thông tin đáng tin cậy do kế toán thu, chi ngân sách cung cấp. Nếu có sự thay đổi trong chế độ kế toán hợp lý thì việc cải cách TCC cũng sẽ có cơ sở vững chắc để lập kế hoạch và thực hiện.

Thứ hai, xem xét tính ưu tiên trong chính sách: nhà nước cần có những tiêu chí cụ thể để xác định tính ưu tiên trong các chính sách ở các khu vực, vùng miền, ngành nghề. Tiêu chí cần minh bạch, công bằng, rõ ràng, công khai trong toàn xã hội.

Thứ ba, áp dụng theo các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế trong quá trình cải cách: trong quá trình hội nhập thì việc vận dụng các bộ chuẩn mực về quản trị tài chính công trên thế giới đã ban hành và được nhiều quốc gia áp dụng sẽ là điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình thiết lập các quy định cụ thể ở Việt Nam. Các tiêu chuẩn này do các tổ chức quốc tế cùng các chuyên gia nghiên cứu soạn thảo nên đạt được chất lượng trong việc quản trị công.

Thứ tư, quản lý chặt chẽ nguồn thu, chi ngân sách: cần nhận thức rằng quản lý ngân sách là vấn đề quan trọng của bất kỳ quốc gia nào. Do đó, nhà nước và chính phủ cần xem xét các văn bản liên quan đến nguồn thu ngân sách quốc gia, xem xét mức độ hợp lý thu, chi giữa các đơn vị thuộc KVC khác nhau.

Thứ năm, tạo ra một hệ quản trị cơ sở dữ liệu thống nhất: để có số liệu nhanh chóng, đúng thời điểm, chính xác thì công cụ xử lý đóng một vai trò không kém phần quan trọng. Để có thể tập hợp đầy đủ thông tin thì cần có một cơ sở dữ liệu đồng bộ, phát triển hạ tầng kỹ thuật để ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến cho các nhân viên thừa hành công việc có thể thực hiện một cách chuẩn xác nhất.

Thứ sáu, cải thiện môi trường pháp lý: hầu hết các quốc gia ở trên khi thực hiện PFM đều thực hiện việc rà soát lại những văn bản, quy định đã ban hành có liên quan đến lĩnh vực hành chính nhà nước, kế toán công, tài chính chính phủ…để xác định những nội dung không còn phù hợp, nhằm có sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành một hệ thống luật mới mà hiện tại vẫn chưa có khung pháp lý điều chỉnh.

Thứ bảy, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức trên thế giới: bất kỳ quốc gia nào, dù kém phát triển, đang phát triển hay phát triển thì trong quá trình có những chuyển biến trong phạm vi quốc gia đều cần đến nhiều nhân tố hỗ trợ, đặc biệt là nguồn kinh phí, công nghệ kỹ thuật, các chuyên gia có kinh nghiệm… Do vậy, các nước cần có những chính sách để thu hút được sự trợ giúp của các tổ chức có uy tín trên thế giới như IFAC, IMF, WTO, UN, OECD,… để có sự kế thừa kinh nghiệm và đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế toàn cầu.

Thứ tám, cần có một quy trình thống nhất trong cải cách: các quốc gia có khác nhau giữa các bước trong quy trình cải cách, thực hiện cũng có nội dung khác nhau, cơ quan thực hiện cũng có những khác biệt, nhưng dù thế nào thì một quy trình cải cách thường được thực hiện qua 4 giai đoạn, đó là: lập kế hoạch ngân sách, thực hiện ngân sách, phân tích rà soát và lập các báo cáo, kiểm soát, kiểm toán; đồng thời đều lập kế hoạch theo mục tiêu trung hạn cùng với việc đánh giá theo kết quả đầu ra chứ không dựa theo đầu vào.

Thứ chín, chú ý đến tình hình nợ công và cách kiểm soát: một trong những nhân tố làm cho nền TCC không hiệu quả chính là do tình hình nợ công của một quốc gia. Mục đích của việc kiểm soát nợ công là nhằm thực hiện mục tiêu đảm bảo an toàn nợ, duy trì danh mục nợ hợp lý trong giới hạn an toàn, đảm bảo sự bền vững nợ về mặt dài hạn, an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia; xác định sớm những rủi ro tiềm ẩn; tăng cường minh bạch tài chính; góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý, hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kỳ.

4. Mối quan hệ giữa quản trị tài chính công với kế toán thu, chi ngân sách

Khi đề cập đến quản lý hệ thống tài chính công, hầu hết các quốc gia đều cho rằng đây là một quá trình cần thực hiện liên tục, không ngừng cũng như cần có sự phối hợp chặt chẽ với hệ thống kế toán thu, chi NSNN. Theo đó, tài chính công và kế toán thu, chi ngân sách có vai trò tác động tương hỗ, có tác động qua lại và hai hệ thống này có mối quan hệ không thể tách rời trong chu trình quản lý NSNN của một quốc gia nói chung hay các tổ chức, đơn vị công nói riêng. Cụ thể hai hệ thống này thể hiện mối quan hệ như sau:

Mục đích chính của kế toán là việc ghi chép, xử lý, đo lường hoạt động của các tổ chức có liên quan đến quản lý thu, chi NSNN, đánh giá tình hình tài chính tổng thể của đơn vị hoặc cũng các tổ chức thuộc khu vực công. Trong khi đó, mục đích chính của tài chính công chính là tạo ra sự hữu hiệu và hiệu quả trong việc đảm bảo NSNN thực hiện được chức năng huy động và phân phối nguồn lực quốc gia, giúp cho nguồn lực công đem lại kết quả tối ưu nhất và chi phí công sẽ tối thiểu nhất. Để làm được điều này thì hệ thống tài chính công của quốc gia phải có thông tin đầu vào do hệ thống kế toán thu, chi ngân sách cung cấp.

Cả hai hệ thống tài chính và kế toán thu, chi ngân sách đều được thực hiện về mặt cơ bản là giống nhau và đều theo 4 bước cơ bản của một quy trình, đó là lập dự toán, thực hiện ngân sách, ghi chép để lập báo cáo và kiểm toán số liệu sau thực hiện.

Để cho chế độ kế toán thu, chi ngân sách thật sự đem lại hiệu quả cho công tác kế toán thì cần có những tài khoản, sổ sách, báo cáo hay phương thức ghi chép các khoản thu, các khoản chi. Bên cạnh đó, thời gian quy định trong kế toán ngân sách cũng đóng một vai trò quan trọng. Và tất cả những điều này đều phải được thực hiện một cách đồng bộ với các văn bản pháp lý trong hệ thống tài chính công.

Đối với khá nhiều khoản mục trong kế toán như nguồn kinh phí, thanh toán giữa các cấp hay các khoản chi theo tiến độ, khác với các công ty hay doanh nghiệp thì tại bộ máy kế toán ngân sách của các đơn vị công, trong quá trình thực hiện các thao tác của kế toán thì đều căn cứ vào các quy định, hướng dẫn của nhà nước theo cơ chế tài chính của quốc gia, và điều này chính là nội dung của cơ chế quản trị tài chính công.

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Làm Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo