Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường

5 (100%) 2 votes

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục kỹ năng sống đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất.

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống

1. Một số khái niệm liên quan

1.1. Quản lý và quản lý giáo dục

1.1.1. Quản lý

Quản lý là gì? Đây là câu hỏi mà bất kỳ người làm công tác quản lý nào cũng muốn biết và mong muốn lý giải, vậy suy cho cùng quản lý là gì?

Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management, tiếng latinh. manum agere – điều khiển bằng tay) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên [1].

Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung.

Chính vì thế quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau:

Cách tiếp cận theo thực tiễn

Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể. Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự.

Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống

Cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định.

Cách tiếp cận theo thuyết hành vi

Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người”. Với học thuyết này giúp con người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền.Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: định nghĩa quản lý một cách kinh điển nhất là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12, tr.9].

Ngày nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), và kiểm tra”.

Theo tác giả Trần Khánh Đức:“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [14].

Bất cứ một xã hội nào cũng được xem như là một hệ quản lý: một nhà máy, một xí nghiệp, một trường học hay một quốc gia…Mỗi hệ quản lý bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau:

Bộ phận quản lý (giữ vai trò chủ thể quản lý) có chức năng điều khiển hệ quản lý, làm cho nó vận hành với mục tiêu đã đặt ra.

Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có thể hiểu: “Quản lý là tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất” [12, tr.9].

Quá trình quản lý có thể được khái quát bằng sơ đồ sau đây:

Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống các chức năng quản lý bao gồm 8 vấn đề sau: xác định nhu cầu – thẩm định và phân tích dữ liệu – xác định mục tiêu kế hoạch hoá (bao gồm cả phân công trách nhiệm, phân phối các nguồn lực, lập chương trình hành động) – triển khai công việc – điều chỉnh – đánh giá – sử dụng liên hệ và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo.

Theo quan điểm quản lý hiện đại, từ các hệ thống chức năng quản lý nêu trên, có thể khái quát một số chức năng cơ bản sau:

– Kế hoạch

– Tổ chức

– Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn và phối hợp)

– Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm soát và kiểm kê).

Như vậy, tuy có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác về số lượng chức năng và tên gọi các chức năng). Suy về thực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu. Ngày nay còn có thể có các tác giả trình bày chức năng quản lý nói chung (hoặc chức năng QLGD nói riêng) theo những quan điểm phân loại khác nhau, nhưng nền tảng của vấn đề vẫn là 4 chức năng cơ bản theo quan điểm quản lý hiện đại.

Xem thêm >>> Một số lý luận cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

1.1.2. Quản lý giáo dục

Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục có mục đích.

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục, song thường người ta đưa ra quan niệm quản lý giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu:

– Quản lý giáo dục vĩ mô

– Quản lý giáo dục vi mô

Quản lý cấp vĩ mô

Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường.

“Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia”.

Như vậy, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra.

Tính chất chỉ huy – chấp hành là đặc trưng nổi trội trong quan hệ quản lý. Tuy nhiên, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều có mục đích chung.

Quản lý giáo dục có nhiệm vụ tạo ra và duy trì một môi trường thuận lợi để mỗi cá nhân có thể hoạt động đạt được hiệu quả cao trong quá trình đạt đến mục đích chung.

Quản lý giáo dục vi mô

“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất”.

Theo khái niệm trên, quá trình quản lý giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường. Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý. Các thành tố đó luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau, đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội chung quanh.

Như vậy, thuật ngữ “quản lý nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục ở tầm vi mô. Song cần nhận rõ tác động của chủ thể quản lý đến nhà trường có hai loại tác động từ bên ngoài và tác động bên trong nhà trường.

Tác động từ bên ngoài nhà trường là tác động của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường.

Tác động từ bên trong là hoạt động của các chủ thể quản lý của chính nhà trường nhằm huy động, điều phối, giám sát các lực lượng giáo dục của nhà trường thực hiện có chiến lược, có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học và giáo dục đặt ra.

Đó là sự tác động của thủ trưởng, người chỉ huy cấp trên đối với các tổ chức cấp dưới thuộc quyền. Sự tác động đó phải có mục đích, có kế hoạch và phải tuân theo các nguyên tắc quản lý.

Tóm lại: Quá trình quản lý giáo dục là hoạt động của các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu dự kiến và tiến lên trạng thái mới về chất. Quản lý giáo dục vừa là một hiện tượng xã hội (hiện tượng hoạt động, lao động, công tác), vừa là một loại quá trình xã hội (quá trình quản lý) đồng thời cũng là một hệ thống xã hội (hệ thống quản lý).

Tham khảo thêm >>>  Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học tại các trường học

1.2. Quản lý trường học

“Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [34, tr.205].

Có nhiều cấp quản lý trường học, cấp cao nhất là Bộ GD – ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô. Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD – ĐT ở tỉnh, thành phố và các Phòng Giáo dục ở các quận, huyện. Cấp quản lý quan trọng trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường.

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có, tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục.

Công tác quản lý trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài xã hội. Quản lý nhà trường như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố:

Gồm có ba thành tố đó là thành tố tinh thần, thành tố con người, thành tố vật chất.

Trọng tâm quản lý nhà trường phổ thông là quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau đây:

– Quản lý hoạt động dạy học.

– Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.

– Quản lý hoạt động lao động và hướng nghiệp.

– Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

– Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp.

– Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể.

– Quản lý tài chính và quản lý sử dụng cơ sở vật chất.

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của hiệu trưởng có trong tất cả các thành tố nói trên của quản lý nhà trường. Thực chất quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động chính trị xã hội…

1.3. Kỹ năng sống

Có nhiều quan niệm về kỹ năng sống do các tổ chức quốc tế, các chuyên gia trong và ngoài nước đưa ra, trong đó có những quan điểm đáng lưu ý sau đây:

Theo Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá liên hiệp quốc (UNESCO):

“Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Học để biết – Học để làm – Học để chung sống – Học để làm người. Theo đó kỹ năng sống được định nghĩa là những năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”[32, tr. 62].

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong các tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.

Theo Quĩ cứu trợ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF): “kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng” [33, tr.113].

Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống.

Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề và những câu hỏi thường gặp trong đời sống hàng ngày của con người.

Như vậy kỹ năng sống được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm khả năng năng lực tâm lý xã hội mà còn cả những kỹ năng vận động, kỹ năng sống được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lý xã hội.

Từ các khái niệm nêu trên có thể đưa ra khái niệm kỹ năng sống như sau:“là năng lực cá nhân mà con người có được thông qua giáo dục hoặc kinh nghiệm trực tiếp, nó giúp cho con người có cách ứng xử tích cực và có hiệu quả, đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống khoẻ mạnh, an toàn hơn”.

Nói đến kỹ năng sống là nói đến khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp cho con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Điều đó có nghĩa là người có kỹ năng sống không chỉ có năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà còn cần phải có sự thay đổi một cách phù hợp và mang tính tích cực.

“Hoạt động giáo dục là những hoạt động do nhà giáo dục và các cơ sở giáo dục tổ chức theo kế hoạch, chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng để tạo môi trường cho người học tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc, mục tiêu, chuẩn mực giá trị chung và những biện pháp chung để đạt được trình độ phát triển nhân cách theo yêu cầu mà xã hội đặt ra tương ứng với độ tuổi và trình độ giáo dục mà người học được thụ hưởng” [15].

Xem ngay >>> Một số lý luận trong công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường học

1.4. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống là trang bị cho học sinh những kỹ năng sống cơ bản, giúp các em vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng được những cơ hội quý giá trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội.

Học sinh biết kiềm chế, giải quyết vấn đề theo hướng tích cực, không bị lôi kéo, vững vàng trước những áp lực tiêu cực của cuộc sống đương đại.

Thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống, học sinh được rèn luyện năng lực tư duy, chất lượng các môn học cũng như chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được nâng lên.

Có rất nhiều kỹ năng sống mà con người cần học trong suốt cuộc đời, nhưng đối với học sinh THPT, nội dung giáo dục kỹ năng sống cần tập trung vào một số kỹ năng cơ bản cần thiết sau: kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng từ chối, phòng ngừa cám dỗ, kỹ năng biết sống lành mạnh, phòng chống tai tệ nạn xã hội, kỹ năng biết tự nhận thức đúng bản thân, kỹ năng biết xác định mục tiêu phù hợp, kỹ năng tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên định.

Có hai cách tiếp cận trong giáo dục kỹ năng sống:

Các hoạt động tập trung vào kỹ năng cốt lõi như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp ứng xử… Theo cách này, bằng hoạt động với chủ đề kỹ năng cụ thể, người học sẽ hiểu về kỹ năng sống đó và vận dụng để giải quyết các tình huống.

Mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và cần vận dụng những kỹ năng khác nhau để giải quyết.

1.5. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục kỹ năng sống đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.

Xem thêm >>> Nội dung về cơ sở lý luận trong quản lý đội ngũ giảng viên

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống là bộ phận của quản lý trường học, bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết.

 

2. Mục đích và nội dung của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường  

2.1. Mục đích của giáo dục kỹ năng sống

Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Hai yếu tố sau thuộc về kỹ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh và sự thành công của mỗi người. Kỹ năng sống sẽ là hành trang không thể thiếu đối với mỗi cá nhân và đặc biệt là các em học sinh – những chủ nhân tương lai của đất nước.

Mục đích hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của học sinh từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, có hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng cuộc sống

2.2. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường

Theo công văn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28 tháng 1 năm 2015 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên thì nội dung giáo dục kỹ năng sống là:

Giáo dục cho người học những kỹ năng cơ bản, cần thiết, hướng tới hình thành những thói quen tốt giúp người học thành công, đảm bảo vừa phù hợp với thực tiễn và thuần phong mỹ tục Việt Nam vừa hội nhập quốc tế trong giai đoạn công nghiệp hoá đất nước. Nội dung giáo dục kỹ năng sống phải phù hợp với từng lứa tuổi và tiếp tục được rèn luyện theo mức độ tăng dần. Đối với giáo dục phổ thông, việc giáo dục kỹ năng sống cần tập trung vào những nội dung sau:

Như vậy có rất nhiều kỹ năng sống mà con người cần phải học trong suốt cả cuộc đời. Trên cơ sở thực trạng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT trong những năm qua và hướng dẫn giáo dục kỹ năng sống của bộ Giáo dục, có thể đề xuất những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bao gồm một số kỹ năng sống cơ bản sau:

 

2.2.1. Kỹ năng tự nhận thức

Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,… của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.

Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác.

2.2.2. Kỹ năng xác định giá trị

Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…

Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế …

Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. kỹ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. kỹ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người.

2.2.3. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp. Kỹ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lý cảm xúc.

Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn.

Kỹ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các kỹ năng này.

 

2.2.4. Kỹ năng thể hiện sự tự tin

Tự tin là có niềm tin vào bản thân, tự hài lòng với bản thân, tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.

kỹ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống.

kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm.

2.2.5. Kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết.

Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại gây tổn thương cho người khác. Kỹ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình, nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kỹ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.

Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát cảm xúc.

2.2.6. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông

Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ

Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác, cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đa văn hóa, đa sắc tộc. kỹ năng thể hiện sự cảm thông cũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ.

kỹ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc.

2.2.7. Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn

Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó.

Mâu thuẫn trong cuộc sống hết sức đa dạng thường bắt nguồn từ sự khác nhau về quan điểm, chính kiến, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa. Mâu thuẫn thường có ảnh hưởng tiêu cực tới những mối quan hệ của các bên.

Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn. Mỗi người sẽ có cách giải quyết mâu thuẫn riêng tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn.

Yêu cầu trước hết của kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất.

Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kỹ năng giải quyết vấn đề. kỹ năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng kết hợp với nhiều kỹ năng liên quan khác như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng ra quyết định…

2.2.8. Kỹ năng hợp tác

Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.

Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.

Biểu hiện của người có kỹ năng hợp tác:

– Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm; tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết.

– Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác trong nhóm.

– Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm. Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm.

– Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công. Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động.

– Biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung.

– Có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra.

Có kỹ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong một xã hội hiện đại, bởi vì:

– Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một cái chi tiết của một cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ.

– Kỹ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan hệ với người khác.

Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều kỹ năng sống khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng…

2.2.9. Kỹ năng ra quyết định

Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giải quyết buộc chúng ta phải lựa chọn, đưa ra quyết định hành động.

Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời.

Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác, mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định.

 

Để đưa ra quyết định phù hợp chúng ta cần:

– Xác định vấn đề hoặc tình huống mà chúng ta đang gặp phải.

– Thu thập thông tin hoặc vấn đề về tình huống đó.

– Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có.

– Hình dung đầy đủ về kết quả sẽ xảy ra nếu chúng ta lựa chọn mỗi phương án giải quyết.

– Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu giải quyết theo từng phương án đó.

– So sánh giữa các phương án để quyết định lựa chọn phương án tối ưu.

Kỹ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp cho con người có được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống. Ngược lại, nếu không có kỹ năng ra quyết định, con người ta có thể có những quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ, đến công việc và tương lai cuộc sống của bản thân, đồng thời còn có thể làm ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan.

Kỹ năng ra quyết định là phần rất quan trọng của kỹ năng giải quyết vấn đề.

2.2.10. Kỹ năng giải quyết vấn đề

Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn đề có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều kỹ năng sống khác như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…

Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta cần:

– Xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải, kể cả tìm kiếm thông tin cần thiết.

– Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có.

– Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương án giải quyết đó.

– So sánh các phương án để đưa ra quyết định cuối cùng.

– Hành động theo quyết định đã lựa chọn.

– Kiểm định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần quyết định và giải quyết vấn đề sau.

Cũng như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng, giúp con người có thể ứng phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống.

Một số lưu ý:

Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kỹ năng tâm lý – xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống. Việc hình thành những kỹ năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình thành các kỹ năng học tập (study skills) như: đọc, viết, tính toán, máy tính.

Nội dung giáo dục kỹ năng sống cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể. Ngoài các kỹ năng sống cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương. giáo viên có thể lựa chọn thêm một số kỹ năng sống khác để giáo dục cho học sinh của trường, lớp mình cho phù hợp.

 

3. Tài liệu tham khảo

  1. Bách khoa toàn thư Wikipedia
  2. Báo cáo của ủy ban Giáo dục UNESCO (1996), “Học tập: kho báu bên trong của mỗi người”.
  3. Đặng Quốc Bảo (2003), “Quan điểm phát triển con người, đo chỉ số phát triển con người và những vấn đề đặt ra cho công tác giáo dục đào tạo trong những năm đầu thế kỉ 21”, Tạp chí giáo dục, số 70/2003, Hà Nội.
  4. Đặng Quốc Bảo (2009), Nền giáo dục phổ thông nhân văn và trường học thân thiện: Quan điểm và giải pháp, tài liệu giảng dạy lớp cao học QLGD
  5. Đặng Quốc Bảo (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục, tập bài giảng tại lớp cao học chuyên ngành QLGD, K11 (2011 – 2013), Trường đại học giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội.
  6. Nguyễn Thanh Bình (2009), Chuyên đề giáo dục KNS. Nxb giáo dục.
  7. Nguyễn Thanh Bình (2009), Giáo trình chuyên đề giáo dục KNS. Nxb đại học sư phạm.
  8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Điều lệ trường phổ thông. Nxb Giáo dục.
  9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông, tài liệu dành cho giáo viên. Nxb Giáo dục Việt Nam.
  10. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau 2015 (bản dự thảo)
  11. Các Mác và Ph. Ăng ghen (1993), Toàn tập. Nxb chính trị quốc gia Hà Nội.
  12. Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Bài giảng lý luận đại cương về quản lý, Trường Đại học giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội.
  13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
  14. Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI. Nxb giáo dục Việt Nam.
  15. Đặng Xuân Hải (2010), Quản lý hành chính nhà nước nói chung và quản lý ngành giáo dục nói riêng, Tập bài giảng tại lớp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục, K11 (2011-2013), Trường đại học giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội.
  1. Lê Văn Hồng – Lê Ngọc Lam (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. Nxb giáo dục, Hà Nội.
  2. J.A Comenxki (1592 – 1670) (2009), Lý luận dạy học vĩ đại. Nxb giáo dục.
  3. Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa – Trần Văn Tính – Vũ Phương Liên (2012), Tập bài giảng phương pháp giáo dục giá trị sống, KNS.
  4. Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa – Đặng Hoàng Minh (2012), Tài liệu phương pháp giáo dục giá trị sống, KNS cho học sinh phổ thông và bài giảng giá trị sống, KNS cho học sinh THCS.
  5. Chủ tịch Hồ Chí Minh: 1-6, bút danh C.B, đăng báo nhân dân, số 455 N. Lênin (2008), “Nhiệm vụ của Đoàn Thanh Niên”, Mát-xcơ-va. Nxb chính trị quốc gia.
  6. Phạm Văn Nhân (2009), Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên. Nxb Lao Động.
  7. Vũ Thị Nho (1999), Tâm lý học phát triển. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
  8. Nguyễn Thị Oanh (2009), Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên. Nxb Thanh niên.
  9. Lê Đức Quảng (1998), Phương pháp và tư liệu giảng dạy môn giáo dục công dân. Nxb giáo dục, Hà Nội.
  10. Quốc hội (2005), Luật Giáo dục 2005 và được sửa đổi bổ sung năm 2009. Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  11. Nguyễn Thị Tính (2006), Lý luận dạy học – Phương pháp cùng tham gia.
  12. Tài liệu giảng dạy đại học, Đại học Thái Nguyên.

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Viết Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

 

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo