Tổng quan về hoạt động tài chính và quản trị tài chính trong công ty

 Nguyễn Thị Hà    
Tổng quan về hoạt động tài chính và quản trị tài chính trong công ty
Rate this post

Quản trị tài chính trong Công ty cổ phần là quá trình quản lý trong đó nhà quản trị tài chính xử lý các thông tin liên quan đến môi trường tài chính và môi trường nội bộ của công ty, giải quyết một cách đúng đắn các mối quan hệ tài chính phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Mục Lục

1. Tổng quan về hoạt động quản trị tài chính trong Công ty cổ phần

1.2. Khái quát về tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính công ty

1.2.1.  Khái niệm về tài chính doanh nghiệp, hoạt động quản trị tài chính

Tài chính Công ty cổ phần hay tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, chính là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, các hoạt động có liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ bằng tiền trong doanh nghiệp chính là hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

Công ty cổ phần hay bất kỳ một tổ chức nào khác đều có các loại hoạt động sau: Hoạt động chức năng; Hoạt động đầu tư; Hoạt động tài trợ. Hoạt động chức năng của công ty chính là việc sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Để có thể thực hiện được những việc này công ty phải mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật liệu… đó chính là hoạt động đầu tư của công ty. Và cuối cùng để có thể tiến hành hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh công ty phải huy động các nguồn tài chính từ bên ngoài dưới dạng nhận vốn góp từ các nhà đầu tư hay vay từ các tổ chức tín dụng, đây chính là hoạt động tài trợ.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính thì công tác quản trị tài chính công ty đóng vai trò rất quan trọng. Quản trị tài chính trong Công ty cổ phần là quá trình quản lý trong đó nhà quản trị tài chính xử lý các thông tin liên quan đến môi trường tài chính và môi trường nội bộ của công ty, giải quyết một cách đúng đắn các mối quan hệ tài chính phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hóa giá trị công ty. Các quyết định tài chính mà nhà quản trị phải đưa ra là quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, quyết định phân phối cụ thể như sau:

Quyết định đầu tư: Quyết định đầu tư là việc chọn đầu tư vào những tài sản thực. Đây là quyết định quan trọng nhất làm gia tăng giá trị tài sản doanh nghiệp, nó liên quan đến việc xác định các khoản đầu tư dài hạn mà công ty sẽ thực hiện. Nhà quản trị phải lựa chọn dự án đầu tư mở rộng, thay thế hay để đáp ứng các yêu cầu về pháp lý và các tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn. Căn cứ vào các dự tính về dòng tiền vào và ra khi thực hiện dự án, nhà quản trị sẽ đánh giá, xếp hạng các dự án đầu tư rồi chọn những cơ hội đầu tư trội hơn và có thu nhập ròng dương. Khi đánh giá dòng tiền dự án đầu tư phải chú ý đến thời gian phát sinh dòng tiền và độ rủi ro của nó.

Quyết định tài trợ: Quyết định tài trợ là việc chọn nguồn tài trợ cho dự án đầu tư của công ty. Tập hợp các nguồn tài trợ tạo thành cấu trúc vốn của công ty, gồm vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi và nợ. Quyết định tài trợ cân nhắc trên chi phí huy động vốn và rủi ro để xây dựng cấu trúc vốn tối ưu.

Quyết định phân phối: Quyết định phân phối là việc xác định chính sách cổ tức công ty. Kết thúc mỗi kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh công ty thu được lợi nhuận. Phần lợi nhuận ròng sau thuế (nếu có) khấu trừ khoản chi phí thực tế phát sinh nhưng không được tính vào chi phí hợp lý trước thuế, trích lập các quỹ theo quy định, còn lại được phân phối theo tỉ lệ chi trả cổ tức.

Các nhà quản trị tài chính cần kết hợp các quyết định tài chính thông qua phân tích và lập kế hoạch tài chính nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản hiện hữu của công ty. Tài sản hiện hữu của công ty là các tài sản lưu động như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu, hàng tồn kho… và tài sản cố định như nhà xưởng, máy móc thiết bị…Các tài sản này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như vay nợ ngắn hạn, dài hạn, chiếm dụng vốn khách hàng, nguồn vốn góp cổ đông. Việc phân tích đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng những tài sản hiện hữu thông qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính, các kế hoạch tài chính…Quản trị vốn luân chuyển cũng là một nội dung quan trọng trong công việc của giám đốc tài chính. Quản trị vốn luân chuyển là hoạt động hàng ngày nhằm đảm bảo rằng công ty có đủ các nguồn lực để tiếp tục hoạt động liên tục, tránh bị gián đoạn. Loại quyết định này liên quan đến hàng loạt hoạt động gắn liền với việc thu chi tiền. Các vấn đề về quản trị vốn luân chuyển phải được giải quyết như: công ty nên giữ bao nhiêu hàng tồn kho và tiền mặt, có nên bán chịu không, bán cho ai và điều khoản như thế nào? Công ty sẽ đạt được các nguồn tài trợ ngắn hạn cần thiết như thế nào, nên mua chịu hay vay ngân hàng, vay theo hình thức nào?

1.2.1. Đặc điểm hoạt động quản trị tài chính trong Công ty cổ phần

Đặc điểm của Công ty cổ phần đã mang lại cho hoạt động quản trị tài chính trong Công ty cổ phần một số điểm khác biệt so với hoạt động quản trị tài chính trong các doanh nghiệp khác như:

Mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý trong hoạt động quản trị tài chính Công ty cổ phần. Tình huống này có thể xảy ra là khi nhà quản lý sở hữu một tỷ lệ cổ phần khiêm tốn trong doanh nghiệp mà họ quản lý, họ có thể không làm việc hết mình vì lợi ích của cổ đông bởi vì họ chỉ nhận được một phần nhỏ từ lợi nhuận công ty chia cho cổ đông (tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà quản lý). Họ muốn có lương và bổng lộc cao hơn, điều này sẽ gây lên áp lực gia tăng chi phí đến cổ đông bên ngoài. Hoặc nhà quản lý lợi dụng các thông tin nội bộ để từ đó có thể thâu gom cổ phiếu bên ngoài nắm quyền kiểm soát điều hành công ty, biến công ty từ Công ty cổ phần đại chúng thành Công ty cổ phần nội bộ hoặc công ty thuộc về một số cổ đông lớn là các cá nhân trong ban quản lý. Vậy phải làm sao để giải quyết mâu thuẩn, dung hòa được lợi ích của ban quản lý và lợi ích của cổ đông, lợi ích của cổ đông được bảo vệ, nhà quản lý tuân thủ theo quy định, điều lệ của công ty.

Nguyên tắc công khai hóa thông tin tài chính – kế toán là bắt buộc đối với Công ty cổ phần đặc biệt là các Công ty cổ phần đại chúng niêm yết, bởi vì Công ty cổ phần là một loại hình tổ chức doanh nghiệp trong đó quyền sở hữu và quyền quản lý tách rời nhau nên thông tin về tình hình hoạt động của công ty nói chung và tình hình tài chính của công ty nói riêng dễ bị bưng bít, bóp méo ảnh hưởng đến việc xác lập giá trị của công ty trên thị trường chứng khoán, ảnh hưởng quan trọng đến quyết định đầu tư của công chúng, lúc đó không chỉ riêng các nhà đầu tư bị thiệt hại mà còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của cả nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi chính đáng của công chúng đầu tư, luật pháp qui định cổ đông có quyền được thông báo về tình hình tài chính của công ty thường xuyên và khi có nhu cầu.

Mục tiêu của hoạt động quản trị tài chính là phải làm gia tăng được giá trị của doanh nghiệp trên thương trường, để thực hiện được mục tiêu này thì vai trò của nhà quản trị tài chính hết sức quan trọng, nhà quản trị tài chính phải đưa ra được các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty và diễn biến của nền kinh tế trong và ngoài nước, mà điều này không phải nhà quản trị tài chính nào cùng có thể làm được.

1.2.  Vai trò của nhà quản trị tài chính

Bộ phận quản trị tài chính, đứng đầu là Giám đốc tài chính giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán; xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất… Thông qua đó, đánh giá, dự đoán có hiệu quả các dự án đầu tư, các hoạt động liên doanh liên kết, phát hiện âm mưu thôn tính doanh nghiệp của các đối tác cạnh tranh; đề xuất phương án chia tách hay sáp nhập… Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến động nhất định trong từng thời kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản trị tài chính là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn sử dụng sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất. Để thực hiện được nhiệm vụ trên giám đốc tài chính trong Công ty cổ phần đóng vai trò là cầu nối giữa công ty và thị trường tài chính như được mô tả trong hình dưới đây:

Hình 1

Vai trò của giám đốc tài chính được thể hiện trong hình trên cho thấy dòng chảy của tiền mặt đi từ nhà đầu tư đến công ty và sau đó quy trở lại nhà đầu tư như thế nào. Dòng chảy bắt đầu khi công ty bán chứng khoán để huy động vốn (mũi tên 1). Và sau đó tiền được chi tiêu để mua sắm các tài sản thực sử dụng cho hoạt động kinh doanh (mũi tên 2). Sau đó, nếu công ty kinh doanh hiệu quả thì các tài sản thực này sẽ tạo nên dòng tiền gia tăng để hoàn trả vốn đầu tư ban đầu (mũi tên 3). Cuối cùng tiền hoặc được tái đầu tư trở lại (mũi tên 4a) hoặc được hoàn trả cho các nhà đầu tư, những người đã mua các chứng khoán mà công ty phát hành lúc ban đầu (mũi tên 4b). Dĩ nhiên, sự lựa chọn giữa 4a và 4b là không hoàn toàn tự do. Ví dụ nếu ngân hàng cho vay ở giai đoạn 1 thì sau đó ngân hàng phải được hoản trả đầy đủ cả vốn gốc cộng lãi vay ở giai đoạn 4b.

Từ hình vẽ đưa chúng ta quay trở lại 3 câu hỏi căn bản đối với một giám đốc tài chính:

Thứ nhất, những tài sản thực nào sẽ được công ty đầu tư? Trả lời cho câu hỏi thứ nhất đó là quyết định đầu tư hay quyết định ngân sách vốn của công ty.

Thứ hai, công ty nên sử dụng nguồn tài trợ nào cho dự án đầu tư đã được lựa chọn đó? Trả lời cho câu hỏi thứ hai đó là quyết định tài trợ của công ty.

Thứ ba, kết hợp cả hai quyết định trên sẽ tạo thành chính sách phân phối. Nghĩa là công ty sẽ đưa ra quyết định về chính sách cổ tức, thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với doanh nghiệp, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ doanh nghiệp và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng cao và bền vững.

2. Các tỷ số tài chính

2.1.  Tỷ số thanh toán

2.1.1 Tỷ số thanh toán hiện hành

Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành.

Tỷ số thanh toán hiện hành Rc= Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác.

Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác.

Tỷ suất Rc cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ của công ty.

Nếu tỷ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra.

Nếu tỷ số thanh toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẳn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói cách khác việc quản lý tài sản lưu động không hiệu quả (ví dụ: có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, nợ phải đòi, hàng tồn kho ứ đọng). Một công ty nếu dự trữ quá nhiều hàng tồn kho thì sẽ có tỷ số thanh toán hiện hành cao, mà ta đã biết là hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền, nhất là hàng tồn kho ứ đọng, kém phẩm chất. Vì thế, trong nhiều trường hợp, tỷ suất thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty.

2.1.2 Tỷ số thanh toán nhanh

Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng được gọi là “Tài sản có tính thanh khoản”, “Tài sản có tính thanh khoản” bao gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho.

Tỷ số thanh toán nhanh Rq= ( Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho) / Nợ ngắn hạn

Tỷ số này cho thấy khả năng thanh toán thực sự của một công ty.

2.1.3 Tỷ số thanh toán tiền mặt

Hệ số thanh toán tiền mặt dùng để đánh giá khả năng dùng các khoản tiền & các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn có thể thanh khoản nhanh để thanh toán ngay lập tức các khoản nợ ngắn hạn.

Tỷ số thanh toán tiền mặt = ( Tiền và các khoản tương đương tiền + Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn) / Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán tiền mặt là hệ số thanh toán khắt khe nhất trong nhóm hệ số thanh toán. Hệ số này bằng 1 chứng tỏ là doanh nghiệp có đủ lượng tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn nếu cần thiết. Tuy nhiên hệ số này càng cao chưa chắc đã tốt vì có thể doanh nghiệp không biết cách sử dụng khoản tiền mặt này sao cho có hiệu quả để mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Cũng giống như một số hệ số khác trong phân tích tài chính, hệ số này nên được so sánh với hệ số trung bình của ngành hoặc so sánh với hệ số thanh toán tiền mặt của doanh nghiệp khác trong cùng ngành.

2.2  Tỷ số hoạt động

Các tỷ số hoạt động đo lường hoạt động kinh doanh của một công ty. Để nâng cao tỷ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết là những tài sản chưa dùng hoặc không dùng không tạo ra thu nhập vì thế công ty cần phải biết cách sử dụng chúng nó hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Tỷ số hoạt động đôi khi còn gọi là tỷ số hiệu quả hoặc tỷ số luân chuyển.

2.2.1 Số vòng quay các khoản phải thu

Các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu tiền về do công ty thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản trả trước cho người bán…

Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc thanh toán các khoản phải thu v.v.. Khi khách hàng thanh toán tất cả các hóa đơn của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng.

Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần / Số dư các khoản phải thu

Độ dài kỳ thu nợ bình quân = 360 /Vòng quay các khoản phải thu

Số vòng quay các khoản phải thu hoặc kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của công ty. Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều. Nhưng nếu số vòng quay các khoản phải thu cao quá thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu.

Khi phân tích tỷ số này, ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh với các công ty cùng ngành, công ty cần xem xét kỹ lưỡng từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn trả và có biện pháp xử lý.

2.2.2 Số vòng quay hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào.

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân

Số vòng luân chuyển hàng tồn ngành kinh doanh.

Hàng tồn kho bình quân kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm

2.2.3 Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản

Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản cố định = Doanh thu thuần / Toàn bộ tài sản

2.2.4 Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần

Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần là chỉ tiêu rất hữu ích trong việc phân tích khía cạnh tài chính của công ty. Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần đo lường mối quan hệ giữa doanh thu và vốn cổ phần.

Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = Doanh thu thuần / Vốn cổ phần

Kết luận: Các tỷ số hoạt động vừa nêu chỉ phản ánh tình hình hoạt động của công ty trong một kỳ như thế nào, không thể hiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bởi vì các tỷ số hoạt động được tính dựa trên doanh thu bán hàng mà doanh thu thì chứa đựng chi phí mà công ty đã chi ra để sản xuất và cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng và đôi khi công ty chưa thu đủ lượng chi phí đã chi ra tức là công ty chưa đạt đểm hòa vốn hay bị lỗ. Do đó, để nhận thức về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nhất thiết các tỷ số sinh lợi phải được quan sát.

2.3.  Tỷ số đòn bẩy tài chính

Tỷ số đòn bẩy tài chính đánh giá mức độ mà một công ty tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay. Khi một công ty vay tiền, công ty luôn phải thực hiện một chuỗi thanh toán cố định. Vì các cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi chi trả cho chủ nợ, nợ vay được xem như là tạo ra đòn bẩy. Trong thời kỳ khó khăn, các công ty có đòn bẩy tài chính cao có khả năng không trả được nợ. Vì thế khi công ty muốn vay tiền, ngân hàng sẽ đánh giá tình hình vay nợ, việc duy trì hạn mức tín dụng của công ty .

Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để ấn định mức lãi suất cho vay đối với công ty (vì công ty càng có nhiều nợ vay, rủi ro về mặt tài chính càng lớn). Ở các nước phát triển, người ta đánh giá được rủi ro này (β) và tính vào lãi suất cho vay. Điều đó có nghĩa là công ty càng vay nhiều thì lãi suất càng cao.

Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp nhà quản trị tài chính lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý nhất cho công ty mình. Qua tỷ số đòn bẩy tài chính nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính của công ty từ đó dẫn đến quyết định đầu tư của mình.

2.3.1  Tỷ số nợ trên Tổng tài sản

Tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay.

Tỷ số nợ = Tổng nợ / Tổng tài sản

Tổng nợ bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính gồm: các khoản phải trả vay ngắn hạn, nợ dài hạn do đi vay hay phát hành trái phiếu dài hạn.

Tổng tài sản: toàn bộ tài sản của công ty tại thời điểm lập báo cáo.

2.3.2 Tỷ số nợ trên vốn cổ phần

Tỷ số nợ trên vốn cổ phần = Tổng nợ / Vốn cổ phần

2.4  Tỷ số sinh lợi

Tỷ số sinh lợi đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phần.

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu

Chỉ tiêu này nói lên một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu = Lợi nhuận ròng / Doanh thu thuần

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)

Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.

ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng giá trị tài sản x100%

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE)

Đây là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của một đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty.

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần = Lợi nhuận ròng / Vốn cổ phần x 100%

Sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là do công ty sử dụng vốn vay. Nếu công ty không có vốn vay thì hai tỷ số này sẽ bằng nhau.

2.5  Tỷ số giá trị thị trường

Các nhà đầu tư cổ phần đặc biệt quan tâm đến vài giá trị mà có ảnh hưởng mạnh đến giá thị trường của cổ phần như:

Thu nhập mỗi cổ phần (EPS)

Thu nhập mỗi cổ phần là một yếu tố quan trọng nhất, quyết định giá trị của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần.

Thu nhập mỗi cổ phần  = Thu nhập ròng của cổ đông thường/ Số lượng cổ phần thường

Thu nhập ròng của cổ đông thường được tính bằng cách lấy lãi ròng trừ đi tiền lãi của cổ phần ưu đãi.

Tỷ lệ chi trả cổ tức

Tỷ lệ chi trả cổ tức (D/EPS) =  Cổ tức mỗi cổ phần/ Thu nhập mỗi cổ phần

Cổ tức mỗi cổ phần = Tổng cổ tức / Số lượng cổ phần thường

Chỉ tiêu tỷ lệ chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đông hay giữ lại để tái đầu tư. Đây là một nhân tố quyết định đến giá trị thị trường của cổ phần.

Tỷ số giá thị trường trên thu nhập (P/E)

Tỷ số giá thị trường trên thu nhập =  Giá thị trường mỗi cổ phần/ Thu nhập mỗi cổ phần

Đây cũng là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện giá cổ phần đắt hay rẻ so với thu nhập.

Tỷ suất cổ tức

Tỷ suất cổ tức = Cổ tức mỗi cổ phần / Giá trị thị trường mỗi cổ phần

Như ta đã biết, thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần: cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phần. Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đó chưa hẳn là xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư. Họ mong đợi một tăng trưởng nhanh trong cổ tức và hưởng được sự chênh lệch lớn của giá cổ phần.

1.2.4 Quyết định tài trợ trong Công ty cổ phần

Quyết định tài trợ là một trong ba quyết định lớn của mọi doanh nghiệp. Về cơ bản, quyết định tài trợ gồm có quyết định tài trợ ngắn hạn và quyết định tài trợ dài hạn. Chính vì thế, công ty có thể lựa chọn hình thức tài trợ phù hợp cho chiến lược hoạt động kinh doanh của mình.

3. Tài trợ ngắn hạn

Trong quá trình hoạt động, công ty có thể sử dụng vốn ngắn hạn hoặc dài hạn để đầu tư vốn vào tài sản lưu động và tài sản cố định. Tuy nhiên, do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định rất lớn nên thông thường công ty khó có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản lưu động. Do vậy, để đầu tư vào tài sản lưu động, công ty thường phải sử dụng nguồn vốn ngắn hạn.

Nguồn vốn ngắn hạn mà công ty thường sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động gồm có: các khoản nợ phải trả người bán; các khoản ứng trước của người mua; thuế và các khoản phải nộp nhà nước; các khoản phải trả công nhân viên; các khoản phải trả khác và khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng. Công ty có thể tận dụng các nguồn vốn ngắn hạn trên để cân đối cho sự thiếu hụt vốn ngắn hạn tạm thời do sự mất cân đối, chênh lệch về thời gian và doanh số giữa tiền bán hàng và tiền đầu tư vào tài sản lưu động hoặc do nhu cầu gia tăng đầu tư tài sản lưu động đột biến theo thời vụ. Vì vậy, nhu cầu tài trợ ngắn hạn của công ty có thể chia thành nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên và nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ.

Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên: do đặc điểm luân chuyển vốn của công ty quyết định, xuất phát từ sự chênh lệch hoặc không ăn khớp nhau về thời gian và quy mô giữa tiền vào và tiền ra của công ty. Khoản tiền thu về không kịp thời hoặc không đủ bù đắp cho khoản tiền chi ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong công ty.

Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ: xuất phát từ đặc điểm thời vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến,chẳng hạn như công ty sản xuất chế biến xuất khẩu tôm có nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến vào mùa thu hoạch tôm. Khi ấy công ty cần tài trợ vốn ngắn hạn ngân hàng để bổ sung nhu cầu vốn mang tính thời vụ.

Công ty luôn có nhu cầu vốn ngắn hạn thường xuyên hoặc thời vụ cho việc duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, việc lựa chọn nguồn vốn ngắn hạn nào tùy thuộc vào chi phí huy động nguồn vốn đó so với các nguồn vốn khác và khả năng thương lượng của công ty để có được nguồn vốn đó.

3.1  Quyết định tài trợ dài hạn

Tài trợ dài hạn là nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho doanh nghiệp hoạt động và đầu tư. Tài trợ dài hạn bao gồm một số nguồn chủ yếu sau: vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, lợi nhuận giữ lại, thuê tài chính.

3.1.1  Trật tự phân hạn trong tài trợ dài hạn

Theo lý thuyết trật tự phân hạn, Myers cho rằng các doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn là tài trợ từ bên ngoài, vì tài trợ nội bộ không phải chịu chi phí phát hành, các giám đốc sẽ điều chỉnh tỷ lệ chi trả cổ tức để tránh phải bán cổ phần thường ra bên ngoài, tránh việc thay đổi số lượng cổ phần. Nếu cần tài trợ từ bên ngoài thì Myers cho rằng chứng khoán an toàn nhất nên được phát hành trước mà ở đây là trái phiếu, sau đó vốn cổ phần được bán ra bên ngoài là giải pháp cuối cùng.

Khi một thông tin về phát hành cổ phần mới được công bố thì có một sự sụt giảm trong giá cổ phần thường. Bởi vì có sự bất tương xứng về thông tin giữa các giám đốc và các nhà đầu tư, các giám đốc thường hiểu biết về công ty hơn là các nhà đầu tư, họ thường phát hành cổ phiếu khi có giá cao và như vậy các nhà đầu tư cũng hiểu được điều này nên khi có thông tin về phát hành chứng khoán mới thì nhà đầu tư nghĩ ngay đến trường hợp xấu của công ty.

3.1.2  Vốn cổ phần thường

Cổ phần thường là một chứng khoán thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn của sở hữu đối với công ty, bởi không có sự dự liệu trước thời gian đáo hạn của nó, ngay cả khi người nắm giữ cổ phần thường mà họ nắm giữ thì họ đã chuyển quyền sở hữu của cá nhân họ đối với công ty, song trái quyền của cổ phần đối với công ty thì không thay đổi. Các cổ đông hưởng cổ tức tuỳ theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và quyết định của Hội đồng quản trị về mức trả cổ tức hàng năm.

Nếu một cổ phiếu được phát hành và bán ra công chúng, nó có thể được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Nhưng đôi khi các nhà đầu tư có ý định nắm giữ chứng khoán của mình và không quan tâm đến việc liệu họ có bán chúng hay không, trường hợp này việc bán ra công chúng ít có lợi thế và doanh nghiệp thích phương án bán chứng khoán trực tiếp cho các định chế tài chính. Đối với những chứng khoán mới phát hành ra thị trường lần đầu thì rất khó thuyết phục các nhà đầu tư chấp nhận chứng khoán của mình, chính vì thế họ thường tiêu thụ thông qua các đại lý bao tiêu hoặc các cuộc đấu thầu và thường thì các nhà kinh doanh mạo hiểm thích đầu tư vào các loại chứng khoán này.

Khi công ty phát hành bổ sung chứng khoán để huy động thêm vốn thì doanh nghiệp có thể bán trực tiếp trên thị trường chứng khoán hoặc bán cho cổ đông cũ và thông thường các công ty đều ưu tiên bán chứng khoán bổ sung cho các cổ đông cũ, sự ưu tiên này giúp họ duy trì và giữ vững phần sở hữu của họ đối với công ty theo tỷ lệ hiện hành. Tuy nhiên giá trị cổ phần của cổ đông hiện tại có thể bị giảm xuống nếu công ty phát hành cổ phiếu mới và bán với giá ưu đãi. Quyền ưu tiên mua cổ phần là quyền mà doanh nghiệp cho phép cổ đông có quyền đăng ký mua cổ phần với giá thấp hơn giá trên thị trường theo tỷ lệ phần trăm số cổ phần mà họ đang sở hữu.

Việc phát hành thêm cổ phần sẽ làm gia tăng số lượng cổ phần, dẫn đến cổ tức trên mỗi cổ phần giảm và như vậy làm giảm giá trị doanh nghiệp, do đó cần tính toán cân nhắc trước khi ra quyết định phát hành thêm cổ phần mới.

3.1.3  Cổ phần ưu đãi

Cổ phần ưu đãi là loại chứng khoán hợp pháp. Nó vừa có điểm giống cổ phần thường lại vừa có điểm giống trái phiếu. Cụ thể:

+ Giống cổ phần thường: cổ phần ưu đãi không có kỳ hạn thanh toán cuối cùng, nhưng trong nhiều trường hợp doanh nghiệp đồng ý dành ra khoản tiền mỗi năm để mua lại cổ phần. Nếu doanh nghiệp bị phá sản các cổ đông ưu đãi sẽ xếp hàng sau trái chủ nhưng trước các cổ đông thường.

+ Giống trái phiếu: hầu hết các cổ phần ưu đãi đều ghi rõ tỷ lệ phần trăm cổ tức cổ phần tính theo mệnh giá trên mỗi cổ phần. Lợi tức cổ phần mang tính lũy kế, nếu năm trước chưa trả thì sẽ được bảo lưu và chuyển sang năm sau. Các thành viên của Hội đồng quản trị cũng biết rằng việc không chi trả cổ tức sẽ làm cho công ty mang tiếng xấu đối với nhà đầu tư.

Các cổ đông ưu đãi có quyền biểu quyết rất hạn chế. Tuy nhiên phải có sự chấp thuận của các cổ đông ưu đãi đối với bất kỳ vấn đề nào ảnh hưởng đến sự an toàn của trái quyền của họ và hầu hết các phát hành cũng cung cấp cho các cổ đông một quyền biểu quyết nào đó nếu cổ tức ưu đãi bị bỏ qua.

Một bất lợi về thuế đối với cổ phần ưu đãi là cổ tức của cổ phần ưu đãi được tính sau thuế và không được hưởng tấm lá chắn thuế như lãi trái phiếu. Đây là trở ngại cho doanh nghiệp trong việc phát hành cổ phần ưu đãi.

Cổ phần ưu đãi có thể được thu hồi theo những cách sau: Mua lại cổ phần ưu đãi, điều khoản hoàn trái, chuyển đổi thành cổ phần thường.

3.1.4  Lợi nhuận giữ lại

Lợi nhuận giữ lại là nguồn tài trợ quan trọng cho quá trình đầu tư và phát triển của doanh nghiệp vì sử dụng nguồn này doanh nghiệp không mất chi phí phát hành như trong trường hợp phát hành chứng khoán mới, phần lớn nguồn này được sử dụng để tái đầu tư.

Vấn đề đặt ra cho các giám đốc tài chính nên giữ lại lợi nhuận là bao nhiêu cho hợp lý để duy trì tốc độ tăng trưởng của công ty. Hầu hết các công ty đều rất quan tâm đến chính sách cổ tức mà họ đưa ra vì nó ảnh hưởng đến sự tín nhiệm của cổ đông dành cho họ, vì thế họ thường duy trì tỷ lệ chi trả cổ tức tương đối ổn định qua các năm. Đây cũng là lý do tại sao các doanh nghiệp phát triển thường duy trì mức chi trả cổ tức tương đối thấp hơn so với các doanh nghiệp khác, và những doanh nghiệp này cũng thường ít sử dụng nợ vay vì họ giữ phần lớn lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư. Nếu trong năm nào đó có nhiều cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp có thể sử dụng chính sách vay nợ để vẫn duy trì mức cổ tức ổn định.

3.1 5  Thuê tài chính

Là hình thức huy động vốn mà ở đó doanh nghiệp sẽ ký kết hợp đồng với công ty cho thuê tài chính về việc thuê một loại tài sản mà doanh nghiệp chọn. Khi đó, công ty cho thuê tài chính sẽ mua tài sản từ các nhà sản xuất và chuyển giao cho doanh nghiệp, các doanh nghiệp không được phép huỷ ngang hợp đồng và phải trả nợ gốc và lãi định kỳ cho công ty thuê tài chính. Các doanh nghiệp phải tự bảo trì máy móc nếu có hư hỏng, khi hết hạn hợp đồng, các doanh nghiệp có thể trả lại tài sản hoặc mua lại để tiếp tục sử dụng (thông thường thì họ được ưu tiên tiếp tục mua hoặc thuê lại).

3.2  Quyết định phân phối

Quyết định phân phối hay chính sách cổ tức là một trong ba chính sách tài chính quan trọng của công ty. Chính sách cổ tức ảnh hưởng đến số lượng cổ phần thường trong cấu trúc vốn của công ty qua lợi nhuận giữ lại và tiếp tục ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn. Chính sách cổ tức quyết định mức lợi nhuận của công ty được đem ra phân phối như thế nào, lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay được chi trả cho cổ đông.

3.3  Chính sách cổ tức

3.3.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động:

Công ty nên giữ lại lợi nhuận khi công ty có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi các cổ đông đòi hỏi.

Công ty theo chính sách này sẽ có mức độ chi trả cổ tức thay đổi từ năm này sang năm khác tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn.

Trong thực tiễn, các công ty thường cố gắng duy trì mức độ chi trả cổ tức tương đối ổn định qua các năm. Các công ty sẽ giữ lại lợi nhuận để lại với tỷ lệ khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao. Khi công ty tiếp tục tăng trưởng, công ty có thể tiếp tục theo đuổi chính sách này.

Chính sách này áp dụng cho những công ty tăng trưởng có tỷ lệ chi trả thấp hơn các công ty trong giai đoạn sung mãn.

3.3.2  Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định:

Các công ty và các cổ đông thích chính sách cổ tức tương đối ổn định.

Các cổ đông thường miễn cưỡng chấp nhận việc giảm cổ tức qua các năm vì luôn muốn ổn định nguồn thu nhập. Ngược lại công ty thường trì hoãn gia tăng cổ tức khi các khoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao để tăng mức chi trả cổ tức. Tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi sau sự gia tăng lợi nhuận.

Các cổ đông thường thích mức chi trả cổ tức ổn định. Cổ đông cho rằng khi thay đổi mức chi trả cổ tức thường hàm chứa một số thông tin nào đó. Cắt giảm cổ tức được cho là tiềm năng về lợi nhuận của công ty sụt giảm. Tương tự gia tăng lợi nhuận nghĩa là dự kiến lợi nhuận trong tương lai của công ty gia tăng. Ngoài ra nhiều cổ đông thường xem cổ tức là dòng thu nhập ổn định. Vì thế công ty cho rằng nhà đầu tư sẽ trả giá cao hơn cho cổ phiếu có cổ tức ổn định.

3.3.3  Các chính sách khác

Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi: công ty chấp nhận một chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi. Nếu lợi nhuận của công ty thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng dao động theo.

Chính sách trả cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm cuối năm: chính sách này thích hợp cho công ty có lợi nhuận biến động và nhu cầu tiền mặt biến động. Khi có lợi nhuận thấp công ty chi trả theo mức cổ tức đều đặn và thấp. Khi có lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử dụng tiền mặt cuối năm, công ty trả thêm phần cổ tức thưởng. Chính sách này tạo khả năng linh hoạt để giữ lại lợi nhuận mà vẫn thỏa mãn nhu cầu của nhà đầu tư.

3.4  Tác động của chính sách cổ tức đối với công ty

– Tác động của chính sách cổ tức đối với tài sản của các cổ đông

Nguồn thu nhập của cổ đông gồm lãi từ việc bán cổ phiếu và các khoản thu nhập có được trong lúc nắm giữ cổ phiếu từ cổ tức tiền mặt và mua lại cổ phiếu.

Ở một số nước, thuế đánh vào cổ tức bằng hoặc cao hơn thuế đánh vào các khoản lãi vốn. Do vậy cổ đông thường thích việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt thấp. Các mức lãi vốn sẽ được trì hoãn trả thuế cho đến khi cổ đông bán cổ phiếu đi.

Một tác động khác của chính sách cổ tức đối với cổ đông là ảnh hưởng của các thông báo trả cổ tức lên giá cổ phiếu của chính công ty đó. Các khoản cổ tức thường được coi là những dấu hiệu thông báo về tình hình kinh doanh và triển vọng phát triển của công ty. Vì vậy những thay đổi về mức trả cổ tức sẽ ảnh hưởng đến đánh giá của các nhà đầu tư đối với công ty và ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty.

– Quan hệ giữa chính sách cổ tức và hoạt động đầu tư của công ty Quyết định trả cổ tức của công ty có mối quan hệ chặt chẽ với các quyết định đầu tư.

Lợi nhuận sau thuế và trả lãi của công ty sẽ được dùng vào chi trả cổ tức cho cổ đông và tái đầu tư. Khi công ty có các cơ hội đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận thì công ty có xu hướng muốn giữ lại lợi nhuận chứ không đem chia cho các cổ đông. Nếu công ty lựa chọn việc trả cổ tức tiền mặt thì công ty phải tiến hành vay nợ hay phát hành cổ phiếu mới để cho các cơ hội đầu tư. Khi phát hành thêm cổ phiếu, công ty sẽ phải chịu thêm một khoản chi phí phát hành.

– Chính sách cổ tức và cơ cấu vốn của công ty

Việc trả cổ tức dù cao hay thấp đều tác động đến cơ cấu vốn của công ty. Dù trả cổ tức cao hay thấp thì rủi ro các khoản nợ của công ty tăng lên do đòn bẩy tài chính của công ty tăng. Với những công ty có đòn bẩy tài chính cao tức tỷ lệ nợ so với vốn cao thì trả cổ tức càng làm tăng rủi ro tài chính.

3.5  Các yếu tố quyết định chính sách cổ tức

Chia cổ tức là vấn đề gắn với sự tồn tại và hoạt động của công ty.

Lợi nhuận giữ lại dùng để đầu tư cho tăng trưởng trong tương lai và gia tăng giá trị cổ phần tương lai. Trong khi đó cổ tức cung cấp cho cổ đông lợi nhuận thường xuyên. Chính sách cổ tức tác động đến hoạt động của công ty như tài sản, hoạt động đầu tư, các yếu tố khác.

3.5.1 Đặc điểm của ngành và công ty

Chu kỳ sống của của một ngành và công ty có thể tạm chia thành bốn giai đoạn:

+ Giai đoạn phát triển: Trong giai đoạn này cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi nhuận cao rất cao nên các công ty thường không trả cổ tức bằng tiền mà dành khoản lợi nhuận để tái đầu tư.

+ Giai đoạn tăng trưởng: Trong giai đoạn này công ty vẫn có mức tăng trưởng nhanh hơn các công ty khác ngoài ngành. Nhu cầu tái đầu tư của công ty vẫn cao nên công ty thường chọn phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu

+ Giai đoạn mở rộng: Tăng trưởng của công ty vẫn còn nhưng không cao. Các cơ hội đầu tư kém hấp dẫn vì sự cạnh tranh gay gắt. Khả năng trả cổ tức bằng tiền của công ty ngày càng lớn.

+ Giai đoạn giảm sút: Tốc độ tăng trưởng của công ty chững lại. Chính sách cổ tức các công ty thường chọn là trả cổ tức bằng tiền mặt.

3.5.2 Các hạn chế về pháp lý

Các luật điều tiết chi trả cổ tức của công ty đăng ký hoạt động tại quốc gia đó Có nhiều quốc gia có luật điều tiết chi trả cổ tức cho công ty đăng ký ở quốc gia đó. Các luật này quy định như:

+ Hạn chế suy yếu vốn: không thể dùng vốn của một công ty để chi trả cổ tức. Vốn có thể là tổng mệnh giá cổ phần thường hay có thể bao gồm cả thặng dư vốn.

+ Hạn chế lợi nhuận ròng: cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng trong những năm qua và hiện tại, hạn chế công ty rút vốn đầu tư ban đầu để chi trả cổ tức

+ Hạn chế mất khả năng thanh toán: không thể chi trả cổ tức khi công ty mất khả năng thanh toán.

Những hạn chế này thông thường tác động nhiều đến các công ty mới thành lập, công ty nhỏ có lợi nhuận giữ lại thấp.

3.5.3  Các ảnh hưởng của thuế

Thuế thu nhập cổ tức thông thường có ảnh hưởng đến quyết định về chính sách chi trả cổ tức. Khi thuế thu nhập cá nhân đánh trên thu nhập cổ tức cao hơn thuế suất đánh trên thu nhập lãi vốn dài hạn thì các công ty có khuynh hướng giữ mức cổ tức thấp để các cổ đông có thể nhận được một phần lớn hơn tỷ suất sinh lợi trước thuế dưới hình thức lãi vốn nghĩa là làm tăng tỷ suất sinh lợi sau thuế của cổ đông.

3.5.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản của công ty

Khả năng thanh khoản của công ty càng lớn thì công ty có nhiều khả năng chi trả cổ tức. Một công ty có tỷ lệ tái đầu tư cao, số dư lợi nhuận lớn nhưng công ty có thể không có khả năng chi trả cổ tức nếu tính thanh khoản của tài sản thấp, nhất là không có tiền mặt.

Các công ty tăng trưởng nhanh chóng thường khó duy trì sử dụng hết các cơ hội đầu tư sinh lợi vừa duy trì tính thanh khoản để chi trả cổ tức.

3.5.5  Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn

Các công ty có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, thương phiếu càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức vì thu nhập giữ lại không phải là nguồn vốn duy nhất để mở rộng sản xuất.

Những công ty ở giai đoạn đầu thường khó có thể huy động vốn từ bên ngoài dù có nhu cầu lớn về vốn. Các công ty có quy mô lớn và trung bình có thể dễ dàng phát hành công cụ nợ hay phát hành cổ phiếu để chấp nhận trả cổ tức trong hiện tại. Trong khi đó các công ty nhỏ sẽ gặp khó khăn hơn trong vay vốn nên có khuynh hướng giữ lại phần lớn số lợi nhuận có được để đáp ứng các nhu cầu đầu tư.

3.5.6 Ổn định thu nhập

Công ty có dòng tiền tương đối ổn định, có dự báo tốt tương lai thường phản ánh sự tin tưởng này trong việc chi trả cổ tức ổn định. Các công ty lớn mà cổ phần được nắm rộng rãi bên ngoài cũng do dự khi phải hạ thấp mức chi trả cổ tức.

3.5.7 Triển vọng tăng trưởng

Công ty có tăng trưởng nhanh thường có nhu cầu vốn lớn để tài trợ. Các công ty này thường giữ mức chi trả cổ tức thấp thay cho việc trả cổ tức cao và phải bán cổ phần mới vừa tốn kém vừa bất tiện.

3.5.8 Lạm phát

Khi có lạm phát cao, vốn phát sinh từ khấu hao thường không đủ để thay thế tài sản cố định nên các công ty này thường giữ lại lợi nhuận để duy trì năng lực hoạt động, và công ty cần có nhiều tiền hơn để chi trả cho các khoản giao dịch, duy trì vốn luân chuyển.

3.5.9 Các ưu tiên của cổ đông

Các cổ đông lớn thường thích giữ lại lợi nhuận để hưởng lãi vốn trong khi các cổ đông nhỏ coi việc hưởng cổ tức là nguồn thu nhập thường xuyên nên thích cổ tức cao. Do vậy các nhà đầu tư thường sẽ bị hấp dẫn bởi các công ty có chính sách cổ tức phù hợp với mục tiêu của mình.

3.5.10 Bảo vệ chống lại loãng giá

Công ty thường chọn cách giữ lại lợi nhuận nhiều hơn và chi trả cổ tức thấp hơn để tránh rủi ro loãng giá khi phải huy động vốn bằng cách bán cổ phần mới.

3.5.11 Giá cổ phiếu trong những ngày đặc biệt

Khi cổ phiếu được bán ngay trước khi cổ tức được thanh toán một khoảng thời gian cụ thể nào đó thì người bán cổ phiếu sẽ được nhận cổ tức chứ không phải là người mua những cổ phiếu đó. Lý do của vấn đề này là trong danh sách cổ đông của công ty chưa có sự thay đổi về các cổ đông do không thể cập nhật kịp thời những thay đổi quyền sở hữu khi giao dịch xảy ra.

Ngày giao dịch mà khi đó người mua không được hưởng cổ tức mà người bán vẫn được hưởng cổ tức gọi là ngày giao dịch không hưởng cổ tức.

Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng cổ tức được tính bằng giá đóng cửa của cổ phiếu trong phiên trước đó trừ đi giá trị cổ tức.

Ptc=Pt-1-Div

Trong đó:

Ptc là giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền Pt-1: giá chứng khoán của phiên giao dịch trước; Div: giá trị cổ tức

Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không được hưởng quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu được tính như sau :

Thực chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu là đợt phát hành mới và bán cho cổ đông hiện hữu. Quyền mua cổ phiếu tiềm ẩn trong hoạt động này và coi như người có quyền dùng luôn cổ tức để mua cổ phiếu mới.

Giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu bằng

Ptc= ( PRt-1+(I*PR)-TTH) / (1+I)

Trong đó: Ptc là giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền

Pt-1: giá chứng khoán của phiên giao dịch trước

I: tỷ lệ vốn tăng

PR: giá cổ phiếu sẽ tính cho người có quyền nhận thưởng bằng tiền

TTH: giá trị tiền thưởng bằng cổ phiếu

Div: giá trị cổ tức