Chính sách công là gì? Nội dung quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam


Trong bài viết sau đây, Tri Thức Cộng Đồng xin chia sẻ đến đông đảo bạn đọc khái niệm chính sách công và nội dung quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam

Chính sách công là gì? Nội dung quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam
Chính sách công là gì? Nội dung quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam

1. Chính sách công là gì?

Thomas Dye đưa quan niệm đơn giản về chính sách công: “chính sách công là bất kỳ những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. William  Jenkins quan niệm chính sách công cụ thể hơn: “chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính   trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”. James Anderson quan niệm về chính sách công chung hơn: “chính sách công là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm” [84, tr 5, 6].

Lê Chi Mai [53, tr 38] định nghĩa về chính sách công như sau:  “chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định”. Nguyễn Hữu Hải định nghĩa: “chính sách công là  những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [46, tr 14]. Lê Vinh Danh thì cho rằng: “chính sách công là những gì mà chính quyền thi hành đến dân” [45, tr 123]. Giáo trình Khoa học chính sách công của Học viện Báo chí và tuyên truyền định nghĩa: “chính sách công là quyết  định của các chủ thể quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích, cách thức và chế định những hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết những vấn đề nhất định mà xã hội đặt ra. Đó là tổng thể các chuẩn mực, biện pháp mà Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội” [50, tr 16].

Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công, mỗi quan niệm cung cấp những hiểu biết nhất định về chính sách công. Các quan niệm này cho thấy chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước, chính sách công được thể hiện trong nhiều quyết định có liên quan với nhau, chính sách công tập trung giải quyết một vấn  đề công, và hướng tới đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

2. Nội dung quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam

Theo các quy định của pháp luật hiện hành, để thực thi các chính sách do Quốc hội ban hành, thì có thể Chính phủ phải ban hành Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định, bộ và các cơ quan ngang bộ ban hành thông tư, thông tư  liên tịch, Hội đồng nhân các cấp ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành quyết định quy định các biện pháp, thủ tục cụ thể để thực hiện chính sách. Tương tự, để thực thi chính sách của Chính phủ, thì có thể các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành thông tư, thông tư liên tịch, Hội đồng nhân dân các cấp ban hành nghị  quyết, Ủy ban nhân dân ban hành quyết định quy định các biện pháp, thủ tục cụ thể để thực hiện chính sách…

2.1. Xây dựng và ban hành văn bản thực thi chính sách công

Hoạt động xây dựng, ban hành văn bản của các cơ quan nhà nước phải tuân  thủ các quy định về soạn thảo văn bản, thẩm định văn bản, thông qua văn bản. Hệ thống thể chế này được quy định trong các luật như: Luật Ban hành VBQPPL 2008, Luật Ban hành VBQPPL của HĐND & UBND 2004, và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này.

Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản: Việc xây dựng, ban hành VBQPPL phải tuân thủ các nguyên tắc sau: (1) bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật; (2) tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản; (3) bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí  mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản; (4) bảo đảm tính khả thi của văn bản; (5) không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Quy trình xây dựng và ban hành văn bản: Quy trình để xây dựng và ban hành VBQPPL thực thi chính sách của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp   gồm các bước sau: (1) lập chương trình xây dựng văn bản (đối với Nghị định của Chính phủ); (2) soạn thảo dự thảo văn bản; (3) thẩm định (hoặc cả thẩm tra) dự thảo văn bản; (4) chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo văn bản; (5) thông qua văn bản. Cụ thể:

+ Đề nghị xây dựng văn bản (áp dụng đối với Nghị định quy định các biện pháp để thực hiện các chính sách): Đề nghị xây dựng văn bản phải bảo đảm các yêu cầu sau: (1) căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn; (2) đáp ứng yêu cầu quản lý, giải quyết các vấn đề của xã hội và các vấn đề đó cần thiết phải điều chỉnh bằng văn bản; (3) bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; (4) phải đánh giá tác động sơ bộ nội dung chính sách của văn bản; (5) phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; (6) phù hợp với nội dung cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc  có kế hoạch trở thành thành viên; (7) xác định rõ các điều kiện bảo đảm thi hành văn bản; (8) việc ban hành văn bản phải bảo đảm tính khả thi.

+ Soạn thảo văn bản: Khi soạn thảo văn bản, Ban Soạn thảo văn bản  phải thực hiện những nhiệm vụ sau: (1) tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các VBQPPL hiện hành có liên quan đến dự thảo; (2) khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo; (3) tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu và các điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo; (4) tổ chức lấy ý kiến,  nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; (5) xây dựng tờ trình, báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo, báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản; và đăng tải các tài liệu này trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Đối với Nghị định của Chính phủ và các văn bản có quy định thủ tục hành chính, trên cơ sở kết quả đánh giá tác động sơ bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản đánh giá tác động trước khi soạn thảo văn bản và hoàn thiện báo cáo đánh giá tác  động nhằm bảo đảm nội dung các quy định của dự thảo được dựa trên kết quả đánh giá tác động và là phương án tối ưu, theo cách thức tiết kiệm nhất để đạt được mục tiêu chính sách. Việc đánh giá tác động tập trung vào tác động về kinh tế, xã hội, môi trường, hệ thống pháp luật; tác động đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; khả năng tuân thủ của cơ quan,  tổ chức, cá nhân và các tác động khác. Cơ quan chủ trì soạn thảo phải xây dựng báo cáo tác động đầy đủ trên cơ sở phân tích định tính và định lượng các tác động đối với các nghị định mà kết quả đánh giá tác động sơ bộ cho thấy: (1) văn bản có thể làm phát sinh chi phí từ 15 tỷ đồng hằng năm trở lên cho Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp, cá nhân; (2) văn bản có thể tác động tiêu cực đáng kể đến các nhóm đối tượng trong xã hội; (3) văn bản có thể tác động   tới số lượng lớn doanh nghiệp; (4) văn bản có thể làm tăng đáng kể giá tiêu dùng; (5) văn bản còn nhiều ý kiến khác nhau, được công chúng quan tâm và có ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích chung.

Đối với các thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, tờ trình phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh  của văn bản; giải trình nội dung cơ bản của văn bản, trong đó cần nêu rõ mục tiêu và các vấn đề chính sách cần giải quyết, các phương án giải quyết vấn đề, các tác động tích cực và tiêu cực của các phương án trên cơ sở phân tích định tính hoặc định lượng các chi phí và lợi ích, nêu rõ phương án lựa chọn tối ưu để giải quyết vấn đề.

+ Thẩm định dự thảo: Dự thảo văn bản trước khi trình cơ quan, cá nhân có thẩm quyền quyết định phải chuyển cho cơ quan thẩm định để thẩm định. Cơ quan Thẩm định tiến hành thẩm định trên những phương diện sau: (1) sự cần thiết  ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo văn bản; (2) sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; (3) tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan; (4) tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện; (5) ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

– Kiểm tra văn bản:

+ Tự kiểm tra. Theo Điều 11, Nghị định 40//2010/NĐ-CP, thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, HĐND và UBND các cấp phải tự kiểm tra văn bản do  mình ban hành hoặc liên tịch ban hành ngay sau khi văn bản được ban hành, khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng. Trách nhiệm cụ thể như sau: (1)  người đứng đầu tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ là đầu mối giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện việc tự kiểm tra thông tư, thông tư liên tịch do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành;  (2) Cục Kiểm tra văn bản là đầu mối giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện việc tự kiểm tra thông tư, thông tư liên tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành;

(3) người đứng đầu tổ chức pháp chế cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp với tổ chức pháp chế thuộc Bộ mà Bộ trưởng đó ban hành thuộc lĩnh vực hoạt động của cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện việc tự kiểm tra văn bản; (4) Trưởng Ban Pháp chế của HĐND, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp, công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã là đầu mối giúp HĐND, UBND cùng cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản.

+ Kiểm tra văn bản theo thẩm quyền: Điều 13 và 14, Nghị định 40/2010/NĐ- CP quy định: (1) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ kiểm tra các VBQPPL có quy định liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ khác, HĐND và UBND cấp tỉnh ban hành; (2) Bộ trưởng Bộ Tư pháp giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra: Thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ đó  hoặc liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Nghị quyết do HĐND, quyết định, chỉ thị do UBND cấp tỉnh ban hành liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước; (3) Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra: Thông tư do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành về ngành, lĩnh vực quản  lý nhà nước của Bộ Tư pháp; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; các văn bản khác khi được Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ giao; (4) Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức kiểm tra văn bản do HĐND, UBND cấp huyện ban hành; (5) Chủ tịch UBND cấp huyện tổ chức kiểm tra văn bản do HĐND, UBND cấp xã ban hành.

– Xử lý văn bản trái pháp luật: Các văn bản sẽ bị xử lý khi: ban hành không đúng căn cứ pháp lý; ban hành không đúng thẩm quyền; nội dung của văn bản không phù hợp với quy định của pháp luật; ban hành không đúng trình tự, thủ tục, thể thức  và kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật. Hình thức xử lý đối với văn bản vi phạm bao gồm: Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản; hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản.

2.2. Lập ngân sách cho việc xây dựng và thi hành văn bản

Kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản do ngân sách nhà nước  cấp, được tổng hợp chung vào dự toán ngân sách chi thường xuyên của cơ quan, đơn vị. Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải được thực hiện theo quy   định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và Thông tư liên tịch 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP, và Thông tư liên tịch 47/2012/TTLT-BTC-BTP. Việc bố trí kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản tại cơ quan, đơn vị được thực hiện theo chương trình, kế hoạch chính thức và chương trình, kế hoạch bổ sung trong năm, bảo đảm phù hợp với tiến  độ triển khai nhiệm vụ và trong phạm vi dự toán ngân sách đã được giao.

Kinh phí phục vụ cho hoạt động tự kiểm tra văn bản được sử dụng từ nguồn kinh phí chi hoạt động thường xuyên của cơ quan thực hiện việc tự kiểm tra văn bản. Kinh phí bảo đảm công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống  hóa văn bản của cơ quan, tổ chức thuộc cấp nào do ngân sách nhà nước cấp đó bảo đảm và được tổng hợp vào dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan, đơn vị. Việc sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản phải đúng mục đích, đúng nội dung, đúng chế độ, định mức chi theo quy định hiện hành về các chế độ chi tiêu tài chính và các quy định cụ thể tại Thông tư liên tịch 122/2012/TTLT-BTP-BTC.

Kinh phí bảo đảm cho việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính  tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ do ngân sách Trung ương bảo đảm. Kinh phí bảo đảm cho việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do ngân sách địa phương bảo đảm. Ngoài kinh phí do  ngân sách nhà nước bảo đảm, Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh được huy động và sử dụng các nguồn lực hợp pháp khác để tăng cường thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý. Việc lập, chấp hành dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện theo quy định hiện hành và Thông tư 167/2012/TT-BTC.

Kinh phí bảo đảm cho thi hành văn bản của cơ quan, tổ chức cấp nào do  ngân sách nhà nước cấp đó bảo đảm và được xác định trong kinh phí hoạt động thường xuyên của các Bộ, ngành, địa phương. Sau khi chính sách được ban hành,  các Bộ, ngành, địa phương lập dự toán kinh phí, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Kinh phí cho công tác theo dõi tình hình thi hành văn bản của cơ quan, đơn  vị thuộc cấp nào do ngân sách nhà nước cấp đó bảo đảm và được tổng hợp vào dự  toán ngân sách hằng năm của cơ quan, đơn vị. Việc lập dự toán, phân bổ kinh phí được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản  quy định chi tiết, Thông tư liên tịch 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP.

2.3. Thi hành văn bản

Trách nhiệm thi hành văn bản thực thi chính sách thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ trung ương đến cơ sở. Tuy nhiên, tùy thuộc vào sự phân công, phân cấp mà các cơ quan hành chính tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình thi hành văn bản do cấp trên ban hành.

Việc tổ chức triển khai thi hành văn bản thực thi chính sách công của các cơ quan nhà nước các cấp gồm các hoạt động sau:

Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản;

Phổ biến, giáo dục nội dung văn bản;

Tập huấn văn bản;

Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực để triển khai thi hành văn bản;

Kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thi hành văn bản;

Sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản;

Báo cáo việc tổ chức triển khai thi hành văn bản và kiến nghị, xử lý vướng mắc trong việc tổ chức thi hành văn bản.

2.4. Theo dõi thi hành văn bản

Theo Nghị định 59/2012/NĐ-CP, hoạt động theo dõi tình hình thi hành văn  bản bao gồm những nội dung sau:

Thu thập thông tin về tình hình thi hành văn bản, gồm: số lượng, hình  thức và tên văn bản quy định chi tiết; số lượng, hình thức và tên văn bản ban hành chậm tiến độ và lý do chậm tiến độ; số lượng văn bản không thống nhất, không đồng bộ và tính khả thi không cao; nội dung, hình thức tập huấn, phổ biến văn bản đã được thực hiện; thực trạng về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các điều kiện về kinh phí và cơ  sở vật chất bảo đảm cho thi hành; tình hình hướng dẫn áp dụng văn bản, tình hình áp dụng văn bản của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; tình hình xử lý vi phạm pháp luật.

Kiểm tra tình hình thi hành văn bản. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp kiểm tra tình hình thi hành văn bản trong phạm vi trách nhiệm được giao nhằm kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thi hành văn bản và khiếm khuyết, bất cập của hệ thống pháp luật.

Điều tra, khảo sát tình hình thi hành văn bản. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ  quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp điều tra, khảo sát theo yêu cầu của tình hình  thi hành văn bản về từng lĩnh vực, địa bàn và đối tượng cụ thể thông qua phiếu khảo sát, tọa đàm, phỏng vấn trực tiếp và các hình thức phù hợp khác.

Xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành văn bản.  Việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành văn bản theo các nội dung: (1) ban hành kịp thời, đầy đủ các  văn bản quy định chi tiết; (2) thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tập huấn, phổ biến văn bản; bảo đảm về tổ chức, biên chế, kinh phí và các điều kiện khác cho thi hành; (3) kịp thời tổ chức thi hành văn bản đã có hiệu lực; (4) thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp  dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật; (5) sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản; (6) thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

2.5. Đánh giá việc thi hành văn bản

Theo Nghị định 24/2009/NĐ-CP, Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm định kỳ hằng năm đánh giá việc thi hành văn bản do mình chủ trì soạn thảo hoặc ban hành để kịp thời đôn đốc, tổ chức thực hiện, hướng dẫn việc thi hành văn bản hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định không còn phù hợp. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có  trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá việc thi hành các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách đến Bộ Tư pháp vào tháng 10 hằng năm để tổng hợp, trình Chính phủ.

Theo Nghị định 59/2012/NĐ-CP, nội dung đánh giá việc thi hành văn bản tập trung vào các vấn đề sau đây:

Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết, gồm: tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết; tính thống nhất, đồng bộ của văn bản; tính khả thi của văn bản.

Tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành văn bản, gồm: tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến văn bản; tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành văn bản; mức  độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành văn bản.

Tình hình tuân thủ văn bản, gồm: tính kịp thời,  đầy đủ trong thi hành văn bản của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền. Tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng văn bản và trong áp dụng văn bản  của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; mức độ tuân thủ văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Theo Nghị định 24/2009/NĐ-CP, sau 3 năm kể từ ngày văn bản có hiệu lực, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản đó (áp dụng đối với Nghị định của Chính phủ) có trách nhiệm đánh giá tác động của văn bản trong thực tiễn, đối chiếu  với kết quả đánh giá tác động trong giai đoạn soạn thảo để xác định tính hợp lý, tính khả thi của các quy định. Căn cứ vào kết quả đánh giá tác động, cơ quan chủ trì soạn thảo kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các giải pháp nâng cao hiệu quả của văn bản hoặc hoàn thiện văn bản. Nội dung báo cáo đánh giá tác động này gồm: phân tích các chi phí, lợi ích thực tế và các tác động khác; mức độ tuân thủ văn bản của các nhóm đối tượng thi hành văn bản và kiến nghị các giải pháp thi hành văn bản hoặc sửa đổi, bãi bỏ văn bản trong trường hợp cần thiết.

2.6. Xem xét lại văn bản

Theo Điều 5, Nghị định 16/2013/NĐ-CP, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp có trách nhiệm thực hiện rà soát văn bản như sau:

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực  hiện rà soát văn bản do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; văn bản do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình có nội dung điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Thủ trưởng các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang  Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện rà soát văn bản điều chỉnh những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của đơn vị mình.

Ủy ban nhân dân thực hiện rà soát văn bản do mình và HĐND cùng cấp ban hành; phối hợp với Thường trực HĐND kiến nghị HĐND xử lý kết quả rà soát văn bản của HĐND. Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp thực hiện rà soát văn bản  do HĐND, UBND cấp mình ban hành. Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì, phối hợp với Trưởng ban Pháp chế HĐND và các cơ quan liên quan thực hiện rà soát văn bản của UBND, HĐND cùng cấp có nội dung điều chỉnh những vấn đề, thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan mình. Chủ tịch UBND  cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát văn bản do HĐND, UBND cấp mình ban hành.

Các hình thức xử lý văn bản được rà soát:

+ Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản được áp  dụng trong trường hợp văn bản được rà soát nếu chưa được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế kịp thời và tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng,  ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

+ Bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần văn bản: Bãi bỏ toàn bộ văn bản được áp   dụng trong trường hợp đối tượng điều chỉnh của văn bản không còn hoặc toàn  bộ quy định của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ pháp lý để rà soát hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội mà không cần thiết ban hành văn bản để thay thế. Bãi bỏ một phần văn bản được áp dụng trong trường hợp một phần đối tượng điều chỉnh của văn  bản không còn hoặc một phần nội dung của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ pháp lý để rà soát hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội mà không cần thiết ban hành văn bản để thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung.

Văn bản bãi bỏ văn bản ở Trung ương và cấp  tỉnh phải được đăng công báo và đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan rà soát. Văn bản bãi bỏ văn bản ở cấp huyện và cấp xã phải được niêm yết tại trụ sở cơ quan rà soát và đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan rà soát (nếu có).

+ Thay thế văn bản được áp dụng trong trường hợp toàn bộ hoặc phần lớn nội dung của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ  pháp lý để rà soát hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội.

+ Sửa đổi, bổ sung văn bản được áp dụng trong trường  hợp một phần nội dung của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ  pháp lý để rà soát hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội.

+ Ban hành văn bản mới được áp dụng trong trường hợp qua rà soát phát hiện có quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bởi văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc có quan hệ xã hội cần điều chỉnh nhưng chưa có quy định pháp luật điều chỉnh.

2.7. Sự tham gia của các bên liên quan trong xây dựng và thi hành văn bản

Theo Luật Ban hành VBQPPL 2008, và Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND 2004, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức  thành viên, tổ chức khác, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến về dự thảo VBQPPL. Trong quá trình xây dựng văn bản, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Ý kiến  tham gia về dự thảo văn bản phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo.

Theo Điều 6, Nghị định 59/2012/NĐ-CP, các tổ chức, cá nhân có quyền tham gia hoạt động theo dõi tình hình thi hành văn bản. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành văn   bản. Căn cứ điều kiện cụ thể và yêu cầu của công tác theo dõi tình hình thi hành văn bản, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp huy động Hội luật gia Việt Nam, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hội xã hội, nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, chuyên gia, nhà khoa học có đủ điều kiện tham gia hoạt động theo dõi tình hình thi hành văn bản theo cơ chế cộng tác viên.

2.8. Trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý chương trình, dự án 

Luật Xây dựng 2003 quy định người quyết định đầu tư xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung trong quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình, quyết định đình chỉ thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình và các quyết định khác thuộc thẩm quyền của mình. Theo Chỉ thị 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15-10-2011 về tăng cường quản lý  đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, thì các dự án được quyết định đầu tư mà không xác định rõ nguồn vốn, mức vốn thuộc ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, làm cho dự án thi công phải kéo dài, gây lãng phí thì người ký quyết định phải chịu trách nhiệm về các tổn thất do việc kéo dài này gây ra [31, tr 2-3].

Theo Quy chế 135, Cơ quan quản lý CTMTQG chịu trách nhiệm về việc sử dụng kinh phí phần trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của CTMTQG đúng mục đích,  có hiệu quả, không để thất thoát. Cơ quan quản lý dự án của CTMTQG chịu trách nhiệm về việc sử dụng kinh phí phần trực tiếp thực hiện nhiệm vụ của dự án đúng  mục đích, có hiệu quả, không để thất thoát. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan Trung ương tham gia thực hiện CTMTQG chịu trách nhiệm triển khai kế hoạch theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ,  tiến độ các hoạt động, dự án được giao, chịu trách nhiệm sử dụng kinh phí của CTMTQG đúng mục đích, có hiệu quả. Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm sử dụng kinh phí của các CTMTQG theo mục tiêu, nhiệm vụ được giao trên địa bàn có hiệu quả, không để thất thoát; bảo đảm việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của CTMTQG phù hợp với các tiêu chuẩn,  định mức phân bổ vốn theo quy định.

Theo Nghị định 12/2009/NĐ-CP, Ban quản lý dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư xây dựng công trình theo nhiệm vụ, quyền hạn mà Ban quản lý dự án được giao.

Nguồn: Tri Thức Cộng Đồng

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo