Một số lý luận trong công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường học

 Nguyễn Thị Thanh    
Một số lý luận trong công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường học
Rate this post

Quản lý thiết bị dạy học là làm cho nó có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, phương pháp học theo định hướng của mục tiêu giáo dục đào tạo đề ra

1. Hệ thống các khái niệm cơ bản

1.2. Khái niệm quản lý

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, từ thời kỳ lạc hậu đến xã hội văn minh ngày nay, con người biết tập hợp nhau lại để tự vệ, chinh phục thiên nhiên, lao động kiếm sống, từ lao động chung của mọi người đã xuất hiện một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội, qua đó hình thành những hoạt động có tổ chức, phối hợp và điều khiển đối với họ. Những hoạt động này tồn tại và phát triển một cách tất yếu khách quan, làm cơ sở đảm bảo cho mọi hoạt động của lao động chung của con người đạt được kết quả mong muốn, từ đó làm nảy sinh hoạt động quản lý. Xã hội loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên trong quản lý cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, liên quan đến mọi người. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Hoạt động quản lý chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp được sự nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Các triết gia, các chính trị gia từ thời cổ đại đến nay đều coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội, quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan, là một sự tất yếu của lịch sử. Các Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8, Tr 480].

Trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [10, Tr 176]

Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [13, Tr 11]

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’’ [18, Tr16].

Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” khi đề cập về vai trò của quản lý trong xã hội cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục  tiêu của tổ chức” [19, Tr19]

Theo tác giả Hanold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học [11, Tr 33].

Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng có thể thấy rõ được nội hàm khái niệm quản lý như sau:

– Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động.

– Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.

– Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức

Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý được quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý.

Hoạt động “quản lý” bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định. Khái niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người.

Như vậy, có thể hiểu: quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra.

1.2. Chức năng của quản lý

Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, hình thành từ quá trình phân công, hợp tác lao động và chuyên môn hoá trong quản lý, thể hiện qua các tính chất tương đối độc lập của những bộ phận của quản lý.

Quản lý có 4 chức năng:

– Kế hoạch hoá.

– Tổ chức.

– Điều khiển (chỉ đạo thực hiện).

– Kiểm tra, đánh giá.

 

Kế hoạch hoá: là quá trình là xác định các mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt đến mục tiêu của tổ chức.

Như vậy, kế hoạch hoá là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý, có vai trò định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý, là cơ sở huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ để kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu của đơn vị, bộ phận, cá nhân; trong kế hoạch chỉ rõ chương trình hành động, xác định từng lộ trình, biện pháp, điều kiện, phương tiện cần thiết cách thức để thực hiện mục tiêu. Nội dung của chức năng kế hoạch thể hiện ở 4 hoạt động:

Xác định mục tiêu và phân tích mục tiêu.

Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu.

Triển khai thực hiện kế hoạch

Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch.

Do đó, người quản lý nếu không có kế hoạch sẽ không thể biết cách tổ chức, huy động nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực…) của đơn vị như thế nào cho có hiệu quả theo mục tiêu của đơn vị được, công việc kiểm tra trở thành không có cơ sở đối chiếu.

Tổ chức: là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra. Đó là quá trình hình thành nên cấu trúc, các quan hệ của các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được các mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý một khi tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.

Nội dung của chức năng tổ chức chủ yếu là:

Xác định từng chủ thể quản lý tương ứng với các đối tượng quản lý

Xây dựng, đào tạo để phát triển nguồn nhân lực.

Thiết lập cơ chế hoạt động và các mối quan hệ .

Tổ chức lao động một cách khoa học.

Chỉ đạo thực hiện (điều khiển): là quá trình tác động gây ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra với chất lượng cao nhất. Muốn thế, các nhà quản lý phải có khả năng truyền đạt và thuyết phục về các mục tiêu bằng các biện pháp khác nhau.

Chức năng chỉ đạo cùng chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hoá các mục tiêu của kế hoạch. Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức thành những nhu cầu của mọi thành viên trong tổ chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác mang hết khả năng để làm việc.

Chức năng chỉ đạo thực hiện các nội dung chủ yếu sau:

– Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ.

– Thường xuyên đôn đốc, khen thưởng động viên.

– Giám sát công việc, uốn nắn kịp thời mọi lệch lạc trong hoạt động.

– Thúc đẩy các hoạt động được giao.

Do vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động thực hiện mục tiêu quản lý.

Kiểm tra, đánh giá: là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt đến mục tiêu của tổ chức; đây là khâu cuối cùng của quá trình quản lý, là chức năng rất quan trọng của công tác quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện nhiệm vụ đạt ở mức độ nào, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động , giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, bộ phận hoặc tổ chức đạt các mục tiêu đề ra.

Như vậy chức năng kiểm tra đánh giá có vai trò cung cấp thông tin và trợ giúp các cá nhân, tập thể đơn vị hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đã xác định. Với vai trò cung cấp thông tin, chức năng kiểm tra đánh giá lại còn tạo tiền đề cho một quá trình quản lý mới tiếp theo.

Chức năng kiểm tra, đánh giá thực hiện các nội dung sau:

Xác định các chuẩn kiểm tra, thu thập thông tin, so sánh kết quả đạt được với các chuẩn, đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết.

Kiểm nghiệm các mức độ thực hiện của các đối tượng quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn.

Điều chỉnh, tư vấn (uốn nắn, sửa chữa), thúc đẩy (phát huy thành tích tốt), xử lý Như vậy, chức năng kiểm tra là một chức năng quan trọng của công tác quản lý nhằm

đánh giá đúng kết quả hoạt động, phát hiện ra những lệch lạc, sai sót nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó tìm hiểu các nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục, sửa chữa, đảm bảo hoàn thành kế hoạch đã đề ra.

 

Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng, trong quá trình quản lý, các chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất của hoạt động quản lý. Việc liên kết giữa các chức năng này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý.

 

Ảnh 1 – Mối quan hệ của các chức năng trong một chu trình quản lý

 

1.3. Khái niệm quản lý nhà trường

Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, ở đó tiến hành quá trình giáo dục đào tạo, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của quản lý giáo dục.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [16, Tr 48].

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [20, Tr 75].

Từ những quan điểm trên đây ta thấy: bản chất của hoạt động quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt nhằm thực hiện chức năng cơ bản là tái tạo, phát triển nhân cách con người của thế hệ sau hơn thế hệ trước theo hướng duy trì, phát triển xã hội. Trên cơ sở quan niệm về quản lý giáo dục, ta nhận thấy:

Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý làm cho Nhà trường thực hiện có chất lượng về mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Quản lý nhà trường thực chất là quá trình quản lý lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập và tự giáo dục của trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.

Quản lý nhà trường còn có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu đã đề ra.

1.4. Khái niệm thiết bị dạy học

Trong công tác dạy học, bên cạnh sách giáo khoa, trường lớp, sân bãi… thầy trò còn phải dùng đến loại phương tiện được gọi học cụ, giáo cụ trực quan, đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục. Ngày nay thuật ngữ thiết bị dạy học được coi là đại diện cho các tên gọi trên. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thiết bị dạy học:

Theo tác giả Trần Kiểu và Vũ Trọng Rỹ: TBDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, còn đối với học sinh thì đó là nguồn tri thức giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học,… hình thành ở học sinh các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ mục đích dạy học và giáo dục. [30, tr 4].

Theo tác giả Thái Văn Thành: TBDH bao gồm: vật liệu, mẫu vật mô hình, tranh ảnh, bản đồ, dụng cụ thí nghiệm, dụng cụ lao động dạy nghề, hoá chất, vật liệu, phim đèn chiếu, băng đĩa ghi âm, ghi hình, phần mềm dạy học, vườn trường,… [25, tr 90].

 

Theo Lotx Klinbơ (Đức) thì TBDH (còn gọi là đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục, dụng cụ,…) là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành sử dụng hợp lý, có hiệu quả trong quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học.

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì TBDH là một vật thể hoặc một tập hợp các vật thể mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, định luật, … hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết.

Theo điều 1 về quy chế thiết bị giáo dục của Bộ Giáo dục (41/2000/ QĐ-BGD-ĐT): thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học ở tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc – họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

Như vậy, có thể hiểu: thiết bị dạy học là hệ thống đối tượng vật chất và tất cả những phương tiện kỹ thuật được giáo viên, học sinh sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu dạy học.

1.5. Khái niệm quản lý thiết bị dạy học

Quản lý TBDH là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà trường, do đó từ khái niệm quản lý và quản lý nhà trường ta có thể hiểu quản lý TBDH là tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến hệ thống TBDH để xây dựng, trang bị, bảo quản và tổ chức sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.

Nói cách khác, quản lý thiết bị dạy học là làm cho nó có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, phương pháp học theo định hướng của mục tiêu giáo dục đào tạo đề ra.

 

2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về thiết bị dạy học

2.1. Vai trò, chức năng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học

2.1.1. Vai trò của thiết bị dạy học

Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố cốt lõi chủ yếu sau:

Mục tiêu dạy học

Nội dung dạy học

Phương pháp dạy học

Chủ thể dạy học (giáo viên)

Đối tượng dạy học (học sinh)

Thiết bị dạy học

Các thành tố này liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau, trong đó ba nhân tố Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp liên kết, tương tác chặt chẽ và các nhân tố này có mối quan hệ với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, với sự tiến bộ khoa học công nghệ, văn hóa của đất nước. Ba nhân tố còn lại (Giáo viên – Học sinh – Thiết bị dạy học) là các nhân tố để hiện thực hóa mục tiêu đào tạo, tái tạo, sáng tạo nội dung, phương pháp đào tạo. Trong đó, thiết bị dạy học là cầu nối để giáo viên tổ chức quá trình dạy học, đưa học sinh tham gia thực sự vào quá trình dạy học, học sinh tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

 

Ảnh 2 – Sơ đồ liên hệ tương tác 6 nhân tố

 

Từ sơ đồ này, ta có thể nêu ra một số vai trò của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học như sau:

TBDH là công cụ lao động của người giáo viên.

TBDH là công cụ nhận thức của học sinh.

TBDH là sự cụ thể hóa nội dung dạy học.

TBDH vật chất hóa phương pháp dạy học.

TBDH tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hóa mục tiêu dạy học, góp phần làm cho quá trình dạy học có chất lượng, hiệu quả.

2.1.2. Chức năng của thiết bị dạy học

TBDH là một bộ phận của nội dung và phương pháp dạy học.

Để quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả cao, từ thời xa xưa con người ta đã tìm ra và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau cho mục đích này và theo đó, TBDH phục vụ cho phương pháp dạy học ra đời. Đứng về mặt nội dung và phương pháp dạy học thì TBDH đóng vai trò hỗ trợ tích cực vì có TBDH ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy học khoa học, đưa người học tham gia thực sự vào quá trình này, tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người thầy. TBDH đầy đủ, đồng bộ, hiện đại và phù hợp nội dung chương trình mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả.

TBDH góp phần đảm bảo chất lượng dạy học

Xuất phát từ đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của con người trong quá trình nhận thức; sự trực quan đóng vai trò quan trọng đối với sự lĩnh hội kiến thức của người học. Khả năng các giác quan trong việc duy trì học tập theo VAT Project nhận xét như sau: Nghe chiếm 11%, nhìn chiếm 81%, các giác quan khác chiếm 8% [12, trang 180]. Như vậy, TBDH thực hiện được nguyên tắc trực quan qua kênh nhìn giúp cho lĩnh hội kiến thức tốt hơn.

Nhiều nội dung học tập phức tạp phải cần đến sự hổ trợ tích cực của phương tiện trực quan mới giải quyết được như chứng minh các định luật, các hiện tượng trừu tượng trong khoa học tự nhiên…

Rèn luyện kỹ năng cho người học: học sinh qua trực tiếp làm thí nghiệm, được lắp ráp thao tác, được quan sát, được nhận xét, do đó học bằng tất cả các giác quan, huy động mọi tiềm năng để nhận thức.

2.2. Phân loại thiết bị dạy học

TBDH trong nhà trường hiện nay hết sức phong phú và đa dạng về chủng loại; do vậy việc phân loại TBDH cũng có nhiều cách khác nhau:

Phân loại theo cách sử dụng:

Thiết bị dùng trực tiếp để dạy học như: bảng, phấn, các thiết bị nghe nhìn video, máy chiếu, thiết bị đa phương tiện, máy vi tính…

Thiết bị dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học gồm: các thiết bị hỗ trợ, thiết bị ghi chép và các thiết bị khác.

Phân loại theo góc độ xuất xứ:

TBDH được làm theo phương pháp công nghệ: thiết bị sản xuất theo yêu cầu của giáo dục, chiếm tỉ lệ rất lớn trong số lượng TBDH của nhà trường như các bộ thí nghiệm đồng bộ, bản đồ, tranh ảnh, mô hình, dụng cụ máy móc, bộ đồ dùng thí nghiệm…, có tính kỹ thuật cao, có giá trị sử dụng lâu dài.

TBDH được làm theo phương pháp thủ công: là loại TBDH do giáo viên tự làm, độ chính xác không cao, không có độ bền.

Phân loại dựa theo mức độ phức tạp trong chế tạo:

Loại chế tạo không phức tạp: loại này thường thầy cô giáo tự nghiên cứu thiết kế, tự làm phục vụ cho bài dạy của môn học, giá thành chế tạo không quá cao; có thể dễ dàng cải tiến, tuổi thọ sử dụng thường ngắn.

Loại chế tạo phức tạp: thường được thiết kế và tạo ra bởi một nhóm người; sản phẩm làm ra cần nhiều thời gian và được dùng phổ biến cho thầy cô giáo có kèm theo các tài liệu hướng dẫn cho thầy và trò; giá thành chế tạo tương đối cao, thường là sản phẩm hoàn hảo, có tuổi thọ sử dụng cao .

Phân loại theo sự tác động lên các giác quan:

Các thiết bị nghe: là các thiết bị dụng để thực hiện các chương trình truyền thanh, người học được lĩnh hội các kiến thức, nội dung cần thiết, chỉ có được nhờ vào việc lắng nghe sự truyền thanh lại từ các thiết bị này.

Các thiết bị nhìn: là các thiết bị mà qua đó người học lĩnh hội được các kiến thức nhờ vào sự quan sát các hình ảnh trên thiết bị, được sử dụng khi giáo viên cần phải giới thiệu các hiện tượng, các quá trình không thể quan sát được trong lớp học hoặc các quá trình diễn ra quá chậm hay quá nhanh

Phân loại theo tính chất:

Nhóm truyền tin cung cấp cho các giác quan của học sinh nguồn tin dưới dạng tiếng hoặc hình ảnh hoặc cả hai cùng một lúc như: máy chiếu đa năng, máy chiếu qua đầu, máy thu hình, máy chiếu phim, máy quay đĩa ….

Nhóm mang tin là nhóm mà tự bản thân mỗi thiết bị đều chứa đựng một lượng thông tin nhất định. Các thiết bị mang tin được nghiên cứu, thiết kế theo các nguyên tắc sư phạm và khoa học kỹ thuật nhằm truyền tải những nội dung bài dạy học một cách thuận lợi và chính xác.

Phân loại theo hình thức tồn tại TBDH:

TBDH theo nguyên mẫu.

TBDH phỏng theo nguyên mẫu.

TBDH biểu trưng.

Phân loại theo loại hình:

– Nhóm mô hình, mẫu vật: gồm máy móc, dụng cụ nguyên mẫu hoặc mô hình phỏng theo nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo.

– Nhóm các dụng cụ thí nghiệm: dùng chứng minh và thực hành theo từng mục đích, nội dung của chương trình.

– Nhóm các vật liệu nghe nhìn: tranh ảnh, sơ đồ, biểu bảng, băng hình, băng ghi âm, phim giáo khoa…

– Nhóm các phương tiện hỗ trợ gồm: các bộ lắp ráp, hệ điều khiển điện, dụng cụ đo, hoá chất, radio, cassette, máy chiếu phim, video, computer, overhead…

 

3. Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000),Quyết định số 41/2000/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế thiết bị giáo dục trong trường mầm non, trường phổ thông
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông (môn Vật lý), Nhà xuất bản Giáo dục.
  3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Tài liệu tập huấn công tác quản lí và bảo dưỡng cơ sở vật chất và thiết bị trường trung học phổ thông, Hà Nội
  4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu hướng dẫn công tác Sách- Thiết bị giáo dục năm học 2007-2008, Hà Nội.
  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2007), Hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học tối thiểu lớp 10, Nhà xuất bản Giáo dục.
  1. Bộ Giáo dục và đào tạo, Tài liệu tập huấn bồi dưỡng cán bộ QLGD Hà Nội, 2006.
  2. Bùi Minh Hiền (Chủ biên) – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo,Quản lý Giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
  1. Các Mác, Ănghen toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội (1993)
  2. Chính phủ, 2002 – Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 – Nhà xuất bản Giáo dục
  1. Đặng Quốc Bảo (1997), Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý giáo dục TW1, Hà Nội
  1. Hanold Koonzt (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội
  1. Học viện Quản lý giáo dục, Tài liệu bồi dưỡng Cán bộ quản lý, công chức nhà nước ngành giáo dục và đào tạo: Quyển 3 Các hoạt động quản lý giáo dục, Hà nội 2009.
  2. Hồ Thế Vĩnh (2002), Giáo trình khoa học quản lý, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội
  1. Luật Giáo dục 2005, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
  2. Nguyễn Như Ý,Đại từ điển Tiếng Việt , Nhà xuất bản Văn hóa thông tin – 1999
  1. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Một số khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục, Đề cương bài giảng cán bộ quản lý giáo dục TW1, Hà Nội.
  2. Nguyễn văn Lê, Đỗ Hữu Tài (1996), Chuyên đề quản lý trường học tập 1, NXB Giáo dục
  1. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996) Đại cương về khoa học quản lý, Trường cán bộ quản lý giáo dục TW1, Hà Nội
  2. Paul Hersey- Ken Blanc Heard (1995), Quản lý nguồn nhân lực, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
  1. Phạm Minh Hạc (1989), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội.