Những vấn đề lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

5 (100%) 2 votes

Những vấn đề lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Những vấn đề lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)

Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF( International Monetary Fund) định nghĩa về FDI (foreign direct investment) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia , trong đó người đầu tư trực tiếp ( direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ( direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)

FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Theo Tổ chức thương mại Thế giới (WTO):

Theo tổ chức thương mại thế giới WTO thi FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước ( nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác ( nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp. cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Khi đó, nhà đầu tư thường được gọi là công ty mẹ, các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty.

Theo Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD):

FDI là một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ảnh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế trong doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài.

Theo Luật Đầu tư Việt Nam (2005)

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Mục 2 – Điều 3). Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào Việt Nam bằng tiền mặt hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này .

Từ các khái niệm trên, đưa ra kết luận: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là quá trình di chuyển vốn mang tính chất dài hạn từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong đó nhà đầu tư nước ngoài tiến hành đầu tư một tỷ lệ vốn nhất định và trực tiếp tham gia quản lý sản xuất kinh doanh, nhằm thu được lợi ích lâu dài về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội.”

Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI rất phong phú và đa dạng.

Có nhiều khái niệm khác nhau về FDI nhưng chung quy lại chúng ta có thể hiểu: FDI là hình thức mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm dành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ , thương mại.

Xem thêm >>> Những vấn đề chung về ngân hàng thương mại và sản phẩm dịch vụ NHTM

2. Đặc điểm FDI

FDI là hình thức đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tư.

Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị , không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.

Chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp 1 tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định để giành quyền điều hành hay tham gia điều hành doanh nghiệp nhận đầu tư ( theo luật đầu tư nước ngoài của việt nam là tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án).

Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia, cũng như lợi nhuận và rủi ro đc phân chia theo tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định.

Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải là lợi tức.

Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước sở tại có thể tiếp nhận được các tiến bộ công nghệ tiên tiến , học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.

Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đâu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.

Xem thêm >>> Tổng quan lý thuyết về tài chính ngân hàng đa năng

3. Phân loại FDI

3.1. Phân theo bản chất đầu tư

Đầu tư phương tiện hoạt động: đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư.

Mua lại và sáp nhập: mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hặc một doanh nghiệp này ( có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI ở nước nhận đầu tư.

3.2. Phân theo tính chất dòng vốn

Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.

Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.

Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.

3.3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư

Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở các nước sở tại. khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kĩ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khác thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước sở tại như các điểm du lịch nổi tiếng… nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước sở tại. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.

Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước sở tại như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lac. Giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh, thuế suất ưu đãi….

Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước sở tại với các nước và khu vực khác, lấy nước sở tại làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.

Xem thêm >>>  Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn

4. Tác động của FDI đến sự phát triển kinh tế xã hội của nước sở tại

4.1. Tác động tích cực

4.1.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Mục tiêu cơ bản trong thu hút FDI của nước sở tại là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu này được thực hiện thông qua các tác động tích cực của FDI đến các yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.

FDI mở rộng các nguồn thu thuế ở nước chủ nhà và đóng góp cho nguồn thu chính phủ. Thậm chí nếu các nhà đầu tư nước ngoài được miễn thuế thông qua chính sách ưu đãi đầu tư thì chính phủ vẫn có được nguồn thu gia tăng từ việc trả thuế thu nhập cá nhân bởi vì FDI tạo ra các việc làm mới, tạo các khoản thu ngoại tệ.

Bên cạnh đó, FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của nước nhận đầu tư. Đặc biệt đối với những nước đang phát triển

4.1.2. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đầu tư nước ngoài là một trong những bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua việc các quốc gia sẽ tham gia nhiều hơn vào quá trình phân công lao động quốc tế.

Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong nước phù hợp với điều kiện chung của thế giới sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Bởi vì:

Một là, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề kinh tế mới ở các nước nhận đầu tư.

Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho sự phát triển nhanh chóng về trình độ kỹ thuật của nhiều ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế.

Ba là, một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cũng nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ.

4.1.3. Chuyển giao công nghệ

Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó,chủ đầu tư không chỉ đầu tư vào nước sở tại là vốn bẳng tiền mà còn đầu tư cả vốn về hiện vật, đó là máy móc, thiết bị hiện đại, nguyên nhiên liệu… hay cũng có thể là các tri thức khoa học quản lý, năng lực tiếp cận thị trường… Do đó, đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất của nước nhận đầu tư.

FDI có thể thúc đẩy phát triển các ngành nghề mới, đòi hỏi phải áp dụng các kỹ thuật công nghệ cao.

FDI đem lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh, và trình độ kỹ thuật cho nước nhận đầu tư, thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm.

FDI còn mang lại cho nước sở tại những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp nhận trong khi tiếp nhận các công nghệ của các nước đầu tư.

FDI còn thúc đẩy cho nước sở tại cố gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn cao để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

Thực tiễn cho thấy, hầu hết các nước thu hút FDI đã cải thiện đáng kể trình độ công nghệ kỹ thuật công nghệ của mình. Ví dụ: như đầu những năm 60, Hàn Quốc còn kém về lắp ráp xe hơi, nhưng nhờ Hàn Quốc tiếp nhận công nghệ hiện đại của Mỹ, Nhật Bản và các nước khác trên thế giới mà đến năm 1993, Hàn Quốc trở thành những nước sản xuất ô tô lớn thứ 7 thế giới.

4.1.4. Về mặt xã hội

FDI tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút một khối lượng đáng kể người lao động ở nước sở tại vào làm việc tại các đơn vị của đầu tư nước ngoài. Điều đó, góp phần đáng kể vào việc giảm bớt nạn thất nghiệp, là một trong những vấn đề nan giải của các quốc gia. Đặc biệt là đối với những nước đang phát triển, nơi có lượng lao động dồi dào nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được. Thì đầu tư nước ngoài được xem là chìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề trên.

Vì đầu tư nước ngoài tạo ra nhiều điều kiện về vốn và kỹ thuật, cho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng về lao động.

một số nước đang phát triển, số người làm việc trong các xí nghiệp chi nhánh nước ngoài so với tổng người có việc làm đạt tỷ lệ tương đối cao như: Singapore 54,6%, Brazin 23%…. Mức trung bình ở nhiều nước khác là 10%. Ở Việt Nam có khoảng 100nghìn người đang làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

4.2. Tác động tiêu cực

– Rất khó tính toán được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó. Do đó, nước nhận đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong phân chia lợi nhuận.

– Gây tổn hại môi trường sinh thái: Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chế phải bảo vệ môi trường theo quy định chặt chẽ ở các nước công nghiệp phát triển nên thông

qua hoạt động FDI họ muốn xuất khẩu môi trường sang các nước mà biện pháp cưỡng chế về bảo vệ môi trường không hiệu quả.

Chi phí sản xuất cao dẫn đến giá thành sản phẩm ở các nước nhận đầu tư cao. Do đó, khó có thể cạnh tranh được với thị trường thế giới.

Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất. Vì vậy, khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn với thành thị. Sự mất cân đối này có thể gây ra mất ổn

định về chính trị. Ngoài ra, FDI cũng có thể ảnh hưởng xấu về mặt xã hội, những người dân bản xứ đi làm thuê cho các nhà đầu tư có thể bị mua chuộc, biến chất, thay đổi quan điểm, lối sống, và có thể nguy cơ hơn là họ phản bội lại Tổ Quốc, các tệ nạn xã hội cũng có thể xảy ra như: mại dâm, ma túy, … và các tệ nạn xã hội khác.

>>>>> Khái niệm và cách phân loại tín dụng ngân hàng

5. Khái quát về thu hút FDI

5.1. Quan niệm về thu hút vốn đầu tư

Thu hút là việc tạo nên ấn tượng mạnh mẽ để các tổ chức, cá nhân quan tâm và dồn sự chú ý vào đối tượng cần thu hút.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng hợp nhiều hoạt động marketing nhằm đẩy mạnh thu hút FDI ; tổ chức các hội thảo và phái đoàn vận động đầu tư, tham gia vào các triển lãm, diễn đàn về thương mại đầu tư , phân phát các tài liệu tuyên truyền kêu gọi đầu tư, tổ chức các buổi tiếp xúc giữa các nhà đầu tư tiềm năng với các đối tác địa phương, trợ giúp nhà đầu tư khảo sát hình thành dự án, phê duyệt và cấp phép đầu tư, các hỗ trợ sau khi dự án đi vào hoạt động.

Có thể khái quát, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng thể các biện pháp, hoạt động tích hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến với các cơ hội đầu tư tại một quốc gia hay địa điểm nào đó.

5.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào khu kinh tế

5.2.1. Môi trường chính trị xã hội

Sự ổn định chính trị xã hội đóng vai trò quyết định đối với việc thu hút vốn đầu tư. Ổn định chính trị luôn là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư nước

ngoài. Vì có ổn định chính trị thì các cam kết của chính phủ nước chủ nhà với các nhà đầu tư về sở hữu vốn, các chính sách ưu tiên định hướng phát triển mới được thực hiện. Đây là những vấn đề có thể nói được nhà đầu tư quan tâm nhất vì nó tác động mạnh mẽ đến cấc yếu tố rủi ro trong đầu tư. Tất nhiên trong hoạt động đầu tư, nhất là hoạt động đầu tư nước ngoài là phải chấp nhận mạo hiểm, nhiều khi mạo hiểm và độ rủi ro cao lại đi liền với một tỷ suất lợi nhuận cao.

Ảnh hưởng của môi trường chính trị- xã hội thể hiện rõ ở các nước có nền chính trị ổn định đã thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng như: Singapore, Malaisia. Trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20 nhiều hơn hẳn vào Thái Lan và Philippin, tình hình đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc, Việt Nam trong những năm gần đây cũng tăng lên với tốc độ cao. Điều đó tiếp tục khẳng định giữ ổn định chính trị ngày càng trở nên quan trọng hàng đầu trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài và ngay khi đã đầu tư vào một nước nào đó mà tình hình chính trị mất ổn định thì khả năng các nhà đầu tư sẽ phải tính đến là nên có tiếp tục đầu tư hay chuyển đến một nơi khác an toàn hơn. Kinh nghiệm cho thấy nhiều quốc gia có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, về thị trường rộng lớn nhưng lại gặp khó khăn về thu hút vốn đầu tư nước ngoài do có xung đột về chính trị. Do vậy sự ổn định về chính trị là yếu tố đầu tiên để nhà đầu tư xem xét có nên đầu tư hay là không.

5.2.2. Cơ chế chính sách và thủ tục hành chính

Cơ chế chính sách là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của môi trường đầu tư.

Cơ chế chính sách tiến bộ hấp dẫn, có lợi ích cao, phù hợp với thông lệ quốc tế là một tiêu chí quan trọng để nhà đầu tư lựa chọn quyết định đầu tư. Cơ chế chính sách chính là hệ thống pháp luật được nhà nước ban hành nhằm khuyến khích đầu tư bao gồm các ưu đãi đầu tư và các biện pháp đảm bảo cho các ưu đãi được thực hiện trên thực tế.

Cùng với hệ thống chính sách về đầu tư, đi liền với nó là một môi trường pháp lý đồng bộ, thể hiện ở các định chế pháp lý hoàn thiện như: hiến pháp, tòa án kinh tế, trọng tài kinh tế, hệ thống kiểm toán quốc gia….

Cùng với phương thức vận hành của chúng, môi trường pháp lý hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế, một mặt tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm trong hoạt động đầu tư, mặt khác đó cũng chính là căn cứ và là công cụ hữu hiệu đề nhà nước kiểm soát hoạt động đầu tư nước ngoài.

Chính từ các vấn đề có tính nguyên tắc nêu trên, yêu cầu đòi hỏi phải phát triển hệ thống thồng tin, dịch vụ tư vấn pháp lý nhanh chóng và chuẩn xác, trung thực giúp cho hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư nước ngoài vừa đúng hướng vừa chặt chẽ, đông thời tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Cùng với cơ chế chính sách ưu đãi , thông thoáng cần phải có thủ tục hành chính đơn giản, dễ thực hiện,ít khâu trung gian và thời gian thực hiện ngắn. Để có được một thủ tục như vậy, ngoài việc có một hệ thống văn bản pháp luật khoa học, quy định rõ ràng, rành mạch trách nhiệm của các chủ thể, cần xây dựng một quy trình làm việc khoa học với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức có trình độ chuyên môn cao, một tinh thần trách nhiệm tận tụy và có chế độ khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh. Thủ tục hành chính gọn nhẹ cho phép giải quyết công việc một cách nhanh chóng, vừa tiết kiệm thời gian, vừa tránh lãng phí và tạo được niềm tin cho nhà đầu tư, điều đó cũng nói lên trình độ tổ chức và quản lý quốc gia hoặc địa bàn của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương

Có thể nói, cơ chế chính sách và thủ tục nói riêng, môi trường pháp lý nói chung là điều kiện có tính chất cốt lõi để thu hút các nhà đầu tư.

Kinh nghiệm thành công của các quốc gia trên thế giới trong quá trình cải cách hội nhập cho thấy: quốc gia nào có chính sách cởi mở, thông thoáng, thủ tục hành chính thuận tiện thì thu hút vốn đầu tư lớn.

5.2.3. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội

Từ hoạt đông FDI, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đi đến nhận xét: “ ưu đãi thuế cũng tốt nhưng không tốt bằng cải thiện kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và đơn giản hóa thủ tục đầu tư”. Bởi lẽ, hoạt động kinh tế, hoạt động đầu tư bao giờ cũng tồn tại trong một môi trường kinh tế xã hội nhất định. Môi trường xã hội gắn với một cộng đồng người với những phong tục, tập quán, lối sống, có thể bao gồm nhiều dân tộc tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Môi trường kinh tế phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế… trong đó kết cấu hạ tầng kinh tế đóng vai trò quan trọng.

Do vậy, chỉ khi xây dựng được một kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội phù hợp, thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thì mới có thể thu hút vốn đầu tư nói chung và nguồn FDI nói riêng.

Hệ thống hạ tầng tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư, hệ thống hạ tầng đồng bộ,chất lượng tốt trực tiếp làm giảm chi phí đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh, vì vậy sẽ mang lại lợi nhuận cao đáp ứng được mục tiêu của các nhà đầu tư.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, nhiều quốc gia quan tâm tới việc xây dựng không chỉ kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại như hệ thống giao thông, năng lương, cấp thoát nước… mà còn quan tâm đến việc xây dựng nhà cửa, trường học cho gia đình và con em của các nhà đầu tư có nơi sinh hoạt và học tập để các nhà đầu tư yên tâm làm việc lâu dài.

Ở Singapo, còn cho phép các nhà đầu tư và gia đình họ cư trú lâu dài hoặc nhập quốc tịch Singapo khi đầu tư vào đây với một số vốn theo quy định, coi đó như một chính sách đòn bẩy.

Vì vậy, quan tâm đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển kinh tế ở một quốc gia hay trong một khu kinh tế.

5.2.4. Nguồn nhân lực

Lao động là nhân tố quyết định cho việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác. Khi phân tích các bộ phận cấu thành nguồn lực phát triển kinh tế, hầu hết các quốc gia đều khẳng định các nguồn lực chủ yếu là lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học công nghệ. Nhưng cả lý uận khoa học và thực tiễn đều khẳng định rằng: nguồn lao động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực còn lại.

Không chỉ dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lao động về thể chất, trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, lòng nhiệt tình thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên. Thậm chí, thiếu nguồn lực lao động chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và hủy hoại các nguồn lực khác.

Lao động là một bộ phận của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực trong hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, chi phí nguồn lực lao động trở thành nhân tố cấu thành mức tăng trưởng của nền kinh tế.

Nguồn lao động không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển của nền kinh tế của một quốc gia mà còn là điều kiện bắt buộc trong quá trình phát triển các khu kinh tế. Để xây dựng và phát triển khu kinh tế, nguồn lao động tại chỗ đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng là vô cùng quan trọng, là tiêu chí hàng đầu khi nhà đầu tư quyết định đầu tư vào đó. Bởi lẽ, ngoài việc phải đáp ứng nguồn nhân lực một cách thông thường để vận hành hoạt động của các nhà máy, công ty trong khu kinh tế, vấn đề đặt ra hiện nay là phải đảm bảo các yếu tố cạnh tranh và nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp.

Cho nên, địa bàn nào, khu vực nào có nguồn lao động dồi dào,đội ngũ cán bộ, công nhân được đào tạo cơ bản, điều kiện sinh hoạt cho công nhân, cán bộ kỹ thuật càng thuận lợi thì càng thu hút dễ dàng hơn các nhà đầu tư đến với khu vực đó. Đây là tiêu chí cạnh tranh đồng thời cũng là môi trường đầu tư quan trọng cần phải được hoàn thiện.

Vì vậy, đảm bảo một nguồn lao động dồi dào về số lượng, phù hợp về cơ cấu ngành nghề và có chất lượng cao là điều kiện không thể thiếu đối với việc phát triển các khu kinh tế trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và nhân tố con người trở thành quyết định hơn bao giờ hết.

5.2.5. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên có tầm quan trọng to lớn trong việc thành công hay thất bại trong việc xây dựng khu kinh tế. việc xác định đúng vị trí để xây dựng các khu kinh tế có ý nghĩa quyết định 50% của sự thành công, còn lại phụ thuộc vào vai trò của các nhân tố khác.

Dễ dàng nhận thấy vị trí địa lý là môi trường đầu tư tự nhiên mà thiên nhiên tạo ra cho con người, điều kiện ấy thỏa mãn các yêu cầu của sự phát triển. Vị trí đầu tư lý tưởng là vị trí đáp ứng được nhiều nhất các tiêu chí cơ bản về giao thông, thị trường và mặt bằng bố trí sản xuất.

5.2.6. Chiến lược xúc tiến đầu tư

Xúc tiến đầu tư là hoạt động quảng bá hình ảnh một quốc gia, một địa phương hay một khu kinh tế, để mọi đối tác quan tâm đến vấn đề đầu tư có điều kiện tìm hiểu kỹ về cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư, về nhu cầu đầu tư, về điều kiện kết cấu hạ tầng, về nguồn nhân lực, về thị trường tiêu thụ và các vấn đề có liên quan khác. Đó là những nội dung mà các nhà đầu tư nghiên cứu làm cơ sở cho việc quyết định đầu tư.

Có thể nói công tác xúc tiến đầu tư chính là hoạt động đối ngoại trong đầu tư, tức là hoạt động đưa thông tin đầu tư ra bên ngoài và đến với các đối tượng có nhu cầu đầu tư. Hay nói cách khác, công tác xúc tiến đầu tư là chủ động tìm kiếm đối tác đầu tư để đầu tư vào những dự án đã được xác lập, đã theo kế hoạch.

Vì vậy, xúc tiến đầu tư là một trong những chiến lược quan trọng của mọi quốc gia trong quá trình phát triển. Đặc biệt, trong điều kiện toàn cầu hóa ngày càng diễn ra sâu sắc, đầu tư nước ngoài đang trở thành xu hướng tất yếu, là một trong những biện pháp quan trọng để các nước đang phát triển thay đổi cơ cấu đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

Hiện tại Tri thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Tri thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Làm Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo