Các vấn đề cơ bản về quản lý tài sản lưu động

 Nguyễn Thị Thanh    
Các vấn đề cơ bản về quản lý tài sản lưu động
Rate this post

Tri Thức Cộng Đồng đang cung cấp Nhận làm thuê chuyên đề ,Viết essay, Thuê làm luận văn,… chuyên nghiệp nhất thị trường xin chia sẻ nội dung về các vấn đề cơ bản về quản lý tài sản lưu động.

1/ Khái niệm tài sản lưu động

Như ta đã biết, tư liệu lao động và đối tượng lao động là hai mặt của phạm trù tư liệu sản xuất. Nếu như phần lớn tư liệu lao động là tài sản cố định thì tài sản lưu động chính là đối tượng lao động và phần còn lại của tư liệu lao động.

Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động thường chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và trong chu kỳ ấy chúng chuyển hoá toàn bộ giá trị của mình vào sản phẩm.

Do đó đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao động khác. Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực thể của sản phẩm như bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh… một số khác bị mất đi như các loại nhiên liệu.

Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có các đối tượng lao động, lượng tiền ứng ra để thoả mãn nhu cầu về đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp chính vì thế ta có thể nói vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn (thời hạn sử dụng dưới một năm) và luân chuyển thường xuyên trong quá trình sản xuất.  

Khái niệm tài sản lưu động

Khái niệm tài sản lưu động

Như ta đã nói ở trên đối tượng lao động có những đặc điểm khác hẳn với tư liệu lao động nên kéo theo đó mà tài sản lưu động mang những đặc tính hoàn toàn khác với tài sản cố định là hầu như chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và luân chuyển duy nhất một lần.

Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các khoản mục như tiền mặt,các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Giá trị các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng.

Quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Quản lý tài sản lưu động có ảnh hưởng trực tiếp tới hai mục tiêu vô cùng quan trọng của doanh nghiệp là lợi nhuận và khả năng thanh toán cần thấy rằng sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản doanh nghiệp.

Song  do các đặc tính của tài sản lưu động củng như do sự đa dạng của nó mà việc quản lý tài sản lưu động trở nên rất phức tạp đòi hỏi rất nhiều cố gắng của doanh nghiệp.

Xem thêm:

2/ Vai trò của tài sản lưu động đối với doanh nghiệp

Như ta đã biết trong bất cứ doanh nghiệp nào tài sản lưu động cũng là một phần không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của mình. Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố định như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng…. doanh nghiệp còn phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hoá nguyên nhiên vật liệu… phục vụ cho quá trình sản xuất.

Như vậy, tài sản lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác tài sản lưu động là điều kiện tiên quyết cho quá trình sản xuất kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào.

Ngoài ra, tài sản lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục. Do đặc điểm của đối tượng lao động là giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào sản phẩm nên trong chu kỳ sản xuất sau lại phải thường xuyên mua sắm dự trữ vật tư hàng hóa để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất.

Lượng tài sản lưu động có hợp lý đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy tài sản lưu động còn là điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Vai trò của tài sản lưu động đối với doanh nghiệp

Vai trò của tài sản lưu động đối với doanh nghiệp

Tài sản lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhu cầu lượng vật tư dự trữ ở các khâu nhiều hay ít phản ánh  nhu cầu vốn lưu động nhiều hay ít.

Tài sản lưu động luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm ở các khâu có hợp lý hay không hợp lý và mức độ luân chuyển vốn lưu động đã đạt yêu cầu hay chưa. Bởi vậy thông qua sự vận động của tài sản lưu động có thể đánh giá được tình hình dự trữ tiêu thụ sản phẩm, tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

Tài sản lưu động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp, trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp thì cần phải có thêm một lượng vật tư hàng hoá nguyên nhiên vật liệu… để dự trữ và đưa vào sản xuất. Vốn lưu động bằng tiền còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.                                                  

Ngoài ra tài sản lưu động còn đóng một vai trò là giúp doanh nghiệp một cách đắc lực trong việc thanh toán và duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và chặn đứng nguy cơ phá sản doanh nghiệp. Vì vậy có thể nói tài sản lưu động góp phần vô cùng quan trọng giúp doanh nghiệp hoạt động bình thường và đứng vững.

Ta có thể khẳng định rằng tài sản lưu động động là không thể thay thế được trong bất cứ loại hình doanh nghiệp nào thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào. Do đó quản lý tài sản lưu động là việc không thể thiếu trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động cũng như góp phần đẩy mạnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

3/ Cơ cấu của tài sản lưu động

Tài sản lưu động của doanh nghiệp được chia thành các loại sau:

a/ Tiền

Tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới dạng giá trị bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, và các khoản tiền đang chuyển.

  • Việc duy trì một lượng tiền mặt hợp lý có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì:

– Tiền đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày, thường là thanh toán cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng.

– Bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp.

– Đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp xuất hiện những biến động không lường trước được của luồng tiền vào và ra

– Hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng

  • Việc doanh nghiệp lưu giữ nhiều tiền có lợi thế sau:

– Chủ động trong kinh doanh do có thể chủ động trong thanh toán chi trả

– Khi mua hàng công ty có thể được hưởng chiết khấu do thanh toán ngay

– Duy trì tốt các chỉ số thanh toán giúp doanh nghiệp tạo uy tín tốt với khách hàng và ngân hàng nên dễ dàng mua được hàng hoá với các điều kiện thuận lợi và được hưởng những ưu đãi trong việc đi vay

– Dự trữ được lượng vật tư, hàng hoá lớn nếu giá cả hợp lý

  • Song việc giữ nhiều tiền cũng có những  bất lợi đó là:

– Tiền dễ bị mất giá

– Khả năng sinh lời là không đáng kể

– Do đó việc giữ đủ tiền cho sản xuất kinh doanh là rất quan trọng nó sẽ giúp doanh nghiệp phát huy các lợi thế trên và tối thiểu hoá các bất lợi.

b/ Đầu tư ngắn hạn

Đây là các chứng khoán có giá trị hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, hiện vật có thể thu hồi kịp thời trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong thời gian không quá một năm (như tín phiếu kho bạc, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng…) và các loại đầu tư khác không quá một năm.

Trong đầu tư ngắn hạn, việc đầu tư vào các chứng khoán có tính lỏng cao là hết sức quan trọng. Các chứng khoán này giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt. Vì nếu số dư tiền mặt lớn, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán đó nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng thành tiền một cách dễ dàng ít tốn kém. Trong quản lý tài chính, các chứng khoán có tính lỏng cao được sử dụng để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn.

c/ Phải thu

Các khoản phải thu bao gồm:

– Phải thu từ khách hàng: là khoản tiền mà doanh nghiệp cho người mua nợ dưới dạng hàng hoá, dịch vụ. Nhờ có khoản phải thu khách hàng mà doanh nghiệp có điều kiện tăng cao được số lượng hàng hoá tiêu thụ, từ đó nâng cao doanh thu có điều kiện mở rộng thị trường, tăng cường được quan hệ với người mua.

– Phải thu nội bộ (giữa các đơn vị chính và đơn vị phụ thuộc)

– Thế chấp (tài sản mang đi khi cầm cố khi đi vay vốn), ký cược (tiền đặt cược khi đi thuê tài sản), ký quỹ (tiền hoặc tài sản gửi để làm tin).

d/ Hàng hoá tồn kho (dự trữ)

Khoản mục này bao gồm vật tư, hàng hoá, thành phẩm, giá trị sản phẩm dở dang.

Việc dự trữ mặc dù có chi phí nhưng nó cũng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, chẳng hạn như doanh nghiệp dự trữ một lượng lớn thành phẩm thì sẽ không bị mất cơ hội khi thị trường trở nên khan hiếm loại hàng hoá này.

Nếu doanh nghiệp dự trữ một lượng nhỏ thành phẩm thì chẳng những bị lỡ cơ hội khi hàng hóa khan hiếm và giá cả lên cao mà còn khó có khả năng thực hiện được hợp đồng giao hàng một cách chính xác. Tương tự như vậy, ta có thể thấy rằng nếu doanh nghiệp dự trữ nguyên vật liệu quá ít thì có thể dẫn tới tình trạng ngừng sản xuất do thiếu nguyên vật liệu.

e/ Tài sản lưu động khác

– Tạm ứng (cho công nhân viên chức) và chi phí trả trước (chi phí đã phát sinh nhưng có tác dụng tới kết quả nhiều kỳ hạch toán, được tính vào chi phí của nhiều kỳ.

– Ngoài ra, tài sản lưu động còn bao gồm các khoản chi phí sự nghiệp dở dang hoặc đã kết thúc nhưng đang chờ quyết toán. Chi phí sự nghiệp là những khoản chi phí của doanh nghiệp cho những công việc, những hoạt động được trang trải bằng nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp, cấp trên cấp phát.

Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có tính lỏng cao, phải thu và hàng tồn kho. Quản lý các tài sản lưu động có ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.