Tổng quan lý thuyết về tài chính ngân hàng đa năng

5 (100%) 4 votes

Tập đoàn tài chính có thể được hiểu theo một cách chung nhất đó là tổ hợp hay liên minh của một số đơn vị thành viên hoạt động trong một hay nhiều ngành nghề khác nhau, tại một hay nhiều vùng, quốc gia hay lãnh thổ khác nhau.

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viết luận văn thạc sĩ Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Tổng quan ly thuyết về tài chính ngân hàng đa năng
Tổng quan ly thuyết về tài chính ngân hàng đa năng

1. Khái niệm và đặc trưng của tập đoàn:

1.1 Khái niệm chung:

Cho đến nay chưa có định nghĩa hay khái niệm chính thức cũng như thống nhất về tập đoàn. Tuy nhiên, tập đoàn có thể được hiểu theo một cách chung nhất đó là tổ hợp hay liên minh của một số đơn vị thành viên hoạt động trong một hay nhiều ngành nghề khác nhau, tại một hay nhiều vùng, quốc gia hay lãnh thổ khác nhau. Trong các liên minh, tổ hợp này luôn tồn tại một đơn vị hạt nhân, có khả năng nắm quyền lãnh đạo cũng như chi phối hoạt động của các đơn vị thành viên khác vì một mục tiêu chung [3].

Tên gọi về tập đoàn nói chung, đã xuất hiện từ rất sớm khoảng nửa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 phổ biến như: “Cartel”; “Association”… và gần đây là “Cheabol”; “Group”…, tất cả đều có chung một số nghĩa chính là liên minh, liên kết, nhóm…Tất cả những liên minh như thế, khi nghiên cứu và dịch ra tiếng Việt chúng ta thông thường gọi chung một danh từ đó là “Tập đoàn”.

1.2 Đặc trưng của tập đoàn:

Tập đoàn là một cấu trúc có quan hệ về chiến lược và chính sách chung. Không có tư cách pháp nhân chung cho một tập đoàn, mà mỗi đơn vị thành viên trong tập đoàn phải là một pháp nhân độc lập. Không có cơ quan hành chính thường trực của tập đoàn, tuy nhiên đã là một tập đoàn nhất thiết phải có các bộ phận mang tính quản trị chung của tập đoàn như : Hội đồng quản trị, Ban hoặc là Uỷ ban kiểm tra kiểm toán, Hội đồng chiến lược…Trong mỗi một tập đoàn luôn luôn tồn tại một đơn vị đứng đầu có thể gọi là “Đơn vị sáng lập”, “Đơn vị gốc” hoặc là “Đơn vị chi phối”…Vị thế của đơn vị này được thể hiện bằng biểu tượng của tập đoàn và khả năng chi phối, lãnh đạo định hướng phát triển của các đơn vị thành viên khác trong tập đoàn. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là đơn vị đứng đầu thâu tóm hết các hoạt động của các đơn vị thành viên, mỗi đơn vị thành viên lại có sở hữu tài sản riêng, trụ sở riêng, địa bàn riêng và thậm trí là cả ngành nghề riêng. Cơ chế điều hành chung của các tập đoàn dựa trên quan hệ về lợi ích chung, về uy tín cũng như các cam kết chung của tập đoàn. Vì lợi ích chung các đơn vị trong một tập đoàn luôn hành động theo cùng chiến lược, mục tiêu chung, theo lĩnh vực và địa bàn đã được phân bổ hoặc phát triển các quan hệ gắn bó về vốn, công nghệ, văn hoá, ngoại giao…Với những quan hệ gắn bó như thế các đơn vị thành viên trong tập đoàn luôn có chung quyền được bảo vệ để có thể tránh khỏi những nguy cơ bị thôn tính hay chèn ép của các đơn vị ngoài tập đoàn cũng như từ các tập đoàn khác.

Xem thêm >>> Những lý luận chung về phân tích tài chính trong doanh nghiệp

2. Tập đoàn kinh tế:

2.1 Khái niệm về tập đoàn kinh tế:

Về cơ bản, cũng chưa có định nghĩa chính thức về tập đoàn kinh tế, tuy nhiên có thể hiểu rằng: Tập đoàn kinh tế là một hình thức tổ chức liên kết kinh tế. Các tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một công ty nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển [3].

Tập đoàn kinh tế thường là các tập đoàn xuyên vùng gồm nhiều hình thức sở hữu, đa chức năng như sản xuất, thương mại, nghiên cứu khoa học, tài chính, vận tải, du lịch, bảo hiểm…Tập đoàn kinh tế theo mô hình “Mẹ – con” thường có quy mô rất lớn về vốn, lao động, thị trường với phạm vi hoạt động rộng về mặt địa lý, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, có kết cấu tổ chức nhiều cấp, trong đó các đơn vị thành viên của tập đoàn đều là thực thể kinh tế có tư cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh.

Nói chung không có khuôn mẫu chung cho tất cả các tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên thông thường, đối với mô hình tập đoàn kinh tế theo dạng Công ty mẹ – công ty con là các công ty độc lập về mặt pháp lý. Công ty mẹ thường là các công ty cổ phần nắm quyền chi phối trong các công ty con. Công ty mẹ là chủ sở hữu tài sản của chính công ty đồng thời sở hữu các tài sản là vốn góp cho các công ty con, công ty mẹ cũng là nơi ra các quyết định về chiến lược cũng như các chính sách kinh doanh chung của tập đoàn.

2.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế:

Sự ra đời của tập đoàn kinh tế là một đòi hỏi tất yếu của thị trường. Hơn nữa, việc xuất hiện của một tập đoàn kinh tế không chỉ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, mà còn là đòi hỏi khách quan trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và thường mang các đặc điểm chung như sau:

Tập đoàn kinh tế gồm nhiều đơn vị thành viên thuộc một hay nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tài chính… thường là có quy mô rất lớn về vốn, nhân công, thị trường, doanh thu… Mô hình chủ yếu của các tập đoàn kinh tế là mô hình công ty mẹ – công ty con. Phạm vi hoạt động của tập đoàn thường rất rộng, vượt qua biên giới của một quốc gia, thậm chí nhiều tập đoàn có phạm vi hoạt động toàn cầu trở thành các tập đoàn xuyên – đa quốc gia. Mục tiêu của các tập đoàn là toàn cầu hoá chiến lược kinh doanh nhằm đạt được những lợi thế trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao nhất.

Hình thức sở hữu trong tập đoàn kinh tế là sở hữu hỗn hợp, nhưng Công ty mẹ luôn đóng vai trò chi phối, khống chế các công ty thành viên. Công ty mẹ sở hữu số lượng lớn cổ phần trong các công ty con, nắm quyền chi phối các công ty con về mặt tài chính cũng như về chiến lược phát triển. Các công ty con có thể hạch toán trực thuộc Công ty mẹ hoặc có thể hạch toán độc lập với tư cách pháp nhân riêng.

Các công ty con trong một tập đoàn có thể là những mắt xích liên quan đến nhau theo hình thức chuyên môn hoá trong một dây chuyền hoặc hoạt động hoàn toàn độc lập không có liên quan đến nhau. Do đó, sự liên kết của các công ty thành viên về các mặt như tài chính, công nghệ, thị trường…cũng rất đa dạng, có thể là hết sức chặt chẽ hoặc không chặt chẽ nhưng đều trên cơ sở cùng có lợi cho từng thành viên và của chung tập đoàn.

Các tập đoàn kinh tế thường hoạt động và quản lý tập trung một số mặt như huy động nguồn lực, điều tiết, quản lý vốn, đào tạo, nghiên cứu triển khai, xây dựng các chiến lược từ tổng thể đến chi tiết.

Tập đoàn kinh tế có thể kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành. Ngày nay thì các tập đoàn kinh tế phát triển theo xu hướng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là phổ biến nhưng luôn có một ngành, một lĩnh vực giữ vị trí mũi nhọn. Bên cạnh các đơn vị sản xuất là các tổ chức tài chính, ngân hàng, thương mại, dịch vụ, nghiên cứu… Các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập đoàn.

Trong xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn thì các tập đoàn kinh tế tăng cường hoạt động thôn tính, sáp nhập, liên minh rộng rãi và địa phương hoá sản xuất, kinh doanh.

Tham khảo thêm >>> Cho vay là gì? Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại hiện nay

2.3 Nguyên tắc hoạt động:

Nguyên tắc chung của các tập đoàn kinh tế đó là tối đa hoá lợi nhuận. Công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối trong các công ty con nhằm mục tiêu chính là tạo ra lợi nhuận. Số lượng cổ phần này sẽ có ảnh hưởng tới các quyết định quan trọng của các công ty con như bán tài sản, cơ cấu lại, sáp nhập…thông qua các hoạt động đầu tư, kiểm soát tài chính, chiến lược phát triển, hình thức quản lý, cách thức tiếp thị.v.v. Đó là sự chi phối bằng quan hệ tài chính, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình của công ty mẹ – ví dụ như là thương hiệu- đối với các công ty con.

Với cách chi phối như vậy thêm vào đó là sự phân chia thị trường một cách tách bạch giữa các công ty con và đôi khi có thêm các thoả thuận khác. Tập đoàn sẽ tạo được sự ổn định trong toàn hệ thống, đồng thời hạn chế được sự cạnh tranh trong nội bộ của tập đoàn. Hơn nữa, điều đó sẽ giúp cho sự phối hợp chiến lược kinh doanh của các công ty trong tập đoàn được chặt chẽ hơn xét cả về chiều rộng và chiều sâu.

Ngoài phần vốn có tính chất chi phối của công ty mẹ đối với các công ty con thì quan hệ tài chính giữa công ty mẹ – con chủ yếu là quan hệ hỗ trợ tạo, điều kiện cho công ty con vay vốn từ nguồn vốn chung của tập đoàn và các công ty con khác đều được hưởng lãi suất từ khoản vay này tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong tập đoàn. Nói chung, các tập đoàn luôn tồn tại một công ty tài chính chung của tập đoàn để thực hiện chức năng điều phối tài chính và tăng cường vai trò của công ty để chống lại khả năng bị tấn công thôn tính của tập đoàn.

Trong mô hình tập đoàn Công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ không chỉ đóng vai trò tập trung mà còn có chức năng điều hoà nguồn vốn giữa các công ty con nhằm đạt được hiệu quả tối đa. Việc dịch chuyển vốn giữa công ty mẹ và công ty con và ngược lại cũng được tính lãi suất theo quy định của tập đoàn. Tuy nhiên, các công ty con lại hoàn toàn có quyền chủ động sử dụng vốn tự có của mình trong sản xuất – kinh doanh mà tập đoàn không có quyền can thiệp vào phần lợi nhuận thu được từ nguồn vốn này.

Việc tăng quy mô và sức mạnh của tập đoàn chủ yếu được thông qua việc tích luỹ vốn của cả tập đoàn. Ngoài ra, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quỹ đạo hoạt động cho các công ty con và định hướng chung của cả tập đoàn.

2.4 Về phương thức quản lý:

Nói chung các tập đoàn kinh tế đều sử dụng chính sách quản lý phi tập trung. Hầu hết các tập đoàn kinh tế đều có Hội đồng quản trị để quản lý tập đoàn, kiểm soát về mặt tài chính, chính sách và chiến lược đầu tư. Các công ty con lại tự mình bầu ra Hội đồng quản trị và ban lãnh đạo riêng của mình để tự quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn toàn tự chủ về kết quả kinh doanh nhưng vẫn không xa rời mục tiêu mà tập đoàn đề ra.

3. Quá trình hình thành các tập đoàn trên thế giới

Chúng ta có thể thấy rằng, vào cuối thế kỷ 19 đầu 20 duới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp và tiến bộ khoa học kỹ thuật ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, lực lượng sản xuất đã phát triển một cách nhanh chóng. Những thành tựu khoa học kỹ thuật thời kỳ này, một mặt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí nghiệp, công ty phải có quy mô lớn; mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao động, đi cùng với nó là quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tăng khả năng tích luỹ tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn, từ đó hình thành các xí nghiệp, công ty có quy mô rất lớn.

Trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích luỹ…ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.

Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiến kỹ thuật, tăng quy mô tích luỹ để thắng thế trong cạnh tranh. Đồng thời, canh tranh gay gắt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còn các nhà tư bản lớn phát tài, làm giàu với số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngày càng to lớn.

Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt các xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản.

Sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền và các tập đoàn lớn trên thế giới [1].

Trong giai đoạn hội nhập và giao lưu kinh tế cả về chiều rộng và chiều sâu, các tổ chức độc quyền và các công ty lớn chuyển sang các hoạt động mang tính quốc tế cao. Các tổ chức này phát triển thành các công ty đa và xuyên quốc gia, hoạt động rộng trên phạm vi toàn cầu. Ban đầu các công ty này chỉ thực hiện việc bán và phân phối sản phẩn từ trong nước ra nước ngoài, dần dần tiến đến việc huy động và thực hiện tiến hành sản xuất và tiêu thụ tại chỗ nhờ giá nguyên liệu, nhân công…rẻ hơn ở trong nước. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các tổ chức và công ty lớn luôn gặp phải cạnh tranh gay gắt, một số tổ chức, công ty đã không giữ vững được và bị công ty khác thôn tính, một số khác thoả hiệp, liên minh tạo thành các tập đoàn lớn hơn để chiếm ưu thế trong cạnh tranh nhờ lợi thế về qui mô.

Tham khảo thêm >>> Một số vấn đề lý luận chung về khu vực công và quản trị tài chính công

4. Khái niệm, đặc điểm và xu hướng của Tập đoàn tài chính – ngân hàng đa năng

4.1. Khái niệm tập đoàn Tài chính – ngân hàng và tập đoàn tài chính ngân hàng đa năng

Cho đến nay cũng chưa có định nghĩa hay khái niệm chính thức về tập đoàn tài chính – ngân hàng (TĐTC-NH). Tuy nhiên, về cơ bản TĐTC-NH mang đầy đủ các đặc trưng của một tập đoàn kinh tế nói chung, có khác đây là các tập đoàn hoạt động trong một lĩnh vực đặc biệt và rất nhạy cảm đó là lĩnh vực tài chính – ngân hàng.

Nói chung chúng ta có thể hiểu rằng: TĐTC-NH là một tổ chức bao gồm hai hay nhiều định chế tài chính – ngân hàng được liên kết lại với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Đó là sự liên kết giữa nhiều chủ thể khác nhau hoạt động trên các lĩnh vực tài chính – ngân hàng nhằm hướng tới mục tiêu nhất định như mở rộng hoạt động kinh doanh, đầu tư và tăng khả năng cạnh tranh và mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận cao nhất [3].

Mặc dù không có khái niệm chính thức về TĐTC-NH hay TĐTC-NH đa năng tuy nhiên, về nguyên tắc một tập đoàn được coi là TĐTC-NH phải đáp ứng được những yêu cầu sau:

Thứ nhất, phải là một tập đoàn hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.

Thứ hai, phải là một tập đoàn mà hoạt động chính của nó phải bao gồm 2 trong số các mảng tài chính quan trọng: ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán.

Đối với TĐTC-NH đa năng, ngoài các hoạt động chính nêu trên thì mảng hoạt động của các tập đoàn còn rộng hơn nữa, không chỉ đơn thuần là các loại dịch vụ tài chính như: dịch vụ đầu tư, quản lý quỹ đầu tư, cho thuê tài chính, dịch vụ thẻ, mua bán nợ…mà còn mở rộng sang các lĩnh vực như: đầu tư bất động sản, kinh doanh thương mại, đầu tư hạ tầng…

Về khái niệm TĐTC-NH thì ở mỗi nước và mỗi khu vực có cách hiểu khác nhau:

Tại các nước thuộc liên minh châu Âu: thì TĐTC-NH thường có tên gọi là “financial conglomerate” và để được gọi như vậy phải thoả mãn các điều kiện sau:

Trong tập đoàn phải có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân hàng và ít nhất một công ty hoạt động về chứng khoán hoặc bảo hiểm.

Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm phải là hạt nhân của cả tập đoàn, cụ thể là các hoạt động tài chính này phải chiếm hơn 40% trong bảng cân đối của cả tập đoàn.

Trong mỗi lĩnh vực tài chính đó, tỷ lệ trung bình về tài sản của nó so với tổng tài sản của tập đoàn phải lớn hơn 10% hoặc tổng tài sản của công ty nhỏ nhất trong tập đoàn mà hoạt động kinh doanh tài chính phải lớn hơn 6 tỷ Euro.

Tại Mỹ: thông thường các TĐTC-NH được gọi là “financial holding company”, mà về nguyên tắc nó là một tổ chức liên kết trong đó cho phép một công ty nắm giữ những công ty cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính khác. Các TĐTC-NH này

không nhất thiết phải cung cấp tất cả các dịch vụ tài chính, do đó ngoài hình thức tập đoàn theo mô hình Công ty mẹ – công ty con mà còn là hình thức tập đoàn thực hiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng và chứng khoán khoán hoặc bảo hiểm hay cả hai.

4.2. Đặc điểm của các TĐTC-NH đa năng

Ngoài các đặc điểm chung của một tập đoàn kinh tế thì TĐTC-NH nói chung và TĐTC-NH đa năng nói riêng còn có các đặc điểm như sau:

Hầu hết các TĐTC-NH lớn trên thế giới đều được xây dựng và phát triển từ một NHTM hoặc ngân hàng đầu tư hay từ công ty bảo hiểm.

Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của các tập đoàn tài chính- ngân hàng thường rất lớn.

4.3. Xu hướng chung của các TĐTC-NH đa năng trên thế giới.

Trong vài thập kỷ trở lại đây, cùng với tiến trình toàn cầu hoá, hoạt động của các ngân hàng quốc tế và các TĐTC-NH đa năng đã có những thay đổi sâu sắc. Trước đây các ngân hàng quốc tế cũng như các TĐTC-NH quốc tế thực hiện hoạt động của mình thông qua việc thu hút vốn trong nước và tiến hành đầu tư, cho vay ở nước ngoài. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin là sự lớn mạnh của các quốc gia đang phát triển trên thế giới. Do đó, để tăng qui mô hoạt động cũng như giữ vững thị trường, các ngân hàng quốc tế và tập đoàn tài chính quốc tế đã thực hiện toàn cầu hoá hoạt động của mình thông qua việc thiết lập các chi nhánh của mình và tiến hành các hoạt động tại chỗ như thu hút vốn, cung cấp các dịch vụ cho vay, thế chấp, quản lý tài sản…Trong quá trình cạnh tranh gay gắt các ngân hàng buộc phải duy trì quy mô lớn nhằm giảm chi phí bằng cách mở rộng mạng lưới khắp nơi trên thế giới. Với xu hướng phát triển như vậy các vụ mua bán sáp nhập diễn ra ngày một nhiều và có quy mô cũng rất lớn, các ngân hàng lớn hơn tiến hành mua các ngân hàng nhỏ và biến nó thành các chi nhánh, công ty con của mình nhằm tận dụng hệ thống và mạng lưới sẵn có của các ngân hàng này, không chỉ ở nước sở tại mà còn ở cả nước ngoài. Các vụ sáp nhập của các ngân hàng không chỉ diễn ra trong biên giới lãnh thổ một quốc gia mà còn mang tính chất quốc tế. Các ngân hàng, tập đoàn tài chính lớn muốn mở rộng hoạt động của mình đồng thời tận dụng cơ sở vật chất sẵn có của các ngân hàng sở tại ở các thị trường tiềm năng, đã tiến hành mua lại hay sáp nhập với các ngân hàng khác thông qua đó chiếm lĩnh được các thị trường này đồng thời giảm thiểu được các chi phí.

5. Các mô hình hoạt động chính của TĐTC-NH đa năng.

Nói chung trên thế giới không có khuôn mẫu chung cho tất cả các TĐTC-NHĐN, mỗi tập đoàn lại có một hình thức tổ chức khác nhau và tên gọi cũng khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta có thể chia các TĐTC-NH đa năng trên thế giới thành 3 mô hình chính.

5.1 Ngân hàng đa năng (Universal banking)

Thuật ngữ ngân hàng đa năng chỉ sự kết hợp giữa ngân thương mại thuần tuý và ngân hàng đầu tư, hiểu rộng ra ngân hàng đa năng là ngân hàng không chỉ cung cấp các dịch vụ tài chính mà còn bao gồm cả kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Hiện nay, trên thế giới hoạt động của các ngân hàng đa năng đã đi vào ổn định và đạt hiệu quả cao đặc biệt trong các nền kinh tế chuyển đổi.

Đặc điểm của mô hình ngân hàng đa năng:

Các cổ đông điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của tập đoàn trong tất cả các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…

Ban điều hành của công ty mẹ trực tiếp điều hành hoạt động của mỗi loại hình kinh doanh của ngân hàng (kinh doanh ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm…) và gián tiếp thực hiện quyền nắm giữ cổ phần tại các công ty bảo hiểm, chứng khoán.

Trong mô hình này không có quy định riêng cho mối quan hệ về vốn giữa các công ty con, điều này có nghĩa là việc phân phối vốn đối với mỗi công ty con phục thuộc vào mục đích, chiến lược của tập đoàn, theo từng giai đoạn nhất định.

Với mô hình này thường rất khó có khả năng ngăn ngừa các rủi ro theo kiểu dây chuyền giữa các công ty thành viên trong tập đoàn. Những phản ứng tiêu cực lan truyền không chỉ tác động lên một mảng hoạt động mà nó còn ảnh hưởng tới các mảng hoạt động khác của cả tập đoàn.

5.2  Mô hình Công ty mẹ – con (Parent-subsidiary relationship)

Đây là mô hình TĐTC-NH đa năng rất phổ biến trên thế giới.

Đặc điểm của mô hình này là:

Các cổ đông trực tiếp điều hành hoạt động của ngân hàng và gián tiếp điều hành hoạt động của các công ty con (bảo hiểm, chứng khoán….)

Ban điều hành của ngân hàng mẹ điều hành trực tiếp toàn bộ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và gián tiếp điều hành các công ty con (bảo hiểm, chứng khoán …) thông qua việc nắm giữ cổ phần chi phối.

Mối quan hệ về vốn giữa các công ty trong tập đoàn cũng như quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con là quan hệ chủ sở hữu, tức là ngân hàng mẹ, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm…nắm vốn chủ sở hữu.

Trong trường hợp có rủi ro thì với mô hình này các tập đoàn có thể ngăn ngừa sự lan truyền ở mức nhất định. Công ty mẹ có một phần tác động nhất định lên hoạt động của các công ty con.

Mô hình tập đoàn này được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhưng tại Mỹ mô hình này chỉ được chấp nhận khi các ngân hàng quốc gia tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán hay bảo hiểm.

5.3 Mô hình công ty sở hữu tài chính (Finacial Holding Company)

Đặc điểm của mô hình Holding company:

Các cổ đông gián tiếp điều hành hoạt động của các công ty con (hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán..) thông qua công ty mẹ.

Ban điều của công ty mẹ hành thực hiện việc điều hành toàn bộ các hoạt động của tập đoàn thông qua quyền nắm giữ cổ phần chi phối trong tất cả các công ty con.

Ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm… nắm giữ vốn chủ sở hữu.

Việc hạn chế rủi ro lan truyền giữa các công ty con trong mô hình này là hết sức dễ dàng. Các công ty con đều có mức độ độc lập tương đối với nhau cũng như với công ty mẹ và nói chung là ít chịu ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau.

Mô hình này được áp dụng nhiều nước trên thế giới và rất phổ biến ở Mỹ và Nhật.

Bình luận

avatar
1 Comment threads
0 Thread replies
Most reacted comment
Hottest comment thread
1 Comment authors
Văn Minh Recent comment authors
  Subscribe  
Tin mới nhất Tin cũ nhất Bình chọn nhiều nhất
Notify of
Văn Minh
Guest
Văn Minh

Em đang làm luận văn về đề tài ”Lý thuyết về tài chính ngân hàng” . Cho e xin ít tài liệu hoặc luận văn mẫu để tham khảo với ạ

Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo