Cở sở khoa học quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

5 (100%) 2 votes

Trước thực trạng về chất lượng giáo dục đại học và công tác quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, để tìm ra các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, bài viết xin chia sẻ nội dung Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học.

Mục lục

1.Khái niệm giáo dục đại học

Theo Ronald Barnett, có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục đại học: i) Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn. Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động. Giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp; ii) Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu. Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sáng tạo ra những kiến thức mới; iii) Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến chức năng cốt lõi của giáo dục đại học là giảng dạy kiến thức, kỹ năng cho người học; iv) Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học [93]. Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội để người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên và linh hoạt. Có thể nói, ở đây có tính liên hoàn giữa bốn khái niệm này của giáo dục đại học; chúng liên quan và tích hợp với nhau để tạo ra bức tranh toàn cảnh về tính chất riêng biệt của giáo dục đại học (higher education).

Theo Từ điển giáo dục học, giáo dục đại học được hiểu là “bậc học đào tạo trình độ học vấn chuyên môn cao có mục tiêu đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[49, tr.122]. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học, nhưng có thể hiểu giáo dục đại học là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ

1.1. Khái niệm chất lượng giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm chất lượng

Khái niệm chất lượng là một khái niệm phức tạp và không phải trong lĩnh vực nào của đời sống kinh tế – xã hội cũng có thể dễ dàng lượng hoá.Có thể nói, khái niệm chất lượng trong các nghiên cứu được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Theo Edward Sallis, chất lượng được phân thành hai giá trị khác nhau, đó là chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối.

Từ góc độ cách tiếp cận chất lượng tuyệt đối, thuật ngữ “chất lượng” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “qualis” nghĩa mức độ tuyệt hảo. Cách tiếp cận về chất lượng này được thể hiện trong quan niệm của các tác giả trong Từ điển Oxford: Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” [93, tr.1233].Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “chất lượng” được hiểu là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” [61, tr. 189]. Từ cách tiếp cận này, chất lượng được hiểu là tổng thể những thuộc tính đặc trưng, giá trị bản chất của sự vật và tạo ra sự khác biệt về chất giữa sự này với sự vật khác. Tác giả Thái Duy Tuyên đưa ra khái niệm: Chất lượng là mức độ tốt, sự xuất sắc; cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật; phạm trù triết học biểu thị cái bản chất của sự vật mà nhờ đó có thể phân biệt sự vật này với sự vật khác [74]. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), tập I, định nghĩa: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, một sự việc. Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt chúng với những vật khác”

Từ góc độ tiếp cận chất lượng tuyệt đối, chất lượng đồng nghĩa với chất lượng cao, chất lượng tốt. Đây là cách tiếp cận “tĩnh” về chất lượng. Chúng ta có thể so sánh, đánh giá và chỉ ra một đối tượng nào đó có chất lượng cao hơn.

1.Cách tiếp cận chất lượng tương đối, Tiêu chuẩn của Pháp – NFX 50-109 cũng khẳng định: Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109). Theo định nghĩa của ISO 9000-2000 “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập

hợp các đặc tính vốn có, “trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc”. TCVN-ISO 8402 cũng cùng quan điểm này khi định nghĩa: Chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN – ISO 8402).

Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), tập I, định nghĩa: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Yêu cầu ở đây được hiểu là nhu cầu hay là mong đợi đã được công bố hoặc ngầm hiểu của các bên quan tâm như các tổ chức và khách hàng”

Với cách tiếp cận này, có thể nhận thấy một số đặc điểm về chất lượng:

Chất lượng được đánh giá, đo lường bằng sự thỏa mãn nhu cầu. Mức độ thỏa mãn nhu cầu là cơ sở để đánh giá một sản phẩm, một đối tượng là có chất lượng hay không có chất lượng, chất lượng cao hay chất lượng thấp.

+Chất lượng được đánh giá bằng sự thỏa mãn nhu cầu, mong đợi. Tuy nhiên, nhu cầu luôn có sự biến động, thay đổi theo từng đối tượng cụ thể, không gian, thời gian cho nên chất lượng ở đây mang tính chất “động”;

Tính đa dạng về nhu cầu, mong đợi cho nên việc xem xét, đánh giá chất lượng phải được đặt trong mối tương quan với các nhóm chủ thể trong đó cũng cần chỉ ra những chủ thể chính yếu, quan trọng nhất.

Nhu cầu, mong đợi có thể được công bố thông qua hệ thống quy định pháp lý, tiêu chuẩn chất lượng, tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhu cầu không được mô tả, không được lượng hóa cụ thể để có thể dễ dàng đánh giá.

Từ cách tiếp cận đó, chất lượng theo nghĩa tương đối, chất lượng có thể hiểu là đạt được mục tiêu. Đó là chất lượng bên trong. Mặt khác, chất lượng được xem là mức độ đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi, mong đợi của người tiếp nhận, người sử dụng. Ở khía cạnh này, chất lượng được xem là chất lượng bên ngoài [36, tr. 31-32].

Từ góc độ tiếp cận tổng quát hơn, theo Harvey & Green 1993, chất lượng là một khái niệm rộng và được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau: sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú, xuất sắc; sự hoàn hảo; sự phù hợp, thích hợp; sự thể hiện giá trị; sự biến đổi về chất [91, tr.44-50]

Tóm lại, chất lượng là một khái niệm động và đa chiều. Theo nghĩa tuyệt đối, chất lượng là những thuộc tính bản chất của sự vật, sản phẩm, dịch vụ có ưu thế vượt trội so với các đối tượng cùng loại. Theo nghĩa tương đối, chất lượng là tổng thể những thuộc tính, đặc trưng bản chất đáp ứng được mục tiêu, mong đợi của các chủ thể.

Cở sở khoa học quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học
Cở sở khoa học quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

1.1.2 Khái niệm chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục là một khái niệm rộng và đa chiều bởi lẽ, giáo dục là một quá trình phức tạp. Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào yếu tố đầu vào, quá trình đào tạo và được thể hiện trong những kiến thức, kỹ năng, thái độ tạo dựng ở người học sau quá trình đào tạo. Việc đánh giá chất lượng giáo dục cần có những tiêu chí xác định. Nhưng để thực hiện được công tác đánh giá quan niệm về chất lượng giáo dục cần được làm rõ. Quan niệm về chất lượng giáo dục là cơ sở cho việc xác định những tiêu chí, những thước đo cần thiết để có thể đánh giá chính xác về chất lượng giáo dục.

Theo Tiến sỹ Lê Đức Phúc: “Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục” [38, tr.31]. Điều này đồng nghĩa chất lượng giáo dục được lượng hoá bằng mức độ đạt được mục tiêu giáo dục. Để đánh giá chất lượng giáo dục chúng ta phải đánh giá qua các tiêu chí về việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Tuy nhiên, mục tiêu giáo dục ở đây cần được làm rõ đó là mục tiêu chung trong Luật Giáo dục hay mục tiêu của từng cơ sở giáo dục, từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo hay cần đáp ứng mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể.

Từ một góc độ tiếp cận cụ thể hơn, tác giả Trần Khánh Đức quan niệm: Chất lượng giáo dục là “kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể” [38, tr.31]. Vấn đề cơ bản trong quan niệm của tác giả Trần Khánh Đức đó chính là chất lượng giáo dục được thể hiện ở việc mục tiêu được hiện thực hoá trong phẩm chất, khả năng, trình độ của người học.

Từ điển Giáo dục học định nghĩa: Chất lượng giáo dục là “tổng hòa những phẩm chất và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội nhất định [49, tr.44].Trong các nghiên cứu về chất lượng giáo dục, điểm chung nhất có thể nhận thấy trong các quan niệm về chất lượng giáo dục đó chính là chất lượng giáo dục được phản ánh qua kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục. Tuy nhiên, việc lượng hoá kết quả thực các mục tiêu giáo dục là một điều không đơn giản. Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng giáo dục toàn diện với đặc trưng sản phẩm là cá nhân sau đào tạo. Chất lượng giáo dục có thể hiểu là kết quả đầu ra của toàn bộ quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể qua các phẩm chất, giá trị nhân cách hay năng lực sống và hoà nhập đời sống xã hội, năng lực làm việc, năng lực vận dụng những kiến thức từ nhà trường của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng cấp học, ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân.Như vậy, chất lượng giáo dục không chỉ đơn thuần được đo bằng kết quả học tập trong nhà trường, kết quả thi cử ở các cấp mà cần được phản ánh mức độ đạt được mục tiêu, yêu cầu toàn diện về kiến thức, kỹ năng, thái độ, khả năng thích ứng của người học. Trong điều kiện hiện nay, với yêu cầu hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường, chất lượng giáo dục không chỉ và không thể chỉ được đánh giá ở kết quả đào tạo trong nhà nước với những điều kiện bảo đảm chất lượng nhất định về nội dung, chương trình, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên mà còn phải tính đến mức độ phù hợp, khả năng đáp ứng, thích ứng của người tốt nghiệp với đời sống xã hội và thị trường lao động. Điều này có thể được lượng hóa thông qua tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực làm việc tại các vị trí việc làm cụ thể, khả năng phát triển nghề nghiệp, tỷ lệ cần đào tạo lại…

Một điều cần khẳng định rằng, chất lượng giáo dục trước hết phải là kết quả của quá trình giáo dục và được thể hiện trong cuộc sống xã hội và hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp. Do tính chất phức tạp của quá trình giáo dục chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên chất lượng giáo dục không có sự đồng nhất tuyệt đối ở mọi cấp học, bậc học trong cùng một trình độ đào tạo hoặc một loại hình đào tạo. Trên cơ sở một chuẩn mực trình độ giáo dục nhất định theo các bậc học và các loại hình giáo dục sẽ có một phổ chất lượng giáo dục tương ứng với nhiều cấp độ khác nhau: thấp, trung bình, cao, rất cao. Phổ chất lượng này là cơ sở để tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ và đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên nhân lực có học vấn và trình độ đào tạo theo nhu cầu nhân lực đa dạng về chuyên môn và cơ cấu ngành nghề của nhà nước và xã hội.

Vì vậy, chất lượng giáo dục có thể được hiểu là kết quả của quá trình giáo dục, đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình trình đào tạo ở bậc giáo dục đó.

Cở sở khoa học quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học
Cở sở khoa học quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

1.1.3. Khái niệm chất lượng giáo dục đại học

Chất lượng giáo dục đại học là một vấn đề lớn của giáo dục nước ta trong những năm gần đây. Cũng như khái niệm chất lượng giáo dục, khái niệm chất lượng giáo dục đại học được quan niệm ở những khía cạnh khác nhau. Trên thế giới, quan niệm về chất lượng giáo dục đại học cũng không dễ có được tiếng nói đồng nhất.

góc độ lý thuyết, có thể nhận thấy, có ba trường phái lý luận nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học: lý thuyết về sự khan hiếm của chất lượng; lý thuyết gia tăng giá trị và lý thuyết về chất lượng xác định theo sứ mệnh và mục tiêu.

Lý thuyết về sự khan hiếm của chất lượng nhận diện chất lượng tuân theo quy luật hình chóp với quan niệm đại bộ phận có chất lượng thấp, chỉ một số ít có chất lượng cao. Chất lượng cũng không có sự đồng đều, đại trà. Những bằng chứng chất lượng theo quan điểm này là: chi phí lớn thì chất lượng cao; chỉ những trường đại học lớn mới có chất lượng; chỉ khi tuyển chọn khắt khe mới có chất lượng; chỉ những trường đại học được công nhận trong toàn quốc mới có chất lượng; chỉ một số trường đại học có chất lượng; chỉ những trường đại học có nguồn lực lớn mới có chất lượng. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến yếu tố chi phí và chất lượng. Mặc dù có mối quan hệ thuận chiều giữa chi phí và chất lượng giáo dục đại học nhưng không phải chi phí càng cao thì chất lượng càng cao. Bởi lẽ chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà chi phí cao, sự khắt khe trong tuyển chọn đầu vào mới chỉ là một cơ sở để hình thành và bảo đảm chất lượng. Thực chất cách tiếp cận chất lượng giáo dục đại học theo lý luận này là cách tiếp cận chất lượng tuyệt đối. Cách tiếp cận này được thể hiện trong quan niệm truyền thống chất lượng giáo dục đại học là chất lượng đào tạo của Oxford và Cambridge. Điều này có nghĩa trường đại học, một nền giáo dục đại học chỉ được xem là có chất lượng khi đạt được những tiêu chuẩn của Oxford và Cambridge. Cách quan niệm này không tạo ra sự đồng thuận cao bởi lẽ với quan niệm này rất ít cơ sở giáo dục đại học, nền giáo dục đại học được xem là có chất lượng.

Lý thuyết gia tăng giá trị do Astin khởi xướng cho rằng các trường đại học có chất lượng cao tập trung vào làm tăng sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên từ khi nhập trường đến khi ra trường. Cách tiếp cận này được thể hiện trong nhiều nghiên cứu tiếp theo của các học giả [60, tr. 38].

Tác giả Brubacher, J.S. trong nghiên cứu On the philosophy of higher education, San Francisco Jossey-Bass (về triết lý của giáo dục đại học) đã khẳng định: “Chất lượng giáo dục đại học được thể hiện ở việc đạt được những trách nhiệm xã hội mà giáo dục đại học phải gánh vác. Đại học với ý nghĩa là trung tâm tri thức, trung tâm chuyển giao tri thức thì chất lượng giáo dục đại học chính là kết quả sáng tạo tri thức, chuyển giao tri thức, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của quốc gia. Chất lượng giáo dục đại học được hợp thành từ chất lượng của các trường đại học. Không thể có một nền giáo dục có chất lượng nếu chất lượng của đa số trường đại học ở mức thấp kém, không hoàn thành được sứ mệnh mà xã hội giao phó cho nó” [85]

Tác giả Frazer, Malcolm đã đưa ra quan niệm về chất lượng giáo dục đại học ở một góc độ khác. Tác giả quan niệm giáo dục đại học có trách nhiệm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để tạo ra mặt bằng chất lượng nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao trong phân công lao động toàn cầu. Chất lượng giáo dục đại học là chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia. Tuy nhiên, điều này cũng không hoàn toàn phản ánh hết được các khía cạnh của chất lượng giáo dục đại học. Bởi lẽ, chất lượng nguồn nhân lực quốc gia phụ thuộc và nhiều nhân tố. Mặt khác, bản thân nguồn nhân lực có trình độ đại học chỉ là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia. Vì vậy, việc quan niệm chất lượng giáo dục đại học là chất lượng nguồn nhân lực quốc gia chưa thực sự là một cách tiếp cận phù hợp và đầy đủ [89].

Tác giả Vương Nhất Bình quan niệm chất lượng giáo dục đại học thể hiện ở việc đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra đối với sinh viên tốt nghiệp đại học. Đó là việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn: đạo đức, kiến thức, năng lực, kỹ năng, khả năng, sức khoẻ, chỉ số IQ, EQ [38, tr.35]. Các tiêu chuẩn này được thể hiện ở những chỉ báo khác nhau. Đạo đức được thể hiện qua các tiêu chí: trách nhiệm xã hội, các giá trị văn hoá – đạo đức như sự khoan dung, trách nhiệm, ý thức công dân…; kiến thức thể hiện ở sự hiểu biết về cơ sở khoa học chung và chuyên ngành; năng lực thể hiện ở khả năng thu thập và đánh giá, lựa chọn và xử lý thông tin, năng lực phê phán và biện chứng, năng lực học tập suốt đời; kỹ năng được thể hiện ở khả năng vận dụng tri thức; khả năng gắn liền với các chỉ báo về khả năng giao tiếp, khả năng ngôn ngữ, tư duy tích lũy tri thức… Tuy nhiên, cách tiếp cận về chất lượng giáo dục đại học này đi sâu vào tiêu chí đánh giá hơn là phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả về chất lượng giáo dục đại học.

Ở một góc tiếp cận theo triết lý phát triển, David Andrew Turner đã khẳng định: chất lượng giáo dục đại học là một khái niệm động và không ngừng biến đổi qua thời gian. Mục đích của trường đại học truyền thống từ đào tạo tinh hoa đã chuyển thành đại học đại chúng diện rộng. Tác giả quan niệm chất lượng giáo dục đại học được biểu hiện ở việc giáo dục đại học đáp ứng được nhu cầu của sinh viên trong mỗi thời điểm cụ thể và thúc đẩy tương lai của họ phát triển (“high quality education is education that meets the needs of the student at that particular moment, and promotes their future development”). Tác giả cũng làm rõ hơn quan niệm của mình bằng việc chỉ ra việc đáp ứng nhu cầu của người học được lượng hoá bằng nhu cầu về kiến thức, nhu cầu về kỹ năng nghề nghiệp, nhu cầu về khả năng thích ứng và nền tảng để phát triển trong tương lai. Có thể nhận thấy, quan niệm về chất lượng giáo dục đại học của tác giả là khá khái quát. Bản thân việc xác định đáp ứng nhu cầu của người học là một vấn đề không dễ lượng hoá bởi lẽ nhu cầu của mỗi người là không đồng nhất khi họ học đại học. Mặt khác, nhu cầu của cá nhân có sự thay đổi theo theo thời gian, vì vậy, việc đánh giá chất lượng giáo dục đại học qua việc đo lường mức độ đáp ứng nhu cầu không phải là một thước đo lúc nào cũng hiệu quả. Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý trong quan niệm của tác giả là cách tiếp cận vấn đề, chất lượng giáo dục đại học không phải là chất lượng do bản thân cơ sở giáo dục khẳng định hay tuyên bố mà phải được đánh giá từ chính người học, từ việc họ có đạt được mục tiêu của mình sau khi dự học và họ có cảm nhận thấy đào tạo đại học đã cho họ một tương lai.Một vài học giả trong nước cũng tiếp chất lượng giáo dục đại học là những kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với mục tiêu chương trình đào tạo được tạo dựng ở người học sau khi tốt nghiệp. Một số tác giả quan niệm chất lượng giáo dục đại học là chất lượng của sinh viên tốt nghiệp đại học và tác giả đưa ra một hệ các tiêu chí để đánh giá: Đạo đức, kiến thức, năng lực, kỹ năng, khả năng và các yếu tố về thể chất. Quan niệm về chất lượng giáo dục đại học của tác giả ở đây về chất lượng giáo dục đại học đặt trọng tâm vào sản phẩm đầu ra, kết quả của quá trình đào tạo đó chính là bản thân đối tượng người học.

Trường phái lý luận thứ ba nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học gắn chất lượng giáo dục đại học với sứ mệnh và mục tiêu. Borgue và Saunders (1992) định nghĩa: chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai[60, tr. 39]. Green (1994) cũng đưa ra cách tiếp cận tương tự: trường đại học chất lượng cao là ”nơi mà tuyên bố sứ mệnh và mục tiêu đã chứa đựng ý nghĩa chất lượng và được thực hiện một cách có kết quả và hiệu quả”[60, tr.39]. Cách tiếp cận về chất lượng giáo dục đại học này có nhiều ý nghĩa. Cách tiếp cận này khẳng định sự đa dạng về sứ mệnh, mục tiêu của giáo dục đại học, có tính định hướng mục tiêu, hướng đến cái cần đạt đến thay vì những gì đang có; khuyến khích sự công khai mục tiêu, kết quả, mong đợi và cụ thể hóa mục tiêu thành các tiêu chí đánh giá.

Các trường phái lý luận trong nghiên cứu chất lượng giáo dục đại học được tiếp tục phát triển và ngày càng có cách tiếp cận đầy đủ và toàn diện hơn. Các tác giả Harvey và Green (1993) đã hệ thống hoá các quan niệm về chất lượng giáo dục đại học. Theo các tác giả, trên thế giới có sáu quan niệm về chất lượng giáo dục đại học: chất lượng là sự vượt trội; chất lượng là sự hoàn hảo nhất quán; chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu; chất lượng được đánh giá bằng chi phí tài chính; chất lượng được phản ánh ở giá trị chuyển đổi, tạo ra giá trị gia tăng. Giá trị gia tăng là một thước đo về chất lượng về việc trải nghiệm giáo dục thúc đẩy phát triển kiến thức, năng lực và kỹ năng của sinh viên đến mức độ nào. Tuy nhiên, bản thân quan niệm chất lượng là sự vượt trội hay sự hoàn hảo nhất quán mang ý nghĩa lý thuyết hơn là tính ứng dụng vì thiếu hệ thống đo lường. Việc đánh giá chất lượng giáo dục đại học phù hợp với mục tiêu cần phải làm rõ mục tiêu của người học, nhà trường, xã hội hay tất cả các chủ thể. Chi phí tài chính có thể là một thước đo nhưng việc so sánh hiệu quả tài chính với chất lượng giáo dục đại học không phải là một vấn đề đơn giản. Chất lượng tạo ra giá trị gia tăng nhưng cơ sở nào để đánh giá giá trị gia tăng đó đem đến những giá trị thực tiễn cho người học, nhà nước và cộng đồng xã hội cũng là một vấn đề cần tiếp tục được làm rõ.

Giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân ở mỗi quốc gia. Điều đó được lý giải bởi lẽ giáo dục đại học gắn liền với việc tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được các yêu cầu về phát triển khoa học và công nghệ. Giáo dục đại học chuyển từ đào tạo tinh hoa sang đào tạo trên diện rộng không phải là sự giảm bớt vai trò của giáo dục đại học mà là sự biểu hiện về trình độ phát triển nền giáo dục quốc dân, trình độ kinh tế – xã hội. Vấn đề chất lượng giáo dục đại học vì vậy được quan tâm ở mọi quốc gia. Nghiên cứu giáo dục học so sánh luôn chú ý đến vấn đề giáo dục đại học. Chính từ quan niệm này, có không ít tác giả đánh giá chất lượng giáo dục là việc cơ sở giáo dục có hoàn thành được sứ mệnh, trách nhiệm của mình hay không. Chất lượng của một nền giáo dục đại học được đánh giá bằng chất lượng của nguồn nhân lực đại học.

Tuy nhiên, vấn đề tạo dựng được những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở người học, thực chất chính là mục tiêu của giáo dục đại học. Việc hoàn thành được sứ mệnh của giáo dục đại học cũng chính là nền giáo dục đại học hoàn thành tốt những mục tiêu của giáo dục. Mục tiêu giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đều có những hướng đích đến việc đào tạo nên những con người có những kiến thức, phẩm chất, kỹ năng, thái độ, năng lực nhất định. Xét cho cùng thì chất lượng giáo dục đại học chính là mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục này gắn với yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển. Mỗi cá nhân sau quá trình đào tạo cần và phải có được những đặc trưng cần thiết về kiến thức, phẩm chất, năng lực mà sứ mệnh của giáo dục đại học phải thực hiện. Điều đó có nghĩa một nền giáo dục đại học không thể gọi là có chất lượng nếu không hội đủ hai điều kiện: có mục tiêu giáo dục và hoàn thành được mục tiêu giáo dục đó. Tất nhiên, cũng cần lưu ý một điều ở đây là mục tiêu giáo dục đó cần phải được xây dựng một cách khoa học, toàn diện và phù hợp.

Từ những phân tích, luận giải ở trên, có thể quan niệm: Chất lượng giáo dục đại học là tổng thể những kiến thức, kỹ năng, thái độ được tạo nên thông qua đào tạo đại học, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và của quốc gia ở mỗi thời kỳ, đảm bảo và đáp ứng được sự kỳ vọng, mong đợi của đối tượng liên quan, cộng đồng xã hội về tâm lực, trí lực, thể lực của nguồn nhân lực đại học.

1.1.3 Các yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục đại học

Chất lượng giáo dục đại học là kết quả của sự tương tác giữa nhiều yếu tố. Trong các nghiên cứu về chất lượng giáo dục, các yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục được tiếp cận theo những khía cạnh khác nhau.SEAMEO (1999) đưa ra mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model), chất lượng giáo dục đại học dựa trên 5 yếu tố để đánh giá như sau:

-Đầu vào: sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, quy chế;

-Quá trình đào tạo: phương pháp và quy trình đào tạo;

-Kết quả đào tạo: mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của sinh viên;

-Đầu ra: sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu kinh tế và xã hội;

Hiệu quả: kết quả của giáo dục đại học và ảnh hưởng của nó đối với xã hội.

góc độ tiếp cận theo quy trình, chất lượng giáo dục đại học được nhìn nhận là kết quả của yếu tố đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra. Một số nền giáo dục đại học như Hoa Kỳ khi xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học đã dựa trên cách tiếp cận quy trình này để đưa ra hệ thống tiêu chí đánh gi

Hình 2.1. Hệ thống đánh giá chất lượng các cơ sở dịch vụ giáo dục của Hoa Kỳ

Các nước châu Âu sử dụng “Hệ thống đánh giá chất lượng các cơ sở dịch vụ giáo dục” cho rằng các yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục gồm hai nhóm yếu tố là các yếu tố tác động (50%) và các yếu tố kết quả (50%). Các yếu tố này bao gồm 9 yếu tố cụ thể với các giá trị trọng số khác nhau: Lãnh đạo (10%), quản lý con người, (9%), chính sách và chiến lược (8%), nguồn lực (9%), quá trình (14%), nhài lòng của nhân viên (9%), hài lòng của phụ huynh (20%), tác động với xã hội (6%) và kết quả học tập (15%).

Các phân tích trên cho thấy, cho dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung, các cách tiếp cận đều nhấn mạnh đến những yếu tố cơ bản cấu thành nên chất lượng giáo dục đại học.

Thứ nhất, yếu tố quản lý đào tạo. Công tác quản lý đào tạo bao gồm quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô. Ở tầm vĩ mô, các chính sách quản lý, phát triển giáo dục đại học có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành của một nền giáo dục. Tư duy, cách tiếp cận quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục đại học. Điều này được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau. Thông qua thông tin về thị trường lao động, cơ quan quản lý nhà nước định hướng cho các cơ sở giáo dục đại học biết mình cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở lĩnh vực nào và chất lượng như thế nào để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động…Với những thiết chế ràng buộc, nhà nước có thể tạo ra khuôn khổ pháp lý, điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu theo các cấp độ khác nhau. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học với cách tiếp cận phù hợp, thiết lập cơ chế quản lý chất lượng hiệu quả tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học phát huy năng lực đào tạo, sẽ là nền tảng để bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.

Tầm vi mô, quản trị tại mỗi cơ sở giáo dục là nhân tố trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo. Nhà quản lý có tầm nhìn, xác định được mục tiêu của cơ sở giáo dục, hoạch định được đường hướng, phát triển, có biện pháp quản lý chất lượng đào tạo, phát triển giảng viên, đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình sẽ là một trong những nhân tố đảm bảo chất lượng của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Thứ hai, yếu tố giảng viên. Chất lượng đội ngũ giảng viên quyết định cơ bản chất lượng đào tạo. Cho dù hệ thống giáo dục và phương thức giáo dục đã thay đổi nhiều so với trước đây thì quy luật thầy giỏi sẽ đào tạo nên trò giỏi vẫn được khẳng. Chính vì vậy, số lượng, chất lượng giảng viên sẽ tác động mạnh, thường xuyên và lâu dài đến chất lượng giáo dục đại học. Sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng sẽ kéo theo sự sụt giảm, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cho dù các yếu tố khác có được đảm bảo.

Thứ ba, yếu tố người học. Đầu vào của thành tố “người học” cũng là một khâu quyết định đến chất lượng đào tạo. Sự tăng cao về số lượng sinh viên, chất lượng đầu vào thấp sẽ khó khăn trong việc bảo đảm chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó, vấn đề nền tảng của người học thì trách nhiệm, thái độ học tập của người học cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả đào tạo. Sự thờ ơ, vô trách nhiệm với kết quả học tập của người học, nhận thức không đầy đủ về việc học đại học, coi việc được trở thành sinh viên đại học là mục tiêu cuối cùng sẽ làm cho mục tiêu chất lượng đào tạo không thể đạt được cho dù có sự nỗ lực của nhà quản lý, giảng viên và sự đầy đủ về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo.

Thứ tư, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo. Nội dung chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo là yếu tố quan trọng trong quá trình đào tạo. Sự phù hợp hay không phù hợp, sự hiện đại, cập nhật hay lạc hậu của nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học. Với nội dung, chương trình đào tạo lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn, sinh viên tốt nghiệp sẽ không có năng lực để thích ứng với thực tiễn, chất lượng giáo dục đại học sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, của quốc gia và thị trường lao động toàn cầu trong bối cảnh toàn cầu hoá. Ngược lại, nội dung, chương trình đào tạo tốt sẽ nhân thêm giá trị cho nỗ lực của giảng viên và sinh viên, tạo thêm động lực cho người dạy và người học, tạo cơ sở để có chất lượng đào tạo phù hợp. Phương pháp đào tạo gắn liền với phương thức truyền tải nội dung, chương trình. Sự đổi mới về phương pháp đào tạo sẽ tạo hiệu ứng đối với phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập. Chính vì vậy, phương pháp đào tạo phù hợp với nội dung, chương trình, mong đợi, kỳ vọng của người học là một điều kiện quan trọng để chất lượng giáo dục đại học được đảm bảo.

Thứ năm, tổ chức đào tạo là một yếu tố quan trọng cấu thành chất lượng giáo dục đại học. Tổ chức đào tạo là sự kết hợp, nâng cao hiệu quả của các yếu tố đầu vào. Một đội ngũ giảng viên tốt, chương trình đào tạo tốt và người học có năng lực phù hợp nhưng không tổ chức đào tạo hiệu quả cũng sẽ dẫn đến chất lượng đào tạo không đáp ứng được mong đợi, kỳ vọng, không thực sự tương xứng với chất lượng của các yếu tố đầu vào. Tổ chức đào tạo bao gồm nhiều nội dung như mức độ đa dạng hoá các hình thức đào tạo, đáp ứng yêu cầu học tập của người học theo quy định; đào tạo theo học chế niên chế hay tín chỉ, tính linh hoạt trong hoạt động đào tạo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học; kế hoạch và phương pháp đánh giá hợp lý các hoạt động giảng dạy của giảng viên; chú trọng việc triển khai đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học theo hướng phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và làm việc theo nhóm của người học; phương pháp và quy trình kiểm tra đánh giá được đa dạng hoá, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với hình thức đào tạo, hình thức học tập, mục tiêu môn học và đảm bảo mặt bằng chất lượng giữa các hình thức đào tạo; đánh giá được mức độ tích luỹ của người học về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề, có cơ sở dữ liệu về hoạt động đào tạo của nhà trường, tình hình sinh viên tốt nghiệp, tình hình việc làm và thu nhập sau khi tốt nghiệp, có kế hoạch đánh giá chất lượng đào tạo đối với người học sau khi ra trường và kế hoạch điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của xã hội…

Thứ sáu, yếu tố cơ sở vật chất và đầu tư tài chính. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo đại học rất đa dạng và mỗi cơ sở giáo dục, mỗi ngành đào tạo có những yêu cầu riêng. Yếu tố cơ sở vật chất ở đây rất đa dạng, trong đó cần chú ý đến yếu tố mặt bằng, diện tích cơ sở giáo dục đại học trên một sinh viên, hệ thống thư viện, phòng học, phòng thí nghiệm, bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc dạy và học được thực hiện và thực hiện có hiệu quả. Mức độ hợp lý trong đầu tư tài chính cho giáo dục đại học là yếu quan trọng trong bảo đảm chất lượng. Với đầu tư tài chính quá thấp thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Định mức phân bổ tài chính theo đầu sinh viên hay theo chất lượng, kết quả đào tạo cũng sẽ tác động đến định hướng quản lý chất lượng ở mỗi cơ sở giáo dục đại học.

Thứ bảy, yếu tố nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nghiên cứu khoa học được xem là chìa khoá để nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Sự gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo, một mặt, sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, mặt khác, kết quả nghiên cứu tạo ra những cơ sở quan trọng cho việc đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, những nhân tố để đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.

1.1.4. Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học

Khái niệm tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học

Trong Từ điển Tiếng Việt, tiêu chí được giải nghĩa là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm [61, tr.1227]. Theo Từ điển Oxford, tiêu chí (criterion) là một phương tiện dùng để đánh giá hoặc quyết định. Theo Đại từ điển Bách khoa Xô viết (bản tiếng Nga), tiêu chí là dấu hiệu mà trên cơ sở đó tiến hành đánh giá, xác định, quy định, định nghĩa hoặc phân loại, phân hạng sự vật, hiện tượng nào đó, là thước đo của ý kiến, xét đoán, phán đoán, thước đo của sự đánh giá.

Như vậy, tiêu chí là tính chất, dấu hiệu được sử dụng làm căn cứ để đánh giá, phân loại các sự vật, hiện tượng với nhau. Theo các tiêu chí khác nhau thì sự đánh giá, phân loại cũng cho kết quả khác nhau. Bản thân tiêu chí luôn tồn tại trong mối liên hệ với nhau và tùy thuộc vào mối liên hệ, sự kết hợp giữa các tiêu chí mà hình thành tiêu chí ở cấp độ cao hơn.Có thể hiểu một cách hình tượng hóa rằng tiêu chí là thước đo một thuộc tính hay một mặt nhất định của sự vật, hiện tượng. Mỗi tiêu chí đại diện cho một mặt như vậy, và càng tìm hiểu được nhiều tiêu chí liên quan thì việc đánh giá sự vật, hiện tượng càng chính xác hơn. Trên thực tế hiếm có trường hợp nào người ta đánh giá sự vật, hiện tượng lại chỉ dựa trên duy nhất một tiêu chí.

Từ điển Giáo dục học định nghĩa: “tiêu chí đánh giá là dấu hiệu, tính chất được lựa chọn làm căn cứ, làm chuẩn để so sánh, đối chiếu, xác định, mức độ kết quả đạt tới của những thứ cần đánh giá” [49, tr.391].

Với giáo dục đại học đại học, tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học chính là hệ thống chỉ số nhằm lượng hóa mức độ đáp ứng mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đại học được nhà nước, cộng đồng xã hội, địa phương và bản thân mỗi cơ sở giáo dục đại học xác định ở mỗi thời kỳ.

Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học

Giáo dục đại học là một quá trình, vì vậy, các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học phải bao quát được các yếu tố đầu vào, quy trình và đầu ra. Tuy nhiên, các tiêu chí này cần phải được xây dựng và đánh giá với trọng số khác nhau. Bởi lẽ chất lượng giáo dục đại học được phản ánh và thể hiện đầy đủ nhất ở chất lượng đầu ra, chất lượng sinh viên sau khi tốt nghiệp. Ở các quốc gia, các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học có những sự khác biệt nhất định về từng chỉ số cụ thể, tuy nhiên, nhìn chung, cách tiếp cận xây dựng các tiêu chí được xây dựng theo cách tiếp cận hệ thống quá trình. Có thể khái quát, các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học thường được xây dựng bao gồm:

-Tiêu chí về mục tiêu và nhiệm vụ: Mức độ cụ thể, rõ ràng của mục tiêu; định hướng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, được điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng, phù hợp với điều kiện thực tiễn…;

-Tiêu chí về giáo viên và cán bộ quản lý:trình độ cán bộ quản lý, trình độ giảng viên, tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ, tỷ lệ sinh viên/giảng viên; số giờ giảng trung bình của giảng viên; cơ cấu giảng viên, cán bộ quản lý…

-Tiêu chí về chương trình, giáo trình: Mục tiêu chương trình, cấu trúc, nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo, được xây dựng và điều chỉnh phù hợp với sự tham của giảng viên, các chuyên gia, các đơn vị tuyển dụng…;

Tiêu chí về thành phần sinh viên:điểm trung bình của thí sinh được tuyển vào đại học; mức độ được cập nhật thông tin về chương trình đào tạo, cách thức kiểm tra, đánh giá, quy chế, chính sách đào tạo…

-Tiêu chí về cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo: bao gồm các chỉ số về ngân sách tài trợ, thư viện, phòng học, các thiết bị hỗ trợ học tập…;

-Tiêu chí về tổ chức và quản lý: cơ cấu tổ chức hợp lý phù hợp với yêu cầu thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ…;

-Tiêu chí về hoạt động dạy và học: kế hoạch đào tạo, giám sát việc thực hiện kế hoạch, việc đánh giá, thời gian đào tạo…;

Tiêu chí về nghiên cứu khoa học: ngân sách nhà trường dành cho nghiên cứu khoa học; các nghiên cứu được tài trợ; số lượng giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học; số bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế; số lần trích dẫn bài báo; số bằng sáng chế; số giảng viên được mời chủ tọa các hội nghị quốc gia, quốc tế; số nghiên cứu sinh nước ngoài theo học…

Tiêu chí về sinh viên tốt nghiệp: năng lực của sinh viên tốt nghiệp, hiệu quả đào tạo của cơ sở giáo dục đại học; phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm; lương, thu nhập trung bình, sự hài lòng của đơn vị tuyển dụng; phần trăm sinh viên quay lại trường tiếp tục theo học ở bậc học cao hơn; phần trăm sinh viên tốt nghiệp theo hoc sau đại học tại các trường khác…

1.2. Các mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục đại học

1.2.1. Kiểm soát chất lượng

Kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý đã được sử dụng lâu đời nhất, được thực hiện ở khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất/đào tạo nhằm phát hiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần của sản phẩm không đạt các chuẩn mực chất lượng (ví dụ không đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật). Đây là quá trình xảy ra sau khi sản phẩm đã được tạo ra, nên nếu phải loại bỏ sản phẩm sẽ dẫn đến lãng phí nguyên vật liệu, thời

gian và công sức. Trong khi kiểm soát chất lượng được xem như một khái niệm cũ của đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực sản xuất hay công nghiệp thì khái niệm này tương đối mới và ít được chấp nhận trong môi trường đại học. Điều này xuất phát từ lý do, trong giáo dục đại học, khó có thể định nghĩa thế nào là chất lượng và giáo dục đại học bao giờ cũng là một quá trình hai chiều. Hơn nữa, việc xác định rõ ràng chất lượng giáo dục đại học cũng gặp nhiều khó khăn vì chất lượng của quá trình giáo dục trong đại học được thể hiện qua sự đóng góp của các sinh viên sau tốt nghiệp.

1.2.2. Đảm bảo chất lượng

Trong lĩnh vực sản xuất, bảo đảm chất lượng (Quality assurance) là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện nhằm phòng ngừa sự xuất hiện những sai sót bằng các quy trình và cơ chế nhất định, có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa người quản lý và người điều hành, giữa cấp trên và cấp dưới, phù hợp với quá trình quản lý phi tập trung, phần lớn trách nhiệm thuộc về người lao động.Trong giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng. Điều quan trọng của một khung chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học cần thiết lập một hệ thống phù hợp nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục. Đặc điểm chủ yếu của hệ thống này là tính tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học trước cộng đồng về chất lượng đào tạo của mình. Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ các sáng kiến nhằm củng cố hệ thống giáo dục đại học bằng cách tập trung vào kết quả đầu ra.

Hoạt động đảm bảo chất lượng là sự phối hợp có trách nhiệm giữa cơ sở giáo dục đại học với cơ quan bên ngoài, nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về cơ sở giáo dục đại học. Chất lượng chỉ có thể được duy trì và nâng cao nhờ các hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý chất lượng trong nhà trường; là kết quả của sự tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.

1.2.3. Thanh tra chất lượng

Thanh tra chất lượng là việc của một nhóm người do các cơ quan hữu quan cử tới xem xét một cách kỹ lưỡng quá trình đảm bảo chất lượng và kiểm tra chất lượng tại một cơ sở giáo dục đại học có được thực hiện một cách hợp lý và đúng kế hoạch hay không. Thanh tra chất lượng thường không quan tâm tới sứ mạng, mục tiêu của cơ sở giáo dục đại học hoặc những mục tiêu này đạt được như thế nào mà duy nhất chỉ quan tâm đến quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược tại một thời điểm nhất định.

1.2.4. Kiểm định chất lượng

Kiểm định chất lượng giáo dục đại học là thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất ở Hoa Kỳ. Kiểm định có thể được áp dụng cho một cơ sở giáo dục đại học (có thể chỉ là một chương trình đào tạo đại học) dựa trên bộ tiêu chí xác định. Kết quả của Kiểm định chất lượng nhằm đảm bảo với cộng đồng cũng như với các tổ chức hữu quan rằng một cơ sở đào tạo đại học có những mục tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp; có được những điều kiện để đạt được những mục tiêu đó và có khả năng phát triển bền vững. Kiểm định chất lượng nhằm hai mục đích: i) đảm bảo với những đối tượng tham gia vào công tác giáo dục rằng một chương trình đào tạo hay một cơ sở giáo dục đại học đã đạt hay vượt những chuẩn mực nhất định về chất lượng; ii) hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học liên tục cải thiện chất lượng.

1.2.5. Đánh giá chất lượng

Chất lượng giáo dục đại học như đã phân tích là một khái niệm động, đa chiều, gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người và người. Vì vậy, không thể dùng một phép đo đơn giản để có thể đo lường chất lượng giáo dục đại học. Trong giáo dục đại học, người ta thường dùng một hệ thống thước đo gồm các tiêu chí và các chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các cơ sở giáo dục đại học. Hệ thống thước đo này được dùng để đánh giá, đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể đánh giá, đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học. Các chỉ số đó có thể là chỉ số định lượng, đo lường, đánh giá bằng điểm số hoặc là chỉ số định tính, đánh giá thông qua các ý kiến nhận xét của người đánh giá.

1.2.6. Chính sách chất lượng và kế hoạch chiến lược chất lượng

Để đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, nền giáo dục đại học và mỗi cơ sở giáo dục đại học cần phải có một chủ trương rõ ràng về chất lượng. Chính sách chất lượng là một tuyên ngôn về sự cam kết của mình đảm bảo sẽ cung cấp một nền giáo dục đại học có chất lượng. Chủ trương đó được thể hiện bằng những phương châm cụ thể như cam kết không ngừng nâng cao chất lượng, không ngừng nâng cao hiệu quả của chất lượng giáo dục đại học; các cơ sở giáo dục đại học sử dụng hệ thống tự kiểm định để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu từ đó có định hướng, giải pháp để phát huy điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, hạn chế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

Chất lượng giáo dục đại học không tự nhiên mà có mà phải có kế hoạch chiến lược về chất lượng. Chất lượng phải là vấn đề quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của hệ thống giáo dục đại học và mỗi cơ sở giáo dục đại học. Thiếu một tầm nhìn chiến lược, dài hạn, nền giáo dục đại học và mỗi cơ sở giáo dục đại học sẽ không thể có kế hoạch tiến tới chất lượng cao.2.1.4. Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học và các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

1.2.7 Khái niệm quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Về tổng thể,quản lý nhà nước có thể hiểu là sự tác động tổ chức mang tính quyền lực – pháp lý của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức khi được nhà nước trao quyền tới ý thức, hành vi, xử sự của cá nhân, tổ chức, cơ quan, tới các quá trình xã hội hướng chúng vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định của quản lý nhà nước và xã hội. Cũng cần phải lưu ý là sự tác động này không phải là sự tác động một chiều mà có sự tác động hai chiều giữa chủ thể quản lý nhà nước và đối tượng quản lý nhà nước nhằm tạo sự hài hòa về lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và các đối tượng có liên quan.

Từ cách tiếp cận này, quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học có thể được hiểu là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước, trên cơ sở pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước uỷ quyền nhằm định hướng phát triển, nâng cao cao chất lượng giáo dục đại học đáp ứng mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực đại học cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia  

Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học là tổng thể hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng, điều tiết, tạo điều kiện, nâng cao chất lượng giáo dục đại học đáp ứng các mục tiêu về nguồn nhân lực đại học cho phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.

Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục giáo dục đại học cần được hiểu đó là quá trình nhà nước định hướng, tạo ra một hành lang pháp lý, lộ trình chuẩn hoá để các cơ sở giáo dục đi đến được mục tiêu chất lượng. Quản lý nhà nước về chất lượng có hiệu quả chính là một giải pháp quản lý tổng thể, quan trọng trong quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học. Quá trình quản lý phải bảo đảm các quá trình kiểm định chất lượng được thực hiện đúng quy trình, chuẩn mực của pháp luật quy định. Kết quả đánh giá chất lượng hình thành nên những kết luận chính xác, khách quan tạo ra sự đồng thuận cao từ bản thân cơ sở giáo dục và cộng đồng xã hội. Kết quả đánh giá từ cơ quan quản lý nhà nước phải thực sự giúp cho cơ sở giáo dục nhận thức đúng mặt mạnh, mặt yếu và bức tranh chất lượng thực sự của mình. Công tác quản lý nhà nước không chỉ là việc định ra chính sách quản lý mà còn phải hỗ trợ cho đối tượng quản lý thực hiện các chính sách đó. Hiệu quả của quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học cần được đánh giá qua chất lượng của các cuộc kiểm định chất lượng và giá trị của những kết quả kiểm định trong việc nâng cao chất lượng của cơ sở giáo dục đại học. Nói cách khác, quản lý nhà nước về chất lượng phải tạo ra được những tác động tích cực cho quá trình nâng cao chất lượng.

1.2.8. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Tư duy quản lý nhà nước về giáo dục đại học

Tư duy quản lý nhà nước về giáo dục đại học tác động trực tiếp và toàn diện đến hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Tư duy quản lý nhà nước sẽ quy định nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục đại học. Tư duy quản lý theo hướng tập trung hay tư duy quản lý theo hướng phân cấp, giao quyền tự cho cho các cơ sở giáo dục đại học sẽ có sự khác biệt lớn trong nội dung quản lý. Tư duy đúng về vai trò, vị trí của nhà nước đối với giáo dục đại học sẽ tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước tập trung vào những vấn đề

mang tính chiến lược, chuyển từ tư duy quản lý hành chính đơn thuần sang giám sát sự phát triển của giáo dục đại học, tạo điều kiện cho giáo dục đại học phát triển. Tư duy đúng sẽ định vị được vai trò của nhà nước, xã hội, các cơ sở giáo dục đại học đối với chất lượng, góp phần bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.

Năng lực quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Năng lực quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học được thể hiện qua năng lực thể chế và năng lực công chức. Năng lực thể chế có thể được hiểu là năng lực của các cơ quan nhà nước hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ đặt ra với mình. Năng lực thể chế được thể hiện trên nhiều phương diện trong đó đó nhấn mạnh đến năng lực xây dựng và thực hiện thành công thể chế quản lý. Quá trình này đồng thời gắn liền với việc tổ chức hợp lý bộ máy và bảo đảm hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước.

Bảng 2.1. Năng lực thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Năng lực thể chế quyết định chất lượng thể chế và hiệu quả thực hiện thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Đến lượt mình, thể chế, chính sách phát triển giáo dục đại học là nhân tố quan trọng trong quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Khung thể chế, chính sách là sự cụ thể hoá tư duy, chủ trương, định hướng quản lý giáo dục đại học. Định hướng đúng, tư duy đúng cần được thể chế hoá thành chính sách, pháp luật. Từ góc độ kinh tế học thể chế: thể chế là chất xúc tác cho phát triển, là chìa khóa mở ra các mô hình thịnh vượng trên thế giới. Sự đồng bộ của hệ thống thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học có tác động trực tiếp đến sự phát triển lành mạnh của hệ thống giáo dục đại học, bảo đảm sự vận động của các cơ sở giáo dục đại học theo hướng chất lượng.

Cùng với năng lực thể chế, năng lực quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ làm công tác quản lý giáo dục đại học là nhân tố. Công chức chính là chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng các chính sách, pháp luật liên quan đến giáo dục đại học, đồng thời, là chủ thể tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật này trong thực tiễn. Năng lực của đội ngũ công chức quản lý giáo dục đại học tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ sẽ đảm bảo hiệu quả quản lý, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của của giáo dục đại học. Ngược lại, năng lực quản lý yếu kém, hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học sẽ bị hạn chế.

Phương thức, cách thức quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Phương thức, cách thức quản lý là nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học trên nhiều phương diện. Việc lựa chọn phương thức quản lý tác động đến tổ chức bộ máy, khung thể chế quản lý nhà nước. Nếu nhà nước quản lý bằng cách thức can thiệp sâu vào hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, với cách quản lý theo kiểu “cầm tay, chỉ việc” đối với các cơ sở đại học thì tổ chức bộ máy, khung thể chế sẽ có sự khác biệt khi nhà nước trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học. Nếu nhà nước quản lý bằng việc can thiệp sâu vào các cơ sở giáo dục đại học bộ máy quản lý sẽ cồng kềnh và cũng khó khăn trong việc có thể bao quát toàn bộ hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học. Ngược lại, nhà nước trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, bộ máy quản lý nhà nước sẽ có những thay đổi, có thể có quy mô nhỏ hơn, nhà nước có điều kiện tập trung sâu hơn vào các nhiệm vụ thuộc về chức năng bản chất của mình. Điều này có thể đem đến những điều kiện thuận lợi cho nhà nước quản lý hiệu quả hơn đối với chất lượng giáo dục đại học.

Hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất lượng giáo dục đại học

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là một mắt khâu của quá trình quản lý nhà nước. Không có thanh tra, kiểm tra, giám sát đồng nghĩa quản lý nhà nước đã mất đi một công cụ quản lý quan trọng. Thanh tra, kiểm tra, giám sát một mặt giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học phát hiện kịp thời những sai phạm trong vận hành của nền giáo dục đại học, mặt khác, đây cũng chính là kênh để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá hiệu quả chính sách, pháp luật, có được những thông tin xác thực để hoàn thiện khung thể chế, chính sách về giáo dục đại học. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật còn là công cụ tạo áp lực cho việc tuân thủ pháp luật, thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý chất lượng, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.

Yêu cầu của phát triển nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi nguồn nhân lực của mỗi quốc gia cần phải được nâng tầm về chất lượng. Năng lực cạnh tranh của quốc gia không thể dựa trên nguồn nhân lực số đông và giá rẻ. Năng lực cạnh tranh quốc gia phải dựa trên năng suất lao động mà năng suất lao động được tạo dựng bởi nguồn nhân lực có chất lượng cao. Trong nền kinh tế thế kỷ XXI, nguồn nhân lực chất lượng cao mới tạo nên lợi thế cạnh tranh, tạo nên sức bật cho mỗi quốc gia. Chính vì vậy, quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học cần có cách tiếp cận từ yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực cho nền kinh tế thị trường, cho toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Sự gia tăng về quy mô giáo dục đại học không thể bỏ quên mục tiêu về chất lượng giáo dục đại học. Nhà nước cần phải tư duy lại mục tiêu của giáo dục đại học, bảo đảm nguồn nhân lực đại học có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế.Đồng thời, trong quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, nhà nước cũng cần tăng cường tiếng nói, tăng cường sự tham gia của thị trường lao động, của cộng đồng xã hội, của cộng đồng

giáo dục đại học để có thông tin nhu cầu thị trường lao động, kết nối giữa nhu cầu thị trường lao động với năng lực đào tạo của hệ thống giáo dục đại học.

Trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học

Hoạt động quản lý nhà nước gắn liền với đối tượng quản lý là các cơ sở giáo dục đại học. Quản lý là sự tương tác giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào hiệu quả tác động đến đối tượng quản lý. Nhà nước thực hiện vai trò quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, tuy nhiên, chất lượng giáo dục đại học gắn liền với mỗi cơ sở giáo dục đại học. Việc các cơ sở giáo dục tuân thủ chặt chẽ các quy định của nhà nước về cam kết chất lượng, cam kết các điều kiện bảo đảm chất lượng sẽ góp phần khẳng định hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Ngược lại, khi các cơ sở giáo dục đại học thực hiện các quy định pháp luật của nhà nước mang tính hình thức, đối phó, thì hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học tất yếu sẽ bị tác động tiêu cực. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, nhà nước phải thiết lập cơ chế để duy trì và nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học, bảo đảm các cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm với người học, có trách nhiệm với xã hội, với nhà nước về chất lượng đào tạo cuối cùng của mình.

2. Vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học

“Vai trò” trong Từ điển Tiếng Việt được hiểu là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, kinh tế, xã hội. Tiếp cận từ góc độ xã hội học, vai trò được hiểu là những chuẩn mực, những hành vi của một chủ thể gắn với một vị thế xã hội nhất định. Vai trò của một yếu tố, một chủ thể bao giờ cũng được đặt trong mối tương quan với các yếu tố, chủ thể khác.

Từ quan niệm về vai trò, vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học có thể hiểu là tổng thể những hoạt động, những nội dung quản lý của nhà nước nhằm bảo đảm các mục tiêu, sứ mệnh, trách nhiệm của nền giáo dục đại học thực hiện đầy đủ được thực hiện đúng hướng, hiệu quả, bảo đảm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trình độ đại học phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội

2.1. Vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục – tiếp cận từ lý thuyết hệ thống

Giáo dục quốc dân là một hệ thống, trong đó mỗi đơn vị, mỗi cơ sở làm công tác giáo dục cũng là hệ thống (gọi tắt là cơ sở giáo dục) nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Do vậy, quản lý giáo dục, thực chất là quản lý hệ thống giáo dục (hay điều khiển hệ thống giáo dục). Trong hệ thống đó, nhà nước là chủ thể quản lý hệ thống giáo dục. Cách tiếp cận lý thuyết hệ thống trong quản lý giáo dục xem xét vai trò của nhà nước trong sự tương tác với các thành tố khác nhà trường, gia đình và xã hội và vai trò của mỗi chủ thể này trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Giáo dục hiện đại nên là địa bàn chung, là nơi gặp gỡ giao thoa giữa nhiều bên, nhiều tác nhân trong một cơ chế cạnh tranh và dân chủ. Các bên gặp nhau trong những cơ chế điều tiết, tuy phải phụ thuộc và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng mỗi bên đều có khoảng trống, có quyền hạn riêng. Có ảnh hưởng từ nhà nước trên các trường và các gia đình, nhưng cũng có ảnh hưởng từ các gia đình và nhà trường lên các chính sách của nhà nước. Sự tương tác phụ thuộc lẫn nhau này trong một cơ chế cạnh tranh giữa các trường, trong một tinh thần sư phạm và thái độ phục vụ hướng về người học sẽ làm hài hòa và thúc đẩy giáo dục phát triển.

Lý thuyết hệ thống trong quản lý giáo dục trong đó có giáo dục đại học, thông qua những chính sách về giáo dục của mình, nhà nước tác động, định hướng và ảnh hưởng trên giáo dục, ảnh hưởng trên sự điều tiết, trên hành vi, chiến lược của các tác nhân khác trên thị trường giáo dục. Nhà nước có vai trò bảo đảm sự phát triển ổn định của nền giáo dục đại học, đồng thời, là chủ thể để khắc phục những tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với giáo dục đại học và khắc phục những biểu hiện tiêu cực trong sự vận động và phát triển của bản thân nền giáo dục đại học. Bên cạnh đó, với vai trò là một thành tố của hệ thống quản lý giáo dục đại học, nhà nước cần điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, cách thức hoạt động của mình sao cho các thành tố khác có thể phát huy được vai trò của mình để tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra với nhà nước. Như vậy, từ góc độ lý thuyết hệ thống, vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học được thể hiện trên các phương diện định hướng sự phát triển cho giáo dục đại học bằng các công cụ, phương tiện khác nhau, tạo điều kiện, hỗ trợ cho giáo dục đại học, thiết lập cơ chế điều chỉnh bảo đảm sự vận hành ổn định của hệ thống giáo dục, kết nối các chủ thể liên quan đến giáo dục đại học để bảo đảm bảo đảm công bằng trong giáo dục đại học, bảo đảm chất lượng của nền giáo dục đại học.

2.2. Vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học từ góc nhìn lý thuyết kinh tế học

Từ góc độ kinh tế học, giáo dục đại học được xem là một loại hàng hóa công nhưng tính chất đặc biệt của nó đã làm cho vấn đề cung cấp và sử dụng hiệu quả đã trở nên phức tạp hơn nhiều so với các loại hàng hóa thông thường. Giáo dục đại học cũng có nhiều bất đối xứng thông tin cả về phía người cung cấp và người tiêu dùng. Đó là sự bất đối xứng về chất lượng, hiệu quả giáo dục, cơ hội việc làm sau đào tạo…Vấn đề thông tin bất đối xứng của giáo dục đại học càng cần được quan tâm nếu như hệ thống giáo dục đại học chỉ quan tâm đến yếu tố đầu vào mà không chú ý áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng dạy và học. Trong trường hợp này, chỉ có sự can thiệp của nhà nước mới có thể khắc phục khiếm khuyết trong cung ứng và tiếp nhận giáo dục đại học.Giáo dục đại học có ngoại tác tích cực khi việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học không chỉ đem lại lợi ích riêng lẻ cho mỗi cá nhân mà cho cả cộng đồng xã hội. Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học còn kéo theo sự nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh.

Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, nhà nước là người tham gia lớn nhất và đóng vai trò quan trọng nhất, vừa là nhà quản lý toàn bộ nền kinh tế và vừa làm nhiệm vụ trực tiếp cung cấp hàng hóa cho xã hội. Trên thực tế, với bất kỳ loại hàng hóa, dịch vụ nào trong nền kinh tế, nhà nước đều phải có trách nhiệm kiểm soát chất lượng, giá cả của nó. Để kiểm soát chất lượng các sản phẩm thông thường, chính phủ có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: thông qua công cụ kiểm soát chất lượng, quy định về minh bạch hóa thông tin về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, chế tài xử lý vi phạm về chất lượng… Tuy nhiên với giáo dục đại học, cơ chế kiểm soát chất lượng, cũng như giá cả của nó phức tạp hơn rất nhiều. Khi ấy, nhà nước, một mặt, gặp những khó khăn hơn trong nhiệm vụ quản lý, và mặt khác, phải đồng thời trực

tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hóa để đáp ứng nhu cầu học tập của toàn xã hội, khắc phục sự mất cân bằng trong cung cầu về giáo dục đại học, tạo đối trọng để kiểm soát và định hướng cho khu vực giáo dục đại học ngoài nhà nước vận động, phát triển hướng tới chất lượng để thu hút sự quan tâm của người học.

Như vậy, từ góc độ lý thuyết kinh tế học, nhà nước là chủ thể bảo đảm sự phát triển cân bằng của giáo dục đại học, khắc phục những khuyết tật trong cung ứng giáo dục đại học về chất lượng, chi phí, bảo đảm người học được nhận chất lượng tương xứng với mức chi trả của họ. Thông qua, cơ chế kiểm soát chất lượng, nhà nước can thiệp để đảm bảo giáo dục đại học thực hiện đầy đủ vai trò ngoại tác tích cực, thúc đẩy sự phát triển về năng suất lao động của toàn xã hội. Nhà nước cũng là chủ thể tổ chức và cung ứng giáo dục đại học với việc thiết lập hệ thống các trường đại học công lập nhằm định hướng cho sự phát triển của toàn bộ nền giáo dục đại học và duy trì nguồn cung nhân lực giáo dục đại học có chất lượng.

2.3.Nhận diện vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học

2.3.1. Nhà nước quản lý chất lượng giáo dục đại học

Chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm của cộng đồng xã hội, của nhà nước và của các cơ sở đào tạo. Chính vì vậy, trong định hướng quản lý của mình, nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bảo đảm chất lượng giáo dục. Vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học ở mỗi quốc gia có thể được thể hiện ở những phương diện, những mặt hoạt động khác nhau nhưng điểm mấu chốt trong vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục thể hiện ở vai trò chủ thể quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học. Trong sự tương tác với xã hội, hệ thống giáo dục đại học, thị trường, và các chủ thể khác, nhà nước là chủ thể tạo cơ chế, chính sách bảo đảm sự phát triển hài hòa của giáo dục đại học, cân đối giữa số lượng và chất lượng. Nhà nước nắm bắt tín hiệu của thị trường đặc biệt là thị trường lao động để thiết lập tầm nhìn, mục tiêu cho giáo dục đại học, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đại học để tránh sự lệch pha giữa giáo dục đại học và thị trường lao động. Nhà nước tạo lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo dục đại học gắn với tín hiệu thị trường, thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó, việc thiết lập cơ chế quản lý, trao quyền

tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học nhằm thúc đẩy các cơ sở giáo dục có tiền vận động theo mục tiêu chất lượng nâng cao chất lượng. Sự quản lý của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học bảo đảm sự phát triển lành mạnh của giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu giáo dục đại học của nhân dân đồng thời bảo đảm người dân không phải thụ hưởng dịch vụ giáo dục đại học chất lượng thấp, không được thị trường lao động chấp nhận.

2.3.2. Vai trò can thiệp đối với chất lượng giáo dục đại học

Sự can thiệp của nhà nước đối với hệ thống giáo dục đại học nhằm đảm bảo hệ thống giáo dục đại học đi đúng hướng, thực hiện đúng sứ mệnh, mục tiêu của mình đối với cộng đồng xã hội. Sự can thiệp của nhà nước nhằm khắc phục xu hướng thương mại hóa giáo dục đại học, đào tạo chạy theo số đông mà không quan tâm đến chất lượng, đào tạo với mục tiêu bằng cấp… Sự can thiệp của nhà nước cũng nhằm bảo đảm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục đại học. Sự can thiệp của nhà nước có thể được thực hiện thông qua quy hoạch mạng lưới trường đại học. Sự điều chỉnh trong các nội quy hoạch về số lượng các cơ sở giáo dục đào tạo trên phạm vi quốc gia và từng vùng lãnh thổ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chung của giáo dục đại học. Những định hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển cho mỗi thời kỳ cũng đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với nguồn nhân lực, từ đó, có tác động đến hoạt động đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học. Mặt khác, bằng cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhà nước kịp thời xử lý các vấn đề chưa hợp lý trong hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, chấn chỉnh các vi phạm của các cơ sở giáo dục đại học trong tổ chức đào tạo để đảm bảo chất lượng đào tạo.

2.3.3. Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ cho giáo dục đại học vận động theo hướng chất lượng

Giáo dục đại học có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia. Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học theo hướng chất lượng, nhà nước có các biện pháp hỗ trợ cho sự phát triển của giáo dục đại học. Sự hỗ trợ của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học được thể hiện trên nhiều phương diện. Các cơ sở giáo dục đại học được nhà nước phân bổ ngân sách. Trên thực tế, “hầu hết các trường đại học ở nước đang phát triển, 90% nguồn thu của họ là từ phân bổ của nhà nước cho giảng dạy”.Nhà nước cũng tạo điều kiện ưu đãi về đầu tư cơ sở vật chất, cơ chế sử dụng đất đai… cho các cơ sở giáo dục đại học.mức độ khác nhau tùy theo trình độ phát triển ở mỗi quốc gia, nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục đại học. Cơ chế này này đã mở ra, tạo cơ hội cho các cơ sở giáo dục đại học nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo trong tuyển sinh, trong quản trị nội bộ, trong quản lý tài chính và tài sản của đơn vị, sử dụng ngân sách nhà nước được giao tiết kiệm, hiệu quả hơn, tạo điều kiện phát triển nguồn thu sự nghiệp thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ; huy động được nhiều nguồn vốn để đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị… thông qua các hoạt động hợp tác liên doanh, liên kết. Điều này góp phần tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học có nhiều nguồn lực hơn cho việc đảm bảo chất lượng.

Cùng với những sự hỗ trợ, tạo điều kiện này, nhà nước còn tăng cường đối thoại, lắng nghe tiếng nói của các cơ sở giáo dục đại học để điều chỉnh chính sách, tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của giáo dục đại học. Ở Việt Nam, từ năm 2010 đến nay, Chính phủ đã tổ chức các hội thảo về chất lượng giáo dục đại học, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học nói lên tiếng nói của mình.

3.Nội dung quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

3.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giáo dục đại học

Chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm của cộng đồng xã hội, của nhà nước và của các cơ sở giáo dục. Chính vì vậy, trong định hướng quản lý của mình, nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bảo đảm chất lượng giáo dục. Vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học ở mỗi quốc gia có thể được thể hiện ở những phương diện, những mặt hoạt động khác nhau nhưng điểm mấu chốt trong vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục thể hiện ở vai trò chủ thể quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học. Nhà nước xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học bảo đảm nền giáo dục đại học có chất lượng. Chiến lược phát triển giáo dục đại học thiết lập tầm nhìn ở tầm quốc gia, xây dựng định hướng về một nền giáo dục đại học có chất

lượng trong tương lai. Các quy hoạch, kế hoạch cụ thể hóa nội dung chiến lược, đưa các nội dung chiến lược vào thực tiễn. Các chính sách về là công cụ định hướng, công cụ hỗ trợ cho sự phát triển của giáo dục đại học. Các chính sách này có thể trực tiếp quy định về chất lượng giáo dục đại học hoặc xác định các yêu cầu về chất lượng nguồn lực, yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội… góp phần định hướng cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện hoạt động đào tạo bảo đảm xây dựng nguồn nhân lực đại học đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực.

3.2. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Tạo lập thể chế là đặc điểm quan trọng của quản lý nhà nước. Thể chế có vai trò thiết lập hành lang cho sự vận động của các đối tượng, các chủ thể liên quan. Ở tầm vĩ mô, thể chế và hiệu lực của thể chế có vai trò quan trọng và quyết định đối với phát triển quốc gia. Đối với giáo dục đại học, để hướng tới xây dựng nền giáo dục đại học có chất lượng, việc xây dựng thể chế và bảo đảm hiệu lực thể chế trong thực tế luôn được nhà nước quan tâm. Thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học được xây dựng, ban hành với các mục đích cơ bản:

Thứ nhất, thể chế thể hiện ý chí chung của quốc gia về chất lượng giáo dục đại học, góp phần tạo lập sự đồng thuận trong việc tiếp cận, đánh giá, chia sẻ chuẩn mực, giá trị chung về một giáo dục đại học được coi là có chất lượng. Sự đồng thuận này tạo ra những ràng buộc, trách nhiệm pháp lý của các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục đại học, cộng đồng xã hội, gia đình, người học trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Nhà trường trên cơ sở khuôn khổ pháp lý phát huy năng lực trong thực hiện đào tạo, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo. Xã hội thông qua các công cụ pháp lý để giám sát, đánh giá về hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, đánh giá về chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học.

Thứ hai, nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm nhà nước có công cụ quản lý hiệu quả. Thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học quy định các vấn đề khác nhau liên quan đến chất lượng giáo dục đại học. Nhà nước xác định, khoanh vùng trách

nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học, xác định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại trong việc tuân thủ các yêu cầu về bảo đảm chất lượng, thiết lập cơ chế đánh giá chất lượng giáo dục đại học, thiết lập cơ chế pháp lý giữa chất lượng và thể chế quản lý các điều kiện bảo đảm chất lượng như yêu cầu về tuyển sinh đầu vào, nội dung chương trình, đội ngũ giảng viên, quyền tự chủ, chế độ tài chính…

Để quản lý chất lượng, nhà nước tổ chức xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục nhằm đánh giá mặt bằng chất lượng giáo dục đại học. Trên cơ sở các tiêu chí về chất lượng giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục có thể đánh giá về mặt bằng chất lượng của mình. Việc xác định được những phương diện chất lượng giáo dục còn hạn chế sẽ giúp cho các cơ sở có kế hoạch, có định hướng để khắc phục, từng bước đạt chuẩn và nâng cao chất lượng. Các tiêu chí về chất lượng giáo dục đại học chính là đích phấn đấu của các cơ sở giáo dục đại học. Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học nhằm bảo đảm các cơ sở giáo dục đại học không ngừng nâng cao chất lượng. Điều này, tạo nên một hiệu ứng đặc biệt đối với sự phát triển giáo dục đại học. Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học được xác định rõ ràng cũng chính là công cụ để cộng đồng xã hội giám sát, đánh giá về các cơ sở giáo dục. Cơ chế quản lý của nhà nước cùng việc giám sát của xã hội sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ sở giáo dục về chất lượng đào tạo của mình.

Nhà nước áp dụng các quy chuẩn chất lượng giáo dục đại học. Việc áp dụng các quy chuẩn về chất lượng giáo dục đại học được nhà nước thực hiện bằng nhiều biện pháp như nhà nước trực tiếp tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục đại học, nhà nước xây dựng thể chế cho việc hình thành các tổ chức đánh giá, quản lý hoạt động của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học này và nhà nước là người công nhận kết quả cuối cùng.

Nhà nước thiết lập các khung thể chế về việc áp dụng kết quả kiểm định, đánh giá chất lượng giáo dục đại học như xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước, các cơ sở giáo dục đại học sẽ được phân tầng, xếp hạng dựa trên các tiêu chí chính như vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục đại học; quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo, cơ cấu các hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học…

Thứ ba, thể chế nhằm hướng dẫn các nghiệp vụ liên quan đến quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Cơ chế kiểm soát, giám sát đối với chất lượng giáo dục đại học có những điểm phức tạp hơn những hàng hóa công, dịch vụ công khác. Thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học nhằm đảm bảo hoạt động này được thực hiện thống nhất, tránh sự khác biệt trong hoạt động quản lý nhà nước, trong áp dụng các văn bản pháp luật vào thực tiễn.

Thứ tư, thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học tạo khuôn khổ pháp lý trao quyền tự chủ và bảo đảm trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học. Với vai trò chủ thể quản lý, nhà nước quyết định trao quyền tự chủ phù hợp với năng lực thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học. Theo trình độ quản lý và yêu cầu thực tiễn, nhà nước xác lập quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học trong các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học; tự chủ quyết định phương thức tuyển sinh, chịu trách nhiệm về công tác tuyển sinh; xác định chỉ tiêu tuyển sinh, chịu trách nhiệm công bố công khai chỉ tiêu tuyển sinh, chất lượng đào tạo và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học; tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ… Việc giao quyền tự chủ nhằm tạo điều kiện phát huy năng lực, nâng cao trách nhiệm xã hội của mỗi cơ sở giáo dục đại học, nhằm khẳng định uy tín, năng lực và chất lượng đào tạo. Bởi lẽ, khi được giao quyền tự chủ, chất lượng là yếu tố sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở giáo dục đại học.

3.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Để hiện thực hóa mục tiêu của các thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, Nhà nước cần xây dựng, củng cố và tăng cường sức mạnh của bộ máy quản lý giáo dục đại học với nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức phù hợp. Việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý phải tương thích với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục đại học, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà

nước về chất lượng giáo dục đại học. Tổ chức bộ máy nhà nước quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc vào tư duy, mô hình, phương thức quản lý nhà nước. Với tư duy quản lý tập trung, nhà nước có thể thiết lập các cơ quan quản lý nhà nước để bao quát toàn diện các hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học. Với tư duy phân cấp, trao quyền tự chủ, nhà nước sẽ có những điều chỉnh trong việc tổ chức bộ máy, tạo lập bộ máy để quản lý những nội dung thiết yếu liên quan đến chất lượng giáo dục đại học.

Mô hình quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học cũng tác động đến việc tổ chức bộ máy nhà nước về chất lượng. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học hiện nay dựa trên 4 mô hình có tính bao quát là: i) Kiểm soát nhà nước hay Nhà nước kiểm soát (state control model), ii) Giám sát nhà nước hay Nhà nước giám sát (state-supervising model), iii) Dựa vào thị trường (market-based model); và iv) Quản lý công mới (the new public management). Ở mô hình kiểm soát nhà nước, nhà nước thành lập, sở hữu, tài trợ, kiểm soát và quản lý chặt chẽ các trường đại học, vì vậy, bộ máy quản lý sẽ có quy mô lớn và nhiều cấp quản lý. Ở mô hình giám sát nhà nước, nhà nước ảnh hưởng hạn chế hơn đối với trường đại học nhưng vẫn giữ vai trò quản lý vĩ mô, giám sát hệ thống. Tổ chức bộ máy quản lý cũng có sự điều chỉnh để thích ứng với vai trò này. Ở mô hình dựa vào thị trường, vai trò của nhà nước được xác định lại, một mặt, trách nhiệm của nhà nước là tổ chức bộ máy quản lý làm sao khơi dậy sức mạnh các lực lượng thị trường, tạo áp lực để thúc đẩy chất lượng và cạnh tranh giữa các trường, còn mặt khác thì phát hiện, ngăn chặn hay điều chỉnh khuyết tật của thị trường. Ở mô hình quản lý công mới, việc quản lý của nhà nước đối với các trường đại học gắn với vai trò định hướng, đo lường kết quả thực hiện, các hệ thống quản lý và theo dõi. Bộ máy quản lý nhà nước sẽ được tổ chức để quản lý hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục đại học, cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực này và công nhận kết quả đánh giá chất lượng.

Từ góc độ khoa học hành chính, các nguyên tắc chung trong xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý là: i) có sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý với tính phức tạp của chức năng, nhiệm vụ quản lý, tính đa dạng của các mục tiêu quản lý, quy mô và độ phức tạp của đối tượng quản lý với các điều kiện quản lý; ii) phạm

quản lý hiệu quả, khả năng quản lý được; iii) sự tương xứng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm; iv) sự linh hoạt và thích nghi, đáp ứng yêu cầu quản lý sự thay đổi.

3.4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong thực hiện pháp luật về chất lượng giáo dục đại học

Trong quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về chất lượng giáo dục đại học là một khâu không thể thiếu trong quá trình quản lý. Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm là công cụ góp phần bảo đảm hiệu lực thực tế của thể chế, chính sách quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giam sát, xử lý vi phạm pháp luật được thực hiện nhằm các mục đích:

Thứ nhất, thông qua hoạt động này để đánh giá về hiệu lực, hiệu quả thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Kiểm tra, thanh tra, giám sát giúp các cơ quan quản lý nhà nước có thông tin về tính hợp lý, tính khả thi của các quy định pháp luật. Sự phản hồi từ thực tiễn là cơ sở để hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học.

Thứ hai, thanh tra, kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về quản lý chất lượng giáo dục đại học như có thể phát hiện việc đảm bảo các quy định về tiêu chuẩn mở một ngành học, các tiêu chuẩn thành lập cơ sở đào tạo, sự thống nhất trong áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học…Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát tạo ra áp lực đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục đại học và các chủ thể khác phải tuân thủ các quy định của pháp luật, tạo tiền đề đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.

3.5. Thiết lập cơ chế hợp tác quốc tế để phát triển giáo dục đại học

Hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá đã trở thành một xu thế chung của thời đại. Nền giáo dục của mỗi quốc gia đều đứng trước những áp lực về chất lượng, sự tụt hậu về chất lượng, áp lực thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục. Nhà nước với vai trò của chủ thể quản lý thiết lập cơ chế bảo đảm lộ trình hội nhập của nền giáo dục đại học, xây dựng giải pháp bảo đảm hiệu quả của quá trình hợp tác quốc tế về giáo dục đại học. Nhà nước xây dựng thiết chế hợp tác quốc tế nhằm huy động mạnh mẽ các nguồn lực để phát triển giáo dục, từng bước chuyển sang mô hình giáo

dục mở, với ưu tiên hàng đầu trong đào tạo nhân lực, nhân tài và nâng cao chất lượng, xây dựng nền giáo dục hiện đại, tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Thông qua hợp tác quốc tế, nhà nước tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học tiếp nhận công nghệ giáo dục tiên tiến, xây dựng mô hình đào tạo chất lượng, có khả năng nhân rộng ra cả nước; tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học trong một số lĩnh vực then chốt; đào tạo một lực lượng lao động giỏi cả về chuyên môn và ngoại ngữ; giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với phương tiện, giáo trình và phương pháp giảng dạy tiên tiến… từ đó tạo nền tảng chuyển biến về chất lượng. Bên cạnh đó, cơ chế hợp tác quốc tế tạo điều kiện cho việc tiếp cận với chuẩn mực chất lượng giáo dục đại học khu vực và quốc tế, tạo cơ sở cho việc công nhận chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học từ các nước trong khu vực và quốc tế.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo