Khái niệm, vai trò và các loại tỷ giá trong nền kinh tế

 Nguyễn Thị Thanh    

Tri Thức Cộng Đồng đang cung cấp Nhận làm báo cáo thuê, Dịch vụ làm courcework thuê, Dịch vụ làm luận văn,… chuyên nghiệp nhất thị trường xin chia sẻ tới bạn 1 vài khái niệm, vai trò và các loại tỷ giá trong nền kinh tế.

1/Khái niệm về tỷ giá

Khái niệm của tỷ giá hối đoái rất phức tạp có thể tiếp cân nó từ những góc độ khác nhau. Xét trong phạm vi thị trường của một nước ,các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một tỷ giá nhất định. Do đó có thể hiểu tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ một được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác hay là bằng số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ .Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá trị ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai .Chẳng hạn ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng Việt nam nhận được khi đổi một đồng USD ,DEM hay một FFR …Trong thực tế ,cách sử dụng tỷ giá như vậy thuận lợi hơn .Tuy nhiên trong nghiên cứu lý thuyết thì cách định nghĩa thứ  nhất thuận lợi hơn.

Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác ,đó là quan hệ so sánh  giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau. Một đồng tiền hay một lượng đồng tiền nào  đó đổi được bao nhiêu đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đồng tiền với nhau hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hay ngắn gọn là tỷ giá. Như vậy, trên bình diện quốc tế, có thể hiểu một cách tổng quát : tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau. Ví dụ:

Tỉ giá giữa đồng đô la Mĩ với đồng Việt Nam như sau: USD/VNĐ= 21.000 có nghĩa là 1 USD = 21.000 VNĐ.

Tỉ giá giữa đồng đô la Mĩ với đồng mác Đức như sau: USD/DEM=1.8125 có nghĩa là 1 USD = 1.8125 DEM

Tỷ giá dùng để biểu hiện và so sánh những quan hệ về mặt giá cả của các đồng tiền các nước khác nhau. Có hai loại giá: giá trong nước  (giá quốc gia ) phản  ánh những điều kiện cụ thể của sản xuất trong một nước riêng biệt, và giá ngoại thương (giá quốc tế) phản ánh những điều kịên sản xuất trên phạm vi thế giới . Do phạm vi ,điều kiện sản xuất cụ thể trong mỗi nước và trên phạm vi thế giới khác nhau nên hàng hoá có hai loại giá: giá quốc gia và giá quốc tế. Giá trị quốc gia được biểu hiện dưới hình thức giá cả trong nước bằng đơn vị tiền tệ của nước đó. Giá trị quốc tế biểu hiện qua giá cả quốc tế bằng các ngoại tệ trên thị trường thế giới. Tiền tệ là vật ngang giá chung của toàn bộ khối lượng hàng hoá và dịch vụ trong nước. Vì vậy trong sức mua của đồng tiền được phản ánh đầy đủ các quan hệ tái sản xuất trong nước đó, hay nói cách khác, sức mua của một đồng tiền do mức giá cả của toàn bộ các loại hàng hoá dịch vụ trong nước đó quyết định. Tỷ giá thể hiện sự tương quan giữa mặt bằng giá trong nước và giá thế giới. Do sự khác nhau giữa hai loại giá cả trong nước và giá cả thế giới mà tiền tệ vừa làm thước đo giá trị quốc gia vừa làm thước đo giá trị quốc tế. Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại khi tính đến vấn đề hiệu quả kinh tế, thì phảI thường xuyên so sánh đối chiếu hai hình thức giá cả với nhau: giá quốc gia và giá quốc tế. Muốn thế phải chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác, phải so sánh  giá trị đồng tiền trong nước với ngoại tệ thông qua công cụ tỷ giá.Tỷ giá dùng để tính toán và thanh toán xuất, nhập khẩu (không dùng để ổn định giá hàng hoá sản xuất trong nước). Tỷ giá hàng xuất khẩu là lượng tiền trong nước cần thiết để mua một lượng hàng xuất khẩu tương đưong với một đơn vị ngoại tệ .Tỷ giá hàng nhập khẩu là số lượng tiền trong nước thu được khi bán một lượng vàng nhập khẩu có giá trị một đơn vị ngoại tệ. Tỷ giá là tỷ lệ so sánh giữa các đồng tiền với nhau. Do đó muốn so sánh giá trị giữa các đồng tiền với nhau, cần phải có vật ngang giá chung làm bản vị để so sánh. Tiền tệ là vật ngang giá chung để biểu hiện giá trị của các hàng hoá, nhưng giờ đây đến lượt cần so sánh giá cả giữa các đồng tiền với nhau lại phải tìm một vật ngang giá chung làm bản vị để so sánh.

Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ gia hối đoái:

– Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là t ỷ giá hôí đoái được biết đến nhiều nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày.

– Tỷ giá hối đoái thực tế (er) được xác định

er = en * Pn/Pf

Pn: chỉ số giá trong nước

Pf: chỉ số giá nước ngoài

Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát giữa các nước và phản ánh đúng swsc mua và sức cạnh tranh của một nước

2/Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế

Tỉ giá là một phạm trù kinh tế quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của mỗi nước, là công cụ để đo lường giá trị giữa các đồng tiền và do vậy có tác động như một công cụ cạnh tranh trong thương mại quốc tế, một công cụ quản lý kinh tế, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới giá cả, tới mọi hoạt động kinh tế – xã hội của nước đó và các nước có liên quan. Cụ thể chúng ta có thể xác định vai trò của tỉ giá như sau:

Thứ nhất, tỉ giá là đại lượng xác định quan hệ về mặt giá trị, so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau, hình thành nên tỉ lệ trao đổi giữa các đồng tiền khác nhau với nhau để thuận tiên cho các giao dịch quốc tế.

Thứ hai, tỉ giá có tác động to lớn đến thương mại quốc tế, xuất-nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của một nước với nước khác.

Ví dụ: Một người Việt Nam mua một cái áo của Mĩ với giá 10 USD và nếu tỉ giá là 21.000đ mỗi USD thì người Việt Nam đó phải mất 210.000 VNĐ nhưng nếu sau đó tỉ giá tăng lên 22.000đ cho mỗi USD thì giá nội địa của cái áo đó vẫn là 10 USD nhưng giá cái áo đó ở Việt Nam đã là 220.000 VNĐ, tăng lên 10 000 VNĐ so với giá cũ và ta thấy rõ rằng khi tỉ giá tăng cao (với VNĐ), giá trị VNĐ giảm xuống thì giá cả hàng hoá của Mĩ ở Việt Nam trở nên đắt hơn và ngược lại.

Qua đây, chúng ta thấy rằng, khi tỉ giá cao (với đồng nội tệ), tức là giá trị của đồng nội tệ giảm thì hàng hoá của nước đó tại nước ngoài sẽ trở nên rẻ hơn, còn hàng hoá của nước ngoài tại nước đó sẽ trở nên đắt hơn. Ngược lại khi tỉ giá thấp (với đồng nội tệ), tức là giá trị của nội tệ tăng lên thì hàng hoá của nước đó tại nước ngoài sẽ đắt hơn, còn hàng hoá của nước ngoài tại nước đó sẽ rẻ hơn.

Như vậy, khi có sự thay đổi về tỉ giá làm giá trị đồng tiền của một nước giảm đi sẽ làm cho những nhà sản xuất trong nước đó thuận lợi hơn trong việc bán hàng của họ ở nước ngoài do đó sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh, kích thích xuất khẩu và gây khó khăn cho những nhà sản xuất nước ngoài khi bán hàng tại nước đó và chính vì vậy sẽ hạn chế nhập khẩu. Ngược lại khỉ tỉ giá thay đổi làm tăng giá đồng tiền của một nước sẽ hạn chế xuất khẩu và kích thích xuất khẩu.

Thứ ba, do tỉ giá có tác động mạnh mẽ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ và sự cạnh tranh giữa các nước với nhau trên thị trường quốc tế nên chính  phủ các nước đã lợi dụng tác động này của tỉ giá để điều tiết nền kinh tế hay nói cách khác tỉ giá được sủ dụng với vai trò là một công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước.

3/Các loại tỉ giá

Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của nền kinh tế nói chung ,hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, tuỳ theo mục đích sử dụng, tuỳ theo các tiêu thức xác định, tỉ giá có thể được phân chia như sau:

a/Căn cứ vào phương tiện chuyển hối

Tỉ giá điện hối là tỉ giá mua bán ngoại tệ cũng như các giấy tờ có giá bàng ngoại tệ được chuyển bàng điện. Tỉ giá này nhanh chóng và chính xác là cơ sở để xác định các loại tỉ giá khác.

Tỉ giá thư hối là tỉ giá mua bán ngoại tệ cũng như các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ được chuyển bằng thư, tỉ giá thư hối thường thấp hơn tỉ giá điện hối.

b/Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế

Tỉ giá séc là tỉ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ.

Tỉ giá hối phiếu là tỉ giá mua bán các loại hối phiếu ghi bằng ngoại tệ. Nếu hối phiếu trả tiền ngay thì gọi là tỉ giá hối phiếu trả tiền ngay, nếu hối phiếu có kì hạn thì gọi là tỉ giá hối phiếu có kì hạn.

Tỉ giá tiền mặt là tỉ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch, thẻ tín dụng.

Tỉ giá chuyển khoản là tỉ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng.

Thông thường tỉ giá mua tiền mặt thấp hơn tỉ giá chuyển khoản và tỉ giá bán tiền mặt cao hơn tỉ giá chuyển khoản.

c/Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối

Tỉ giá mở cửa là tỉ giá áp dụng cho việc mua bán món ngoại tệ đầu tiên trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái.

Tỉ giá đóng cửa là tỉ giá áp dụng cho việc mua bán món ngoại tệ cuối cùng trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái.

d/Căn cứ vào nghiêp vụ kinh doanhLuận Văn – Đề Án – Tiểu Luận Kinh Doanh Quốc Tế ngoại hối

Tỉ giá giao nhận ngay là tỉ giá mua bán ngoại tệ mà việc giá nhận chúng sẽ được thực hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc.

Tỉ giá giao nhận có kì hạn là tỉ giá là tỉ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận chúng được thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định.

Tỉ giá giao nhận ngay và tỉ giá giao nhận có kì hạn được công bố theo hình thức mua vào, bán ra như sau:

Tỉ giá mua vào là tỉ giá tại đó ngân hàng niêm yết sẵn giá mua vào đồng tiền yết giá.

Tỉ giá bán ra là tỉ giá mà tại đó ngân hàng niêm yết sẵn giá bán ra đồng tiền yết giá.

e/Căn cứ vào việc quản lý ngoại hối

Tỉ giá chính thức là tỉ giá do nhà nước công bố ( thường là Ngân hàng Trung Ương ).

Tỉ giá cố định là tỉ giá hình thành trong chế độ tiền tệ Bretton Woods. Tỉ giá cố định chính là tỉ giá chính thức do nhà nước công bố. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì được tỉ giá cố định buộc nhà nước phải thường xuyên can thiệp.

Tỉ giá thả nổi là tỉ giá hình thành tự phát ngoài hệ thống ngân hàng và diễn biến theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ các nước tư bản không cam kết giữ vững tỉ giá cố định, đồng tiền các nước tư bản tự do thả nổi nên tỉ giá thả nổi cũng chính là tỉ giá tự do.

Tỉ giá thả nổi có điều tiết là tỉ giá được hình thành do quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường dưới sự điều tiết quản lý của nhà nước nhằm ổn định tỉ giá trên thị trường.

Xem thêm bài viết: Tìm hiểu 4 chế độ tỷ giá để quản lý đồng tiền hiện nay