Phân tích nội dung các lý thuyết xã hội học

 Nguyễn Thị Hà    
Phân tích nội dung các lý thuyết xã hội học
Rate this post

Phân tích nội dung các lý thuyết xã hội học

Các lý thuyết xã hội học điện hình bao gồm: Lý thuyết hành động xã hội, lý luận tiêu dùng xã hội học và lý luận về sự khác biệt giới.

1/ Lý thuyết hành động xã hội

Các tác giả nổi tiếng của thuyết này như: Weber, Pareto, Parson…đều coi hành động là cốt lõi của những mối quan hệ xã hội và con người. Hành động xã hội là cơ sở của hoạt động sống của cá nhân cũng như của toàn bộ đời sống toàn xã hội. Theo Max Weber thì hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gán cho ý nghĩa chủ quan nhất định để đạt được mục đích.

Trong hành động xã hội, Weber nhấn mạnh đến “động cơ” bên trong của chủ thể như là nguyên nhân của hành động, cái “ ý nghĩa chủ quan” chính là ý thức, là những hành động có ý thức, chủ thể hiểu được mình làm những cái gì hành động như thế nào và sẽ thực hiện nó như thế nào, khác hẳn với những bản năng sinh học.

Theo mô hình hành động xã hội mà các nhà xã hội học đưa ra thì hành động xã hội gồm chủ thể, nhu cầu của chủ thể, hoàn cảnh hay chính là môi trường của hành động. Trong đó nhu cầu của chủ thể tạo ra động cơ thúc đẩy hành động để thỏa mãn nó và tùy theo từng hoàn cảnh hành động, môi trường hành động, các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với họ.

Giữa các thành tố trong cấu trúc của hành động xã hội có mối quan hệ hữu cơ với nhau, nó được thể hiện qua sơ đồ sau:

Lý thuyết hành động xã hội

Lý thuyết hành động xã hội

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ viet thue luan van thac siviết essay tiếng anh, khóa luận tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp, dịch vụ chạy SPSS,… chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Vận dụng lý thuyết hành động xã hội này để giải thích hành vi lựa chọn tiêu dùng của giới nam và giới nữ. Để thấy đây cũng không phải là hành động bản năng sinh học mà là hành động có sự tham gia của ý thức. Điều này thể hiện qua việc lựa chọn của chủ thể (người tiêu dùng) về nhiều khía cạnh: mua cái gì, mua như thế nào, ra sao…

Điều này có nghĩa hành vi của người tiêu dùng cũng là một dạng hành động xã hội. Hành vi của người tiêu dùng được thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá, vứt bỏ các sản phẩm và dịch vụ mà họ dự định để thỏa mãn các nhu cầu của họ. Con người thực hiện các hành động vì nhiều mục đích khác với sự tiêu dùng, nhưng khi hành động như người tiêu dùng, mỗi cá nhân chỉ có một mục tiêu để đạt được các dịch vụ và hàng hóa nhằm đáp ứng được sự mong muốn và thỏa mãn nhu cầu của họ.

2/ Lý luận tiêu dùng xã hội học

Thuật ngữ “sự khác biệt” được dùng để diễn tả khác biệt giữa nam và nữ, nghĩa là các khác biệt giới. Nam và nữ không giống nhau mà khác nhau và sự khác biệt này không chỉ về cấu tạo cơ thể (tức là những đặc điểm tự nhiên) mà cả về cách ứng xử, hành vi và các vai trò xã hội (các đặc điểm xã hội).

Lý luận tiêu dùng được người ta coi là trường phái kinh tế phi chính thống do T.B.Veblen đại diện. Veblen từ góc độ xã hội học nêu lên sự thay đổi của hành vi tiêu dùng biến đổi của hành vi tiêu dùng không đơn thuần dùng biến động giá cả để giải thích mà cần phải xem xét ảnh hưởng của nhân tố xã hội học.

Trong xã hội những người thuộc tầng lớp thấp thường coi cách sống của những người thuộc tầng lớp cao là mẫu mực hành vi tiêu dùng của mình. Đối với họ ảnh hưởng ấy càng lớn hơn nhân tố giá cả hàng hóa thay đổi. Nó có khả năng làm cho giá cả một số hàng hóa có giá trị cao càng tăng lên, bán càng nhiều, do đó gây cho người ta có thái độ bất thường với giá cả hàng tiêu dùng. Người ta cho rằng giá rẻ thì hàng không tốt, không chú ý tới tính hữu dụng của nó.

Lý luận tiêu dùng xã hội học

Lý luận tiêu dùng xã hội học

3/ Lý luận về sự khác biệt giới

So với các lý thuyết xã hội học trên, lý luận về sự khác biệt giới đưa ra sự khác biệt giới, đặc biệt sự đánh giá thấp về vai trò và vị trí của phụ nữ trong các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử. Cách nhìn nhận đó tồn tại từ thế kỷ này sang thế kỷ khác và dường như đã thành khuôn mẫu cho tác phong ứng xử giới trong các xã hội. Lý giải về vấn đề này trong thực tế còn nhiều quan điểm khác nhau.

Những người theo quan điểm “tự nhiên” cho rằng sự khác biệt giới có nguồn gốc tự nhiên và không thể tránh khỏi. Aristotte cho rằng “đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị và đó là một luật lệ”. Goldberg (1973) khẳng định sự thống trị và thành đạt của nam giới là khả năng không thể đảo ngược bởi có sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ.

Một số tác giả khác đã xuất phát từ chính sự khác biệt về sức khỏe, về sức mạnh cơ bắp, về chức năng sinh học với việc sinh sản để đưa đến kết luận về sự thống trị, sự chiếm giữ các đặc quyền, đặc lợi của nam giới so với nữ giới.

Trái lại  những người theo quan điểm sự khác biệt giới có nguồn gốc xã hội khẳng định sự khác biệt này không phải do tự nhiên, không tránh khỏi mà là do người đàn ông (và đàn bà) tạo nên. Một trong những tác giả có đóng góp rất lớn ở khía cạnh này là M. Mead. Khi phân tích thể chất, hành vi giới ở ba xã hội sơ khai trên đảo NewGuinea (1995) chứng minh rằng ở đâu cũng có sự khác biệt về hành vi, tính tình giữa đàn ông và đàn bà và sự khác biệt này giữa các xã hội cũng rất khác nhau.

Từ đó, ông đi đến kết luận rằng sự khác biệt về hành vi, tính tình giữa nam và nữ trong ba xã hội không thể lý giải được trên cơ sở sinh học vì con người trong những xã hội đó đều giống nhau về mặt sinh lý. Rõ ràng, “ý thức chung” về khuôn mẫu hành vi không phải tự nhiên mà có và tồn tại vĩnh cửu mà được gắn với những xã hội, những nền văn hóa cụ thể.

Theo cách này, “ý thức chung” của xã hội về các công việc, các chức năng xã hội của nam hay nữ điều chỉnh hành động của toàn giới và tạo ra các khả năng hay các cơ hội cho họ. Chính điều này củng cố hơn sự phân chia lao động theo giới trong xã hội và từ đây khẳng định thêm về vị trí, vai trò xã hội của từng giới.

Hi vọng bài viết “Phân tích nội dung các lý thuyết xã hội học” này sẽ giúp bạn đạt điểm cao đôi với môn xã hội học!