Nội dung về cơ sở lý luận trong quản lý đội ngũ giảng viên

5 (100%) 3 votes

Quản lý đội ngũ giảng viên tốt sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý giáo dục. Trong bài viết này chúng tôi sẽ hệ thống hóa những lý thuyết trong quản lý đội ngũ giảng viên.

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Làm Luận Văn Cao Học Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Nội dung về cơ sở lý luận trong quản lý đội ngũ giảng viên
Nội dung về cơ sở lý luận trong quản lý đội ngũ giảng viên

1. Một số khái niệm cơ bản

1.1. Nguồn nhân lực

“Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người – một bộ phận của dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động (nghĩa hẹp)”. [26]

Nguồn nhân lực được xem xét cả về số lượng và chất lượng người lao động:

Số lượng nhân lực: quy mô và tốc độ tăng của nó.

Chất lượng nhân lực: Thể lực – Trí lực – Tâm lực.

Xem thêm >>> Một số lý luận trong công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường học

1.2. Phát triển

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Phát triển là vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên.” [53]

Theo Giáo sư – Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Ở cấp độ chung nhất, phát triển được hiểu là sự thay đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức của vận động, hay là quá trình diễn ra có nguyên nhân, dưới những hình thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hóa, phân hóa, chuyển đổi, mở rộng và cuối cùng tạo ra sự biến đổi về chất”. [21, tr.43]

Phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐCĐ Cà Mau được sử dụng trong luận văn là một khái niệm tổng hợp gồm ba phương diện cơ bản: tăng tiến về số lượng, cải thiện về cơ cấu và nâng cao chất lượng.

1.3. Phát triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực là đào tạo người có năng lực lao động, làm cho mỗi người tự tạo và phát triển bản thân thực sự là chủ thể của lao động, phát huy năng lực tạo ra sản phẩm lao động. Phát triển nguồn nhân lực là tập trung vào việc chuyển dịch cơ cấu phân công lao động, giải quyết việc làm, phân bổ nguồn nhân lực, đào tạo lại, đào tạo mới, chính sách công nghệ, quản lý vĩ mô nguồn nhân lực.

1.4. Cộng đồng

Theo Tiến sĩ Phạm Hữu Ngải: “Cộng đồng là tập hợp những cá thể, hay tổ chức có những đặc trưng chủ yếu: có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế, cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ hoặc địa phương nhất định, có ngôn ngữ và chữ viết riêng làm công cụ giao tiếp, có nét tâm lý tạo nên bản sắc riêng”.[33]

1.5. Giáo dục cộng đồng

“Giáo dục cộng đồng là loại hình giáo dục do cộng đồng dân cư (địa phương) thành lập, phục vụ trực tiếp nhu cầu nâng cao trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật và công nghệ cho các thành viên và cho toàn cộng đồng”.[33]

1.6. Quản lý

Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến tầm rộng lớn là một quốc gia, quốc tế, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó, như nhận định của C.Mak: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.” [30, tr.3]

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “quản lý”. Riêng về phương diện xã hội, có thể đưa ra một số khái niệm như sau:

“Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ cho lợi ích của con người.” [41, tr.15]

“Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.” [27, tr.8]

Nói chung, các khái niệm quản lý trên tuy có khác nhau, nhưng có chung những dấu hiệu chủ yếu sau:

Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh, giống như một cơ thể sống. Nó được cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo một quy luật nhất định; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan.

Hệ thống quản lý gồm hai phân hệ. Đó là sự liên kết hữu cơ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Tác động quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác động quản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau, thường được thể hiện dưới dạng tổng hợp của một cơ chế quản lý.
Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn của môi trường. Quản lý phải gắn liền và bao giờ cũng phải phù hợp với quy luật.
Thực chất quản lý là xác định mục tiêu và hướng mọi nỗ lực của cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu đó. Mục tiêu cuối cùng của quản lý là “tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người”. Có thể mô tả khái niệm quản lý theo sơ đồ sau:

Diễn tả khái niệm quản lý
Diễn tả khái niệm quản lý

Tham khảo thêm >>>  Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học tại các trường học

1.7. Quản lý giáo dục

Cũng như quản lý xã hội, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Nói đến quản lý giáo dục là nói đến quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Quản lý giáo dục cũng có nhiều khái niệm khác nhau. Tác giả xin nêu một số khái niệm có liên quan đến đề tài của mình:

“Quản lý giáo dục là việc đảm bảo sự hoạt động của tổ chức trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống giáo dục và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới.” [30, tr.9]

“Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.” [27, tr.37]

“Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.” [27, tr.38]

Như vậy, từ các khái niệm trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố cơ bản của quản lý giáo dục, đó là: chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý (thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý bằng những công cụ và phương pháp) nhằm đạt được mục tiêu quản lý.

1.8. Quản lý trường học

“Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường.” [30, tr.35]

Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục – đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục – đào tạo; hoạt động trung tâm của nhà trường là dạy, học và giáo dục, vì vậy có thể nói: quản lý trường học là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ, nhân viên; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu đạt được mục tiêu đề ra, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

1.9. Đội ngũ và đội ngũ giảng viên

Đội ngũ

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Đội ngũ là tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng”; “Đội ngũ là số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp.” [53]

Có thể hiểu đội ngũ là một tập hợp những cá nhân có liên hệ với nhau và tổ chức thành một lực lượng, có sự gắn bó chặt chẽ với nhau bằng những quy định, điều lệ, kỷ luật, để tạo nên sức mạnh hành động nhằm đạt được mục đích chung. Đội ngũ hàm chứa yếu tố sức mạnh và có những yêu cầu chặt chẽ về cơ cấu, kỷ cương và chất lượng công việc. Ví dụ như đội ngũ công nhân, đội ngũ các nhà khoa học, đội ngũ trí thức,…

Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm đội ngũ, nhưng nói một cách chung nhất, đội ngũ gồm các yếu tố sau:

Là một tập hợp người;

Có tổ chức;

Có nhiệm vụ và mục đích chung.

Đội ngũ giảng viên

Theo điều 70, Luật Giáo dục – 2005: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.”

“Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho sự nghiệp giáo dục…Nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý.” [45, tr.10]

Như vậy, có thể hiểu: đội ngũ giảng viên là tập hợp những người tham gia công tác giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, được tổ chức thành một lực lượng, có cùng nhiệm vụ là giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học. Lao động của đội ngũ giảng viên là lao động trí óc, lao động khoa học, lao động đặc thù nhằm tạo ra sản phẩm đặc biệt là con người đã được giáo dục và đào tạo.

Xem thêm >>>  Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường

2. Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên

2.1. Vai trò của đội ngũ giảng viên

Bác Hồ đã nói về vai trò của nhà giáo: “Không có thầy thì không có giáo dục, không có cán bộ và không nói gì đến kinh tế – văn hóa”.

Đảng ta đã khẳng định: “Người giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân vật trung tâm trong nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho đất nước.” [30, tr.58].

Trong bối cảnh giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, TS. RaJa Roy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng của Ấn Độ – Chuyên gia giáo dục nhiều năm ở UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có lời bình khá ấn tượng: “giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục và đặc biệt trong việc định hướng lại giáo dục.” [23, tr.270]

Người dạy là người đào tạo con người mới, đào tạo nhân lực cho đất nước; là lực lượng chủ đạo trong sự nghiệp phát triển văn hóa – giáo dục.

Đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt, là nguồn vốn tri thức – một nguồn tài sản có giá trị nhất của nhà trường. Đội ngũ này là lực lượng chủ yếu quyết định chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường; là nhân tố quan trọng khẳng định mô hình, sự tồn tại và phát triển của hệ thống các trường hiện nay

Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục, trước các biến đổi to lớn, không ngừng trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội; vai trò của người giáo viên nói chung lại càng thêm quan trọng. Tác động giáo dục của đội ngũ giảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển nhân cách của người học, vừa sâu sắc, vừa toàn diện vừa định hướng lâu dài.

Như vậy, có thể nói đội ngũ nhà giáo có vai trò đặc biệt quan trọng trong nhiệm vụ “trồng người”, đào tạo thế hệ con người mới cho đất nước. Trong thời đại ngày nay, cho dù các phương tiện kỹ thuật có hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế được vai trò của người giáo viên. Nhà giáo lúc nào cũng đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học – giáo dục.

2.2. Chức năng của đội ngũ giảng viên

Chức năng cơ bản của giảng viên là dạy học và giáo dục sinh viên. Trong giảng dạy, giảng viên không những truyền đạt thông tin, kiến thức cho học sinh, sinh viên, mà còn hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh, sinh viên. Mặt khác, giảng viên còn tổ chức cho học sinh, sinh viên các hoạt động giáo dục, tạo điều kiện để họ có thể hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết cho việc lao động và sinh hoạt trong một xã hội không ngừng phát triển. Ngoài ra, giảng viên còn nghiên cứu khoa học và tham gia nhiều hoạt động xã hội khác phục vụ cho việc giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên.

2.3. Nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên

Giảng viên trường CĐCĐ thực hiện nhiệm vụ của nhà giáo, quy định tại điều 72, Luật Giáo dục – 2005:

Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;

Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường;

Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;

Không ngừng học tập và nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;

Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, theo khoản 2, điều 26, Điều lệ trường Cao đẳng cũng quy định rõ nhiệm vụ của giảng viên:

Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ trường Cao đẳng và Quy chế tổ chức và hoạt động của trường;

Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;

Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học;

Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;

Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người học, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức tác phong, lối sống;

Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;

3. Yêu cầu về phẩm chất và năng lực đối với giảng viên

3.1. Yêu cầu về phẩm chất

Không có lĩnh vực nào mà phẩm chất của người cán bộ lại ảnh hưởng sâu sắc tới quần chúng nhân dân như người giáo viên đối với học sinh. Giảng viên hay nhà giáo nói chung, yêu cầu về phẩm chất được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau:

Có niềm tin cách mạng;

Có lý tưởng nghề nghiệp;

Có niềm tin sư phạm;

Có lòng yêu nghề;

Có tình cảm trong sáng và cao thượng;

Ngoài ra, nhà giáo còn phải có lòng nhân đạo, thái độ công bằng, thái độ chính trực, giản dị, khiêm tốn, biết tự kiềm chế, kiên trì, tự tin,…

3.2. Yêu cầu về năng lực sư phạm

Năng lực sư phạm của nhà giáo trước hết là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục đạt kết quả với chất lượng cao; là tổ hợp hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thể hiện năng lực sư phạm; khả năng lĩnh hội và vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó trong những trường hợp cụ thể, kể cả những xu hướng nghề nghiệp sư phạm tích cực, bao gồm:

Khả năng định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, vận động, cổ vũ cho người học và quá trình học tập, rèn luyện của người học;

Khả năng truyền đạt, sử dụng ngôn ngữ, quan sát, phán đoán, đánh giá,…

Khả năng giao tiếp, kiềm chế, tự chủ, khéo xử sự sư phạm, ám thị,…

Yêu nghề, có hứng thú giảng dạy và giáo dục cho học sinh; tích cực cải tiến, đổi mới hoạt động dạy học.

Năng lực sư phạm là bộ phận không thể thiếu được trong cấu trúc nhân cách của nhà sư phạm, được biểu hiện ở năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực tự hoàn thiện. Năng lực sư phạm là tổng hợp những đặc điểm tâm lý của cá nhân, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công trong việc nắm vững các hoạt động ấy. Năng lực sư phạm tựa như là “hình chiếu của hoạt động sư phạm ở nhân cách”.

4. Tài liệu tham khảo

  1. Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD & ĐT, Hà Nội.
  2. BCH Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XIII nhiệm kỳ 2006 – 2010, Cà Mau.
  3. Bộ GD&ĐT (2000), Quy chế tạm thời Trường Cao đẳng Cộng đồng (ban hành theo Quyết định số 37/2000/QĐ-BGDĐT ngày 29/8/2000 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT), Hà Nội.
  4. Bộ GD&ĐT (2003), Điều lệ trường Cao đẳng, (ban hành theo Quyết định số 56/2003/QĐ/BGDĐT ngày 10/12/2003 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Hà Nội.
  5. Bộ GD&ĐT – Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI – Kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  6. Bộ GD&ĐT (2007), Quyết định số 66/2007/QĐ – BGDĐT, Ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục ở Trường Cao Đẳng, Hà Nội.
  7. Bộ GD&ĐT (2009), Điều lệ trường Cao đẳng, (ban hành theo Thông tư số 14/2009/QĐ/BGDĐT ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT), Hà Nội.
  8. Trần Văn Cần (2006), Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng sư phạm Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Đại học Huế.
  9. GS.TS Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), TS.Đỗ Thị Bích Loan, PGS. TS Vũ Trọng Rỹ (2007), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Hà Nội.
  10. Chính phủ (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  11. Chính phủ (2005), Quyết định số 09/2005/QĐ – TTg ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quả n lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010, Hà Nội.
  12. Chính phủ, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 Về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, Hà Nội.
  13. Cục Thống kê Cà Mau (2007), Niên giám thống kê năm 2007, Cà Mau.
  14. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
  15. Trần Kim Dung (1998), Quản trị nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  16. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (2006), Kỷ yếu hội thảo Đảm bảo chất lượng trong đổi mới giáo dục đại học, Nxb Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
  17. Nguyễn Bình Đẳng (2007), Thực trạng Trung tâm GDTX tỉnh Cà Mau và những giải pháp nâng cấp trung tâm này thành Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.
  18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ II BCH TW khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  20. Đảng CSVN (2008), Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  21. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2001), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  22. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
  23. Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, Quản lý giáo dục, Nxb Đại học sư phạm.
  24. Học viện Quản lý giáo dục – Bộ GD&ĐT (2008), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, công chức, nhà giáo ngành GD&ĐT – Phần 3, Hà Nội.
  25. Hà Sĩ Hồ (1985), Những bài giảng về quản lí trường học, tập II (Những vấn đề chung về QLGD), Nxb Giáo dục Hà Nội.
  26. Trần Thị Hương (2007), Giáo trình Xu thế phát triển giáo dục, Khoa Tâm lý giáo dục, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.
  27. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  28. Trần Kiểm (2006), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  29. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Văn Hòa (1997), Quản trị nhân sự, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  30. TS. Hồ Văn Liên (2005), Bài giảng Quản lý Giáo dục và trường học, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.

Bình luận

avatar
1 Comment threads
0 Thread replies
Most reacted comment
Hottest comment thread
1 Comment authors
Minh Anh Recent comment authors
  Subscribe  
Tin mới nhất Tin cũ nhất Bình chọn nhiều nhất
Notify of
Minh Anh
Guest
Minh Anh

Em đang làm luận văn về đề tài ” Quản lý đội ngũ giảng viên ở các trường đại hoc” . Cho e xin ít tài liệu hoặc luận văn mẫu để tham khảo với ạ

Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo