Các cách phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

 Nguyễn Thị Thanh    
Các cách phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Rate this post

1/Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất

* Chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải chuẩn bị đầy đủ các yếu tố đầu vào, huy động, sử dụng các nguồn tài lực, vật lực,… để thực hiện việc sản xuất sản phẩm thực hiện các lao vụ dịch vụ, thu mua dự trữ hàng hóa, luân chuyển, lưu thông, quản lý. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa. Các chi phí này phát sinh thường xuyên và gắn với quá trình sản xuất trong từng thời kỳ và biểu hiện dưới hình thái tiền tệ

* Phân loại chi phí sản xuất

– Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí

Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích công dụng, không phân biệt chi phí có nội dung kinh tế như thế nào. Vì vậy, toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra thành các khoản mục chi phí sau:

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ.

+ Chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

+ Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi của phân xưởng, đội sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau:

  • Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm chi phí tiền lương, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội sản xuất.
  • Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất.
  • Chi phí dụng cụ: Bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ dùng ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.
  • Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý và sử dụng.
  • Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng, đội sản xuất.
  • Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất.

Phân loại chi phí theo cách này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm.

Các cách phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Các cách phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

– Phân loại chi phí sản xuất căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (còn gọi là phân loại theo yếu tố)

Theo cách phân loại này người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào. Vì vậy toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia thành các loại sau:

+ Chi phí nguyên liệu và vật liệu: Bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt đông sản xuất kinh doanh trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác.

+ Chi phí nhân công: Là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tiền lương của người lao động.

+ Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: Yếu tố này bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.

Việc phân loại chi phí theo cách này giúp ta biết được kết cấu tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch, định mức về vốn lưu động cho kỳ sau, là tài liệu để tính toán thu nhập quốc dân.

Xem thêm:

– Phân loại theo khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng kế toán chi phí:

Theo cách này thì chí phí sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại:

+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp tới từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí, chúng có thể được quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.

+ Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp.

Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tượng, doanh nghiệp cần phải lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp. Mức độ hợp lý của chi phí phân bổ cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.

Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng một cách đúng đắn và hợp lý.

Ngoài ra, tùy thuộc vào yêu cầu quản trị chi phí trong doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác như: Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động…

ke-toan-chi-phi-san-xuat-va-tinh-gia-thanh-san-pham

ke-toan-chi-phi-san-xuat-va-tinh-gia-thanh-san-pham

2/ Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm

* Giá thành sản phẩm

Giá thành sản xuất sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm lao động dịch vụ nhất định.

Chỉ tiêu gía thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong nó, đó là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu được cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành.

* Phân loại giá thành sản phẩm

Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xem xét dưới nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Dựa vào các tiêu thức phân loại nhất đinh mà ta chia được thành các loại giá thành khác nhau. Sau đây là các cách phân loại giá thành phổ biến.

– Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành

Theo cách phân loại này thì giá thành được chinh thành 3 loại sau:

+ Giá thành sản phẩm kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi phí kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch.

+ Giá thành sản phẩm định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và tính cho một đơn vị sản phẩm.

+ Giá thành sản phẩm thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính toán và xác định trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như số lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất và tiêu thụ trong kỳ.

– Phân loại giá thành căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành

Theo cách này thì giá thành được chia thành hai loại sau:

+ Giá thành sản xuất sản phẩm: Bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm đã sản xuất hoàn thành. Giá thành sản xuất sản phẩm được sử dụng để hạch toán thành phẩm, giá vốn hàng xuất bán và mức lãi gộp trong kỳ của doanh nghiệp.

+ Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất tính cho số sản phẩm tiêu thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ tính cho số sản phẩm này. Như vậy, giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ chi tính và xác định cho số sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất và đã tiêu thụ, nó là căn cứ để tính toán xác định mức lợi nhuận thuần trước thuế của doanh nghiệp.

3/ Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Về mặt bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm có những điểm khác biệt về mặt lượng sau:

– Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho một thời kỳ nhất đinh, không phân biệt là loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa?, còn khi nói đến giá thành sản xuất sản phẩm là xác định một lượng chi phí nhất định tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.

– Tại thời điểm tính giá thành có thể có một khối lượn sản phẩm chưa hoàn thành, chưa đựng một lượng chi phí cho nó – đó là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Tương tự như vậy với đầu kỳ ta có chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ. Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm được thể hiện ở công thức sau đây:

Z = Dđk  + C – Dck

Trong đó:

  • Z là giá thành sản xuất sản phẩm
  • Dđk là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
  • C là chi phí phát sinh trong kỳ
  • Dck là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

4/ Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, yếu tố giá bán là một trong những yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm cung cấp số liệu quan trọng để phân tích, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó mà nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định kịp thời, phù hợp.

Để tối đa hóa các khoản chi phí, hạ giá thành sản phẩm doanh nghiệp cần tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học, hợp lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm. Việc tổ chức kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chi phí phát sinh ở từng doanh nghiệp, ở từng bộ phận, từng đối tượng góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tư lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ thấp giá thành sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho doanh nghiệp một ưu thế trong cạnh tranh.

Tham khảo thêm thông tin: