Lý luận của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

5 (100%) 2 votes

Thanh tra chuyên ngành y tế là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước về y tế. Qua thanh tra, kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, kết hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật từ đó phòng ngừa những nguy cơ xảy ra hành vi vi phạm pháp luật.

Lý luận của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế
Lý luận của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

1. Khái niệm, đặc điểm của thanh tra chuyên ngành y tế

1.1. Khái niệm về thanh tra chuyên ngành y tế

1.1.1. Khái niệm thanh tra

Thuật ngữ Thanh tra xuất phát từ gốc tiếng la tinh là “inspectorate”, có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài của chủ thể có thẩm quyền đối với hoạt động của đối tượng nhất định. Theo thuật ngữ này, hoạt động thanh tra chỉ giới hạn trong hoạt động kiểm tra, xem xét, chưa bao gồm vai trò xử lý của chủ thể thanh tra đối với đối tượng thanh tra, các cá nhân, tổ chức sau khi kiểm tra, xem xét.

Tiếp đó, thuật ngữ Thanh tra tiếp tục được giải thích tại các Từ điển Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Từ điển Luật học Đức,thanh tra được hiểu là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định – sự tác động có tính trực thuộc. Theo giải thích của Từ điển Luật học Đức, hoạt động thanh tra được hiểu với nghĩa rộng về mặt nội dung hoạt động. Bất kể sự tác động nào của chủ thể thanh tra đến đối tượng thanh tra trực thuộc đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao để hướng đến một mục đích nhất định đều được hiểu là hoạt động thanh tra.

Tuy nhiên, theo nghĩa này, hoạt động thanh tra chỉ được giới hạn giữa chủ thể thanh tra và đối tượng thanh tra trực thuộc, chưa bao gồm đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân không trực thuộc. Chẳng hạn như hoạt động thanh tra chuyên ngành hiện nay của các cơ quan quản lý ngành đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân không trực thuộc về tổ chức trong việc chấp hành quy định của pháp luật chuyên ngành,…Theo Từ điển Tiếng Việt, thanh tra được hiểu là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp. Theo quan niệm này, thanh tra bao hàm kiểm soát – hoạt động xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc Nhà nước và các đặc điểm riêng của quốc gia, dân tộc mà các quốc gia trên thế giới thiết lập cơ quan thực hiện chức năng thanh tra theo những cách khác nhau. Có quốc gia sử dụng Thanh tra của Quốc hội (Thanh tra Quốc Hội Thụy điển, Đan Mạch, Canada, Austraylia..); Thanh tra của Chính phủ – Thanh tra hành pháp (Cơ quan Giám sát Hành chính Ai cập, Bộ Giám sát Trung Quốc,..); kiểm toán (Ủy ban Thanh tra và Kiểm toán Hàn Quốc BAI thực hiện 02 chức năng thanh tra và kiểm toán),…

  nước ta, quan niệm về thanh tra hiện nay cũng như trong lịch sử được thể hiện qua những mô hình cơ quan nhà nước, các quy định của pháp luật và được đề cập ở những giác độ khác nhau:

Thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng nhưng có các chức quan làm công việc giống như thanh tra, đó là: Dưới thời Lý có chức quan Gián nghị đại phu (tả, hữu gián nghị đại phu); thời Trần có cơ quan gọi là “Ngự sử đài” với chức năng gần giống như cơ quan thanh tra Nhà nước hiện nay và có chức “Quan ngự sử” đứng đầu Ngự sử đài. Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp Vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình. Quan Ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can gián Vua. Thời nhà Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền can gián nhà Vua những việc nên làm và những việc không nên làm.

Sau này, xuất phát từ nhu cầu cấp thiết đòi hỏi phải có cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong hoạt động quản lý nhà nước, ngày 23 tháng 11 năm 1945, chỉ sau 3 tháng từ khi Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòađược thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban thanh tra đặc biệt, Điều 1 Sắc lệnh quy định:“Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của các Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”. Từ đây, thuật ngữ “Thanh tra” xuất hiện ở nước ta, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ, trở thành khâu trọng yếu trong chu trình quản lý nhà nước của Chính phủ. Như V.I.Lê nin đã chỉ rõ: “Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai” [13].

Trong mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và thanh tra, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động thanh tra. Tiếp đó, thanh tra lại có tác động tích cực đối với quản lý và góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Trong vai trò của mình, thanh tra không chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm và đề ra các biện pháp giúp các đối tượng thanh tra khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, phát huy ưu điểm… mà hơn hết còn là phương tiện để chủ thể quản lý phát hiện những biểu hiện trì trệ, không phù hợp với thực tiễn khách quan của cơ chế, phương pháp quản lý đã và đang cản trở các hoạt động quản lý, từ đó đề xuất các biện pháp cải cách, hoàn thiện các hoạt động quản lý nhà nước.

Vai trò của công tác thanh tra đối với hoạt động quản lý nhà nước được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

    Thanh tra là chức năng không thể thiếu của quản lý nhà nước, có vai trò quan trọng đối với việc đánh giá hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Hoạt động thanh tra xem xét, đánh giá trên thực tế việc thực hiện chủ chương, chính sách, pháp luật của nhà nước, qua đó kịp thời phát hiện những sơ hở, những sự bất hợp lý trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị điều chỉnh. Từ đó góp phần giúp cho chủ thể quản lý có được những thông tin cần thiết phục vụ cho việc hoạch định cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật và đưa ra các biện pháp chỉ đạo, điều hành hợp lý.

  Thanh tra là phương thức đảm bảo trật tự, kỷ cương trong quản lý, phòng ngừa vi phạm pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thông qua hoạt động thanh tra, những sai lệch trong việc thực hiện chủ chương, chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra được phát hiện và xử lý kịp thời, bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật. Đồng thời hoạt động thanh tra cũng là phương thức để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn đối tượng thanh tra thực hiện đúng các quy định của pháp luật để từ đó góp phần phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra và tái diễn ở đối tượng quản lý nhà nước.

  Bên cạnh việc tìm ra những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý, những nội dung trong chủ trương, chính sách chưa phù hợp với thực tiễn khách quan để kịp thời kiến nghị; phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn đối tượng quản lý thực hiện đúng các quy định của pháp luật, hoạt động thanh tra còn phải phát hiện và khẳng định, tạo điều kiện phát huy, nhân rộng những nhân tố tích cực. Có như vậy thì hiệu quả công tác thanh tra mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn, hiệu quả công tác quản lý mới được nâng cao.

  Tiếp đó, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước. Nhà nước có nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Hoạt động thanh tra góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân thông qua hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và thanh tra việc thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo. Từ đó bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, góp phần bảo đảm các quyền dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.

Qua những phân tích trên, có thể hiểu: Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định.của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

1.1.2. Khái niệm thanh tra chuyên ngành

Để làm rõ khái niệm thanh tra chuyên ngành, trước hết cần xem xét khái niệm về ngành. Ngành được hình thành là kết quả tất yếu của sự phân công lao động xã hội xảy ra đồng thời với quá trình phát triển sản xuất và chuyên môn hóa các loại hình hoạt động khác nhau của con người. Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, khái niệm ngành có thể hiểu là hệ thống cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương, có tổ chức và hoạt động gắn đặc điểm chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý riêng biệt, hoạt động để phục vụ một hoặc một số khía cạnh nhất định của xã hội. Hoạt động quản lý nhà nước theo ngành tất yếu dẫn đến nhu cầu phải có loại hình thanh tra chuyên ngành để đảm bảo các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý của ngành chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành. Hoạt động thanh tra chuyên ngành mang tính chuyên sâu về nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực chuyên môn. Tính chuyên sâu này được thể hiện ở tính chuyên môn – kỹ thuật. Người tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành khi thực hiện hoạt động thanh tra phải có kiến thức chuyên môn về ngành, lĩnh vực đó, vận dụng kiến thức để đưa ra những kết luận chính xác.

Kiến nghị của thanh tra chuyên ngành bao giờ cũng thể hiện tính chất chuyên môn – kỹ thuật, từ việc đánh giá đặc điểm, tình hình, những ưu, khuyết điểm và nguyên nhân cũng như quyết định xử lý và hậu quả pháp lý luôn gắn với tính chất chuyên môn – kỹ thuật. Hoạt động thanh tra chuyên ngành chủ yếu hướng tới việc kiểm soát việc chấp hành chính sách, pháp luật chuyên ngành của mọi đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhằm phục vụ hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành tập trung vào phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý và chính sách, pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời; phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước; hướng dẫn đối tượng thanh tra thực hiện đúng các quy định của pháp luật đồng thời phát huy, nhân rộng các điển hình tiên tiến để qua đó tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010 thì chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành là cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, cơ quan thanh tra nhà nước theo ngành (Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở) và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc Sở được giao chức năng thanh tra chuyên ngành). Hoạt động thanh tra chuyên ngành có thể được thực hiện thông qua đoàn thanh tra chuyên ngành, thanh tra viên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập. Hoạt động thanh tra chuyên ngành diễn ra với các hình thức: Thanh tra theo kế hoạch, thanh tra đột xuất và thanh tra thường xuyên. Đối tượng của hoạt động thanh tra chuyên ngành bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực quản lý của các ngành. Đối tượng của hoạt động thanh tra chuyên ngành có thể không phụ thuộc về mặt tổ chức đối với chủ thể thực hiện thanh tra chuyên ngành, tuy nhiên vì họ thực hiện những hoạt động liên quan đến ngành, lĩnh vực mà các cơ quan này quản lý nên theo quy định pháp luật họ vẫn là đối tượng thanh tra của các cơ quan thanh tra chuyên ngành.

Như vậy, qua phân tích có thể hiểu: Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.

1.1.3. Khái niệm thanh tra chuyên ngành y tế

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:

Con người là nhân tố hàng đầu, là nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết định sự phát triển của đất nước. Trong đó, sức khỏe là tài sản quý báu của mỗi người, mỗi gia đình và mỗi quốc gia. Sức khỏe của nhân dân là một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, “dân cường thì quốc thịnh”. [24]

Được Đảng và Nhà nước giao sứ mệnh chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, ngành y tế nhiều năm qua đã luôn nỗ lực, quyết tâm cao độ để phát huy vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển nhanh, bền vững của đất nước, không ngừng tự nhìn nhận mình, tự hoàn thiện, tổng kết đúc rút bài học kinh nghiệm để có những đóng góp, những bước đi phù hợp, thỏa đáng. Đối với công tác y tế, hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế là một tất yếu để phục vụ cho tiến trình phát triển của ngành, vừa là hình thức để các nhà quản lý nhìn nhận lại những quyết sách của mình, biết được thực tế những quyết sách ấy được thực hiện ra sao, tránh bệnh quan liêu, xa rời thực tế, vừa là công cụ để giám sát, xử lý vi phạm, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện đúng pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành. Từ đó giữ gìn kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý ngành.

 nước ta, hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước về y tế như Bộ Y tế, Sở Y tế trong đó cơ quan chịu trách nhiệm tham mưu, tổ chức thực hiện là cơ quan thanh tra nhà nước về y tế như Thanh tra Bộ Y tế, Thanh tra Sở Y tế. Bên cạnh đó, hoạt động thanh tra chuyên ngành còn được thực hiện bởi các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành đối với công tác y tế là những cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo các lĩnh vực thuộc ngành y tế, bao gồm Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc Sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Trong những trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Y tế, Sở Y tế ra quyết định thanh tra, tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành.

Hiện nay, theo quy định của Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành, hệ thống cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành đối với công tác y tế bao gồm:

  Các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ: Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình; Cục Quản lý Dược; Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Cục Quản lý Môi trường y tế; Cục Y tế dự phòng; Cục An toàn vệ sinh thực phẩm.

  Các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở: Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm. Tại các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành – là công chức được phân công thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, giúp cho Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong việc tổ chức thực hiện công tác thanh tra. Trong phạm vi ngành y tế, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành là công chức có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được phân công thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tại các Tổng cục, cục, Chi cục nêu trên.

Hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế được tiến hành theo đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên – những người được bổ nhiệm vào ngạch Thanh tra viên, hiện đang công tác tại các cơ quan thanh tra nhà nước như Thanh tra Bộ Y tế, Thanh tra Sở Y tế và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập, căn cứ vào quy trình được quy định tại Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn có liên quan cùng những văn bản hướng dẫn quy trình thanh tra riêng biệt của Bộ Y tế hướng đến đối tượng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn, kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành. Ngoài ra, trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế có thể có sự tham gia của các cộng tác viên thanh tra y tế – là những người không thuộc biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước, được cơ quan thanh tra nhà nước về y tế trưng tập tham gia đoàn thanh tra. Nội dung thanh tra chuyên ngành y tế được trải rộng theo các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế, bao gồm: Y tế dự phòng, an toàn thực phẩm, môi trường y tế; khám bệnh, chữa bệnh, y dược học cổ truyền, bảo hiểm y tế; dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; dân số – kế hoạch hóa gia đình và được quy định tại Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 19 Nghị định số 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Y tế, bao gồm 10 lĩnh vực, 48 nội dung và một số nội dung khác được quy định tại các văn bản pháp luật khác có liên quan. Tại Nghị định 122/2014/NĐ-CP quy định:

– Điều 16 quy định nội dung thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực y tế dự phòng, an toàn thực phẩm và môi trường y tế với 3 lĩnh vực, 17 nội dung. Trong đó, lĩnh vực y tế dự phòng gồm 09 nội dung; lĩnh vực an toàn thực phẩm gồm 05 nội dung; lĩnh vực môi trường y tế gồm 03 nội dung.

  Điều 17 quy định nội dung thanh tra chuyên ngành lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, y, dược học cổ truyền và bảo hiểm y tế với 03 lĩnh vực, 17 nội dung. Trong đó, lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh gồm 07 nội dung; lĩnh vực y, dược học cổ truyền gồm 04 nội dung; lĩnh vực bảo hiểm y tế gồm 06 nội dung.

 Điều 18 quy định nội dung thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế với 3 lĩnh vực, 17 nội dung. Trong đó, lĩnh vực dược gồm 08 nội dung; lĩnh vực mỹ phẩm gồm 05 nội dung, lĩnh vực trang thiết bị y tế gồm 04 nội dung.

 Điều 19 quy định nội dung thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực dân số

 kế hoạch hóa gia đình gồm 07 nội dung. Như vậy, có thể hiểu: Thanh tra chuyên ngành y tế là hoạt động thanh tra của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý của ngành trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc thẩm quyền quản lý.

1.2. Đặc điểm của thanh tra chuyên ngành y tế

Công tác thanh tra chuyên ngành y tế có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, thanh tra chuyên ngành y tế gắn liền với quản lý nhà nước về y tế, đáp ứng yêu cầu và phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước về y tế.

Là một chức năng, một khâu trong chu trình quản lý nhà nước về y tế, thanh tra chuyên ngành y tế gắn liền với quản lý nhà nước về y tế. Quản lý nhà nước về y tế và thanh tra chuyên ngành y tế, có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý. Song, xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý nhà nước về y tế thì thanh tra chuyên ngành y tế chỉ là những công cụ, phương tiện phục vụ quản lý nhà nước về y tế. Là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra chuyên ngành y tế bị ràng  buộc, chế ước nhưng đồng thời cũng tác động trở lại, góp phần điều chỉnh các cách thức, phương pháp quản lý của chủ thế quản lý nhà nước về y tế. Trong chu trình đó, thanh tra chuyên ngành y tế luôn phản ánh và bảo vệ mục đích công tác quản lý nhà nước về y tế. Một thể chế hành chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ nếu thiếu thanh tra. Đây là tất yếu đối với quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về y tế nói riêng.

Hai là, tính quyền lực nhà nước của thanh tra chuyên ngành y tế.

Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy – phục tùng của quản lý nhà nước. Là một chức năng của quản lý nhà nước về y tế, thanh tra chuyên ngành y tế phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Không thể không có quyền lực mà không gắn với một tổ chức. Nói về quyền lực nhà nước trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế.

Vì vậy, thanh tra chuyên ngành y tế phải được sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về y tế. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế thể hiện ở chỗ các cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành đều có quyền hạn được pháp luật ghi nhận để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tính quyền lực nhà nước trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế phải được cụ thể hoá trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa các cơ quan thanh tra với đối tượng bị thanh tra, sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế với các cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ. Nếu cụ thể hoá một mặt nào đó là không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực trên đều dẫn đến hạ thấp vai trò và hiệu quả, hạn chế hiệu lực của thanh tra chuyên ngành y tế.

Ba là, tính khách quan và độc lập tương đối của thanh tra chuyên ngành y tế.

Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Đặc điểm này phân biệt thanh tra chuyên ngành y tế với các chức năng khác của hoạt động quản lý nhà nước về y tế. Tính khách quan và độc lập tương đối trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế được thể hiện trên các điểm sau:

 Tuân theo pháp luật.

 Tự ban hành Quyết định thanh tra, tiến hành thanh tra theo thẩm quyền.

  Khách quan trong quá trình tiến hành thanh tra. Mặc dù bản thân hoạt động thanh tra thông qua con người, mang yếu tố chủ quan, nhưng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thanh tra là luôn phải tôn trọng sự thật khách quan.

– Ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý, xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm về hành vi thanh tra của mình.

Tuy nhiên, tính độc lập của hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế chỉ mang tính tương đối. Trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế, các cơ quan thanh tra nhà nước về y tế còn bị phụ thuộc nhiều về tổ chức, và hoạt động đối với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan khác trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế.

Bốn là, công tác thanh tra chuyên ngành y tế có tính chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ của ngành.

Luật Thanh tra năm 2010, Điều 32 về tiêu chuẩn chung của thanh tra viên điểm b, khoản 1 quy định: “Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và am hiểu pháp luật; đối với thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó” [18]; Điều 34 về người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành quy định: “Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành phải là công chức của cơ quan được  giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chuyên ngành, am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ thanh tra” [18]. Như vậy, đối với thanh tra chuyên ngành y tế, tính chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ y tế là đặc điểm riêng biệt so với thanh tra hành chính nói chung và thanh tra các chuyên ngành khác. Đặc điểm này xuất phát từ tính chuyên môn

   Kỹ thuật trong hoạt động của ngành y tế, đòi hỏi chủ thể thanh tra y tế khi tiến hành thanh tra phải có chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác chuyên ngành phong phú, sâu sắc bên cạnh những điều kiện tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật về thanh tra. Có thể hiểu, đối với cá nhân thực hiện chức nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế, tính chuyên sâu nghiệp vụ của ngành là điều kiện “cần”, bên cạnh những điều kiện “đủ” của những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn khác của pháp luật về thanh tra nói chung. Thực tiễn công tác thanh tra chuyên ngành y tế, chẳng hạn đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, khi cần lấy mẫu kiểm nghiệm chất lượng thực phẩm, để bảo đảm tính chủ động, kịp thời trong hoạt động thanh tra đòi hỏi thành viên trong đoàn thanh tra cũng cần có chuyên môn và có chứng chỉ về kỹ thuật lấy mẫu thực phẩm để đảm bảo tính chính xác về chuyên môn – kỹ thuật, tính hợp pháp của việc lấy mẫu thực phẩm. Quy định về lấy mẫu thực phẩm tại Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01 tháng 4 năm 2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn chung về lấy mẫu thực phẩm phục vụ thanh tra, kiểm tra chất lượng về sinh an toàn thực phẩm, Điều 3 đối với người lấy mẫu điểm 2 quy định: “Được đào tạo và có chứng chỉ về kỹ thuật lấy mẫu thực phẩm”

2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

2.1. Khái niệm pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

Lịch sử nhân loại cho thấy pháp luật ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là công cụ giúp Nhà nước quản lý xã hội thông qua việc tác động để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một định hướng nhất định. Có thể hiểu, “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội”. [11]

 nước ta, pháp luật nói chung và pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế nói riêng được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của đời sống xã hội và giải quyết những nhu cầu, đòi hỏi ấy theo định hướng của Nhà nước. Như vậy, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế trong vai trò của mình là nhân tố điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế sẽ tạo căn cứ pháp lý để các chủ thể thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế thực hiện chức năng, nhiệm vụ, phát huy vị trí, vai trò, góp phần giúp chủ thể quản lý nhà nước về y tế đạt được những mục tiêu trong công tác quản lý nhà nước về y tế. Từ đó có thể hiểu: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế là tổng thể các quy định do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế.

2.2. Đặc điểm của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế mang những đặc trưng của ngành y tế. Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế bên cạnh việc quy định những vấn đề xung quanh tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế theo tinh thần của Luật Thanh tra, còn chứa đựng những quy định phù hợp với đặc trưng riêng của ngành y tế để đảm bảo cho các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế thực hiện được nhiệm vụ của mình. Chẳng hạn, theo quy định của Thông tư số 39/2015/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Bộ Y tế quy định về tiêu chuẩn, trang phục và thẻ của người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về y tế, Điều 3 về tiêu chuẩn công chức thanh tra chuyên ngành y tế, điểm 2: “Có bằng tốt nghiệp cử nhân trở lên phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnh vực được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành” [2]. Về hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế, đối với một số các lĩnh vực thuộc chuyên môn của ngành, Bộ Y tế cũng quy định quy trình thanh tra riêng biệt như quy trình thanh tra dược, chất thải y tế, bảo hiểm y tế,….

Hai là, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế có nguồn rất đa dạng. Là tổng thể các quy định do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tổ chức và hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế, nguồn của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế được thể hiện tại các văn bản Luật và văn bản dưới luật. Tiếp đó, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế bên cạnh việc chứa đựng những quy định của pháp luật về thanh tra, còn chứa đựng những quy định của pháp luật chuyên ngành y tế. Như vậy, nguồn của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế được thể hiện tại các văn bản luật về thanh tra, về chuyên ngành y tế như (Luật Thanh tra, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Dược, Luật Khám bệnh chữa bệnh, Luật An toàn vệ sinh thực phẩm,..) và các văn bản dưới luật (Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra…)

Ba là, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế chịu sự tác động của tiến trình hội nhập quốc tế. Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành, điều 43 về áp dụng điều ước quốc tế đã quy định: “Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia có quy định khác về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế”. [7] Ngày nay, hội nhập là xu thế chung của quốc tế. Trong tình hình đó, Việt Nam trên tinh thần kế thừa, gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của bản sắc dân tộc, luôn tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Tham gia vào tiến trình hội nhập, Việt Nam phải thực hiện và có lộ trình thích nghi với các quy định của pháp luật quốc tế, trong đó bao gồm cả pháp luật về thanh tra và pháp luật về quản lý nhà nước đối với ngành y tế. Điều này tác động đến tổ chức và hoạt động của ngành thanh tra nói chung, thanh tra chuyên ngành y tế nói riêng. Chẳng hạn, khi Việt Nam cùng 9 nước thành viên ký kết Hiệp định về hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm, đưa ra và cam kết thực hiện những thỏa thuận chung về mỹ phẩm giữa các quốc gia thành viên, trong đó có thỏa thuận về thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm. Để góp phần đảm bảo công tác quản lý nhà nước về mỹ phẩm cũng như thực hiện các cam kết của Hiệp định về hệ thống hòa hợp ASEAN, đối với công tác thanh tra chuyên ngành y tế, ngày 31 tháng 12 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 48/2007/QĐ-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2007 về việc Ban hành quy chế quản lý mỹ phẩm, Điều 36 về nội dung thanh tra, kiểm tra, điểm a khoản 1 bao gồm: “Việc tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm”của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (CGMP-ASEAN) hoặc tương đương được Hội đồng Mỹ phẩm ASEAN thừa nhận”; ngày 04 tháng 11 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 4625/QĐ-BYT về việc ban hành quy trình thanh tra mỹ phẩm, trong đó có nội dung thanh tra việc tuân thủ nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm”.

2.3. Nội dung của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

Nội dung của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế là hệ thống quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế, bao gồm 2 nhóm quy định: Nhóm quy định về tổ chức của thanh tra chuyên ngành y tế và nhóm quy định về hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế.

*  Nhóm quy định về tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế

Vấn đề đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị là việc thiết kế tổ chức với chức năng, nhiệm vụ phù hợp để phục vụ cho công tác quản lý. Có thể thấy rằng bất cứ hoạt động của cơ quan nhà nước nào thì điều quan trọng đầu tiên là xây dựng được cấu trúc bộ máy. Nếu tổ chức bộ máy hoàn chỉnh và khoa học thì hoạt động sẽ có hiệu quả và ngược lại. Xác định được cấu trúc tổ chức bộ máy, tiếp đó cần tuyển lựa con người phù hợp với từng vị trí trong cấu trúc bộ máy đó theo một hệ thống tiêu chuẩn, điều kiện được quy định bởi pháp luật và thiết lập một hệ thống các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp để tổ chức đó hoạt động đúng với giá trị của mình. Đối với thanh tra chuyên ngành y tế, pháp luật về tổ chức của thanh tra chuyên ngành y tế bao gồm hệ thống các quy định của pháp luật về:

  Cơ cấu tổ chức, bộ máy; nhiệm vụ, quyền hạn về thanh tra chuyên ngành y tế của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế (Cơ quan thanh tra nhà nước: Thanh tra Bộ Y tế, Thanh tra Sở Y tế; cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế:Tổng cục, Cục thuộc Bộ Y tế, Chi cục thuộc Sở Y tế được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế); nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế của Chánh Thanh tra Bộ Y tế, Chánh Thanh tra Sở Y tế; nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế (Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Chi cục trưởng), bộ phận tham mưu công tác thanh tra chuyên ngành thuộc Tổng cục, các Cục thuộc Bộ Y tế và Chi cục thuộc Sở Y tế được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.

 Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra.

  Thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác thanh tra chuyên ngành y tế.

*  Nhóm quy định về hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế:

Hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế do cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế tiến hành qua các đoàn thanh tra hoặc giao thanh tra viên và người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế tiến hành thanh tra độc lập. Như vậy, pháp luật về hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế bao gồm hệ thống các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế.

2.4. Vai trò của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

Với những đặc điểm của mình, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế có vai trò quan trọng trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội.

Thứ nhất, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của ngành y tế. Những quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế được nhà nước ban hành, bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý của ngành, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế là căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực y tế tiến hành thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật qua đó góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật, hướng dẫn đối tượng vi phạm thực hiện đúng pháp luật, từ đó góp phần phòng ngừa vi phạm phạm luật chuyên ngành, quy định chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành. Mặt khác, qua thanh tra, kịp thời phát hiện sơ hở của cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để từ đó có giải pháp tháo gỡ, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chính sách pháp luật, đồng thời phát hiện những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến để phát huy, nhân rộng.

Thứ hai, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân tạo điều kiện để công dân phát huy quyền làm chủ, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Trong điều kiện đất nước ngày đang phát triển hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh công tác xã hội hóa, thu hút nguồn lực của xã hội đối với lĩnh vực y tế, tạo điều kiện để mọi tầng lớp nhân được được thụ hưởng dịch vụ y tế. Trong khi đó, nhu cầu của nhân dân về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ngày một nâng cao dẫn đến sự xuất hiện của hàng loạt cơ sở y tế ngoài công lập bên cạnh các cơ sở y tế công lập. Cơ quan quản lý nhà nước về y tế các cấp bên cạnh việc tạo lập và thực hiện cơ chế quản lý đối với các cơ sở y tế trong và ngoài công lập, mặt khác cần phải có cơ chế để người dân tham gia vào quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế, giám sát hoạt động của các cơ sở y tế trong và ngoài công lập.

Vì trong điều kiện có hạn về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất, cơ quan quản lý nhà nước về y tế các cấp không đủ khả năng để giám sát hàng ngày, hàng giờ đối với hoạt động của các cơ sở y tế trong và ngoài công lập. Vai trò giám sát ấy nên được giao cho người dân, những người hàng ngày thụ hưởng dịch vụ y tế từ các cơ sở y tế ấy. Họ sẽ trực tiếp đánh giá về chất lượng dịch vụ, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý lĩnh vực thuộc ngành. Khi đó, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế với những quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế sẽ vừa là công cụ của cơ quan quản lý nhà nước, vừa là công cụ để người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua hoạt động khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

Bên cạnh đó, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế cũng là căn cứ để người dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giám sát, đánh giá tính hợp pháp, hiệu quả trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế, bảo đảm hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế thực hiện đúng quy định của pháp luật. Trên thực tế hiện nay, trong hoạt động thanh tra nói chung, thanh tra chuyên ngành y tế nói riêng vẫn tồn tại trường hợp thành viên đoàn thanh tra chưa thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình, thiếu kiên quyết trong xử lý hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra,…. làm ảnh hưởng đến tính tôn nghiêm của pháp luật và môi trường hoạt động, cạnh tranh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý của ngành. Chính vì vậy, những quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế là căn cứ để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giám sát hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế để đảm bảo cho hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế luôn được tổ chức thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế còn góp phần tạo lập và duy trì môi trường hoạt động, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trước pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành. Đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc

phạm vi quản lý nhà nước của ngành, pháp luật thanh tra chuyên ngành là cơ chế giám sát, thúc đẩy mọi chủ thể đều phải tuân thủ pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật sẽ được kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh, bảo đảm mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật. Từ đó tạo ra môi trường lành mạnh, tạo động lực cạnh tranh thúc đẩy nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ y tế.

3. Danh mục tài liệu tham khảo

  1.  Hồ Thị Thu An (2015), “Một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành”,
  2. Bộ Y tế (2015), Thông tư số 39/2015/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2015 quy định về tiêu chuẩn, trang phục và thẻ của người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về y tế.
  3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Báo Cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
  4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
  5. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
  6. Chính phủ (2011), Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 Quy định về Thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra.
  7. Chính phủ (2012), Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành.
  8. Chính phủ (2014), Nghị định số 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 về tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế.
  9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia.
  10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.
  11. Đại học Luật (2008), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  12. Nguyễn Thái Hồng (2011), “Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đề tài cấp Bộ, Thanh tra Chính phủ, Hà Nội.
  13. Nguyễn Huy Hoàng (2014), “Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”
  14. Nguyễn Huy Hoàng (2014), “Định hướng xây dựng chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn 2030”,
  15. Lê Thị Thu Hiền (2015), “Hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường của Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội”, Luật văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
  16. Nguyễn Tuấn Khanh (2014), “Tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đề tài cấp Bộ, Thanh tra Chính phủ, Hà Nội.
  17. Lê Thị Thu Oanh (2004), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của thanh tra ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
  18. Quốc hội (2010), Luật số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010, Luật Thanh tra.
  19. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  20. Sở Y tế tỉnh Hà Nam (2014), Kế hoạch phát triển sự nghiệp y tế 5 năm giai đoạn 2016-2020.
  21. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 2176/QĐ-TTg ngày 04/12/2014 Phê duyệt Đề án nâng cao năng lực Thanh tra Y tế đến năm 2020.
  22. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 08/12/2015 về việc Ban hành Chiến lược phát triển Ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  1. Nguyễn Thị Thục (2012), “Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra chuyên ngành ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
  2. Phạm Thị Thắm (2014), “Xây dựng nền y tế và đội ngũ cán bộ y tế của nhân dân, vì nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh”,
  3. Tạ Thu Thủy (2015), “Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trưng tập, quản lý và sử dụng cộng tác viên thanh tra trong hoạt động thanh tra”
  4. Trần Quốc Trượng (2015), “Hồ Chí Minh với công tác thanh tra”

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Viết Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo