Một số lý luận cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

4.8 (95%) 4 votes

Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý bằng các biện pháp hiệu quả nhất nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn.

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Làm Luận Văn Cao Học Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Một số lý luận cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Một số lý luận cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

1. Một số khái niệm cơ bản

1.1. Đạo đức

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức:

Đạo đức là một phạm trù lịch sử có tính giai cấp thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc, có cơ sở tồn tại xã hội.

Theo tác giả Trần Hậu Kiêm:“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời,tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích , hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [23].

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin:“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội ,có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội”[13].

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là sự thống nhất trong tư tưởng và phong cách.Người có đạo đức là người biết kính yêu nhân dân, khiêm tốn, thật thà , thẳng thắn, có thái độ cầu thị, làm việc chí công vô tư, không kiêu ngạo, không giấu dốt. Ở người, đạo đức đóng vai trò như lẽ sống thấm sâu vào tư tưởng và chỉ đạo hành động, lối sống [4].

Theo hai tác giả Hà Thế Ngữ- Đặng Vũ Hoạt thì đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt hoạt động xã hội của con người và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng xã hội hết sức quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức nảy sinh từ nhu cầu của xã hội điều hoà và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung (của tập thể ,của xã hội) và lợi ích riêng (của cá nhân) nhằm bảo đảm trật tự xã hội và khả năng phát triển xã hội và cá nhân. Để giải quyết các mâu thuẫn đó, một trong những phương thức của xã hội là đề ra các yêu cầu dưới dạng những chuẩn mực giá trị, được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận , lương tâm…[29].

Từ những quan niệm trên ,chúng ta có thể hiểu khái quát khái niệm đạo đức ở hai góc độ:

-Góc độ xã hội: Đạo đức là những hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu,chuẩn mực, qui tắc điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động và con người với chính bản thân mình.

-Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí , hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa bản thân với người khác và với chính bản thân mình.

Quá trình hình thành và phát triển đạo đức của con người là quá trình tác động qua lại giữa xã hội và cá nhân để chuyển hoá những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực,giá trị đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức , công dân và đáp ứng yêu cầu xã hội.

Đạo đức có các chức năng cơ bản là:

-Chức năng nhận thức;

-Chức năng giáo dục;

-Chức năng điều chỉnh hành vi.

Ba chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau: có nhận thức đúng về xã hội, về những quan điểm , những hành vi, những chuẩn mực đạo đức thì mới giúp con người định hướng được lý tưởng, tình cảm, thái độ ứng xử với cộng đồng và môi trường, mới hình thành được những quan điểm, những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản được xã hội chấp nhận, mới thấy được giá trị của nó.Từ đó, con người mới có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân mình để điều chỉnh hành vi của mình theo đúng chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Như vậy, đạo đức tồn tại trong mọi dạng ý thức, hoạt động và giao lưu ,trong toàn bộ hoạt động sống của con người trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của họ, dù diễn ra trong hoàn cảnh và điều kiện nào, mọi hình thái ý thức hoạt động và giao lưu nếu được ý thức đầy đủ và định hướng rõ rệt về tính chất và nội dung của quan hệ đạo đức đều có khả năng ảnh hưởng đến sự hình thành mặt đạo đức của nhân cách.

Chính vì vậy, trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực hiện nay, với nền kinh tế mở cửa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, đạo đức cũng có những thay đổi nhất định về tư duy nhận thức, về quan niệm và cách nhìn của từng thành viên trong xã hội. Nhiều người đã có những quan niệm lệch lạc, không biết chọn lọc những giá trị tốt đẹp của những chuẩn mực đạo đức xã hội mà học đòi , lai căng. Do vậy, định hướng giá trị đạo đức hiện nay phải theo đúng đường lối lãnh đạo của Đảng là sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc với sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới.

Xem thêm >>> Một số lý luận trong công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường học

1.2. Giáo dục

Con người từ khi xuất hiện, qua quá trình lao động, cải tạo tự nhiên đã phát hiện và nhận thức được các qui luật phát sinh, tồn tại và phát triển của thế giới khách quan và cũng qua quá trình này con người đã tích luỹ được kinh nghiệm sống, lao động và những hiểu biết của quá trình phát triển của xã hội.Những tri thức và kinh nghiệm của thế hệ đi trước tích luỹ được thế hệ sau lĩnh hội, kế thừa có chọn lọc và phát triển. Đây là hiện tượng đặc thù chỉ xuất hiện ở xã hội loài người- hiện tượng giáo dục. Hiện tượng này xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là hiện tượng tất yếu và vĩnh hằng.

Giáo dục có đặc trưng là tổ chức định hướng theo những mục đích và chuẩn mực nhất định, được lựa chọn nội dung, phương pháp , hình thức tổ chức và diễn ra mang dấu ấn của từng thời kỳ lịch sử nhất định trong quá trình phát triển của từng xã hội.Vậy giáo dục là hoạt động có mục đích được tổ chức có kế hoạch, được lựa chọn về nội dung, phương pháp thực hiện có hệ thống nhằm tác động đến đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, giáo dục tồn tại và vận động, phát triển theo sự tồn tại ,vận động và phát triển của xã hội. Giáo dục là một hiện tượng xã hội chịu sự chi phối và quy định bởi nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục và sự hoàn thiện về chất lượng giáo dục là yếu tố then chốt tạo ra sự phát triển của xã hội, của nền văn minh nhân loại.

Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm của xã hội loài người .

Theo nghĩa hẹp:giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất,quan điểm,niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất , thẩm mỹ, lao động. [22]

Trong luận văn này , giáo dục được hiểu như một quá trình sư phạm tổng thể: là hoạt động có kế hoạch, có nội dung, bằng các phương pháp khoa học trong các cơ sở giáo dục tác động đến học sinh nhằm phát triển đức, trí, thể, mỹ…cho học sinh.

*Các chức năng của giáo dục:

– Chức năng văn hoá tư tưởng

– Chức năng kinh tế- sản xuất

– Chức năng chính trị- xã hội.

*Các con đường giáo dục:

– Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá trên lớp.

-Giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

1.3. Giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một quá trình giáo dục bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể. Nó có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ phận khác như : giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp…

Giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức của nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích được tổ chức có kế hoạch , có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục.Từ đó, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng – xã hội, với lao động, với tự nhiên…Nội dung phẩm chất đạo đức, tư tưởng của con người bao gồm lập trường chính trị, thế giới quan và phẩm chất đạo đức. Do đó giáo dục đạo đức mà ta nói đến bao gồm giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan , giáo dục tư tưởng chính trị và giáo dục các phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người mới cho học sinh. Như vậy, giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị , tư tưởng và giáo dục pháp luật. Đó một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng khắp về không gian, từ mọi lực lượng xã hội; trong đó, nhà trường giữ vai trò rất quan trọng.

Tham khảo thêm >>> Nội dung về cơ sở lý luận trong quản lý đội ngũ giảng viên

Bản chất của giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh chuyển những chuẩn mực, qui tắc, nguyên tắc đạo đức… từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái của riêng mình, mà mục tiêu cuối cùng là hành vi đạo đức phù hợp với những yêu cầu của các chuẩn mực xã hội. Giáo dục đạo đức không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những khái niệm, những tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn hết là kết quả giáo dục phải được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh.

Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục truyền thống tốt đẹp của ông cha ta, giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc và sự kế thừa, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại; giúp cho học sinh thấy được và biết giữ gìn những thành quả Cách mạng. Vì thế, giáo dục đạo đức trong nhà trường chỉ có được kết quả khi nhà giáo dục biết tổ chức phù hợp,hình thức đa dạng, phong phú , khơi dậy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và tự giáo dục của người học. Người học biết chuyển hoá những cái tốt đẹp đó thành phẩm chất nhân cách của mình, phục vụ cho cuộc sống xã hội.

Như vậy, giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội.[22]

1.4. Quản lý

Thuật ngữ “ Quản lý “ ( tiếng Việt gốc Hán ) lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau. Quá trình “ Quản “ gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ ổn định “; quá trình “ lý “ gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “ phát triển ”.[39]

Quản lý là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:

-Theo góc độ chính trị -xã hội: quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.

-Theo góc độ hành động: quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.

Theo C. Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý .C. Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [42]

Từ những cơ sở lý luận trên, ta có thể đi đến định nghĩa như sau:

“Quản lý là tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với qui luật khách quan”. [42]

Với định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

-Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý ,các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý. Tác động có thể liên tục nhiều lần.

-Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý. Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng.

-Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động. Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.

-Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật.

Quản lý còn có tác dụng định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu chung đó.Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý đã xác định. Tạo ra động lực cho hoạt động bằng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng, trách phạt, tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.

1.5. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận thuộc quản lý nhà nước, chịu sự chi phối bởi mục tiêu quản lý nhà nước. Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, nhằm tạo điều kiện cho mọi người được học tập. Quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [18].

“Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, giáo dục thể chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường trung học phổ thông xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [ 19 ].

 

Qua các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng về cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục.

Hệ thống giáo dục là hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế – xã hội và chịu sự quy định của kinh tế – xã hội. Vì vậy quản lý giáo dục cũng phải luôn được đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung của xã hội.

1.6. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm giúp hoạt động giáo dục đạo đức đạt được kết quả mong muốn, làm cho tất cả mọi người trong xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác giáo dục đạo đức trong xã hội.Đạo đức là thành tố quan trọng nhất của nhân cách, là nền tảng để xây dựng thế giới tâm hồn của mỗi con người. Chính vì vậy, hình thành trong họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, có những thói quen, hành vi đạo đức đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội là trách nhiệm của nhà quản lý.

Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành và phát triển ý thức, tình cảm , niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh dưới những tác động có mục đích, có kế hoạch được lực chọn về nội dung phương pháp, phương tiện phù hợp với đối tượng giáo dục và sự phát triển kinh tế xã hội nhất định. Giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT là một quá trình giáo dục bộ phận trong tổng thể cả quá trình giáo dục có quan hệ biện chứng với các bộ phận giáo dục khác như:giáo dục trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp , giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện. Quá trình giáo dục đạo đức giống như các quá trình giáo dục khác là có sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục.

Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý bằng các biện pháp hiệu quả nhất nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn.

 

2. Tài liệu tham khảo

 

  1. Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức- sư phạm và kinh tế-xã hội.
  2. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai – Vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  3. Đặng Quốc Bảo (đồng tác giả) (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4. Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương (2007), Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
  5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đạo đức học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Chỉ thị Số 2516/CT-BGDĐT, về việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh” trong ngành giáo dục và đào tạo.
  8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Cẩm nang giáo dục đạo đức , lối sống và phòng chống bạo lực trong nhà trường, NXB Văn hóa thông tin.
  10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Điều lệ Trường trung học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  11. Phạm Khắc Chương (1991), J.A.Comenxki- Nhà sư phạm lỗi lạc, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  12. Phạm Khắc Chương (2001), Đạo Đức Học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  13. Phạm Khắc Chương- Nguyễn Thị Yến Phương (2007), Đạo đức học, NXB Đại học sư phạm.
  14. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  15. Giáo trình Đạo đức học (2000), Học viện chính trị quốc gia, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  16. Phạm Minh Hạc (2001), Phát triển con người toàn diện thời kỳ công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  17. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  18. Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  19. Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, NXB đại học sư phạm.
  20. Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức (1995), Giáo dục học đại cương II, Hà Nội.
  21. Lê Văn Hồng (đồng tác giả)(1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
  22. Nguyễn Thị Bích Hồng, Võ Văn Nam (2004), Giáo dục học đại cương, TPHCM.
  23. Trần Hậu Kiêm (1997), Đạo đức học, NXB Hà Nội
  24. Jan Amos Komensky (1991), Thiên đường Trái Tim, NXB Ngoại văn.
  25. Nguyễn Ngọc Long (2000), Giáo trình đạo đức học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  26. Phan Thanh Long (chủ biên),Trần Quang Cấn, Nguyễn Văn Diện (2006), Lý luận giáo dục, NXB Đại học sư phạm.
  27. Đặng Ngọc Lợi (chủ biên) (2003),Giáo trình khoa học quản lý ( hệ cao cấp lý luận), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  28. Luật giáo dục (2005), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  29. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987),Giáo dục học tập 1,2, NXB giáo dục.
  30. Hà Thế Ngữ (2001), Giáo dục học- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
  31. Ngô Đình Qua (2005), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm TP.HCM.
  32. Thái Văn Thành (2007), Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, NXB Đại học Huế.
  33. Hà Nhật Thăng (2007) Giáo trình đạo đức và giáo dục đạo đức, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.
  34. Minh Tiến- Đào Thanh Hải (2005), Hệ thống hóa những văn bản về chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam (đến 2020) NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội.
  35. Nguyễn Kiên Trường và nhóm dịch giả ( 2004), Phương pháp lãnh đạo và quản lý nhà trường hiệu quả (Biên soạn từ các nguồn tài liệu nước ngoài), NXB Chính trị quốc gia.
  36. Thái Duy Tuyên (2001), Giáo dục học hiện đại, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
  37. Thái Duy Tuyên (2007), Triết học Giáo dục Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  38. Từ điển Tiếng Việt (2000), NXB Đà Nẵng.
  39. Hồng Vinh – Đào Duy Quát (2006), Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, Hà Nội.
  40. Phạm Viết Vượng (2000), Giáo dục học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
  41. Phạm Viết Vượng (chủ biên) (2007), Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành GD&ĐT, NXB Đại học sư phạm.
  42. Lê Văn Yên (Chủ biên) (2006),Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục NXB Lao động, Hà Nội.

 

Bình luận

avatar
2 Comment threads
0 Thread replies
Most reacted comment
Hottest comment thread
2 Comment authors
Trần Phúc KhangViệt Anh Recent comment authors
  Subscribe  
Tin mới nhất Tin cũ nhất Bình chọn nhiều nhất
Notify of
Việt Anh
Guest
Việt Anh

Em đang làm luận văn về đề tài ” Quả lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh” . Cho e xin ít tài liệu hoặc luận văn mẫu để tham khảo với ạ

Trần Phúc Khang
Guest
Trần Phúc Khang

Mình đang làm luận văn về đề tài ” Phân tích nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông” . Bên bạn có đề tài nào nói về vấn đề tương tự không cho mình xin tham khảo với nhé. Thanks

Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo