Một số lý luận về vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai

5 (100%) 1 vote

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia. Vì thế việc quản lý và sử dụng đất đai một cách hợp lý và có hiệu quả, tiết kiệm là mục tiêu cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Trong bài viết này, Tri Thức Cộng Đồng xin chia sẻ với bạn về vai trò của quản lý nhà nước đối với đất đai.

Một số lý luận về vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai
Một số lý luận về vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai

Mục lục

1. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với đất đai

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nhưng lại đóng vai trò quan trọng cho tồn tại và phát triển của loài người, lại là nguồn lực khan hiếm không thể tạo ra được. Vì vậy nó trở nên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện cho sự sống của động, thực vật và con người trên trái đất.

Đất đai tham gia mọi hoạt động kinh tế xã hội. Nó là địa điểm cho mọi hoạt động kinh tế xã hội, nó cung cấp mặt bằng cho một số ngành sản xuất vật chất như xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng ….Không những thế đất đai kết hợp với một số điều kiện tự nhiên để hình thành các vùng kinh tế của đất nước nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đó, tạo lợi thế các vùng kinh tế.

Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội nhưng ở những vị trí khác nhau. Với ngành nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, công cụ lao động. Với ngành công nghiệp, đất đai là địa điểm không thể thiếu được và cũng không gì thay thế được. Với ngành vật liệu xây dựng, đất đai là nguyên liệu đầu vào rất quan trọng …

Đất đai còn là một trong những bộ phận lãnh thổ quốc gia, như vậy với mỗi quốc gia đều có lãnh thổ riêng, nên đất đai đều bị giới hạn bởi ranh giới giữa các quốc gia.

Từ sự quan trọng của đất đai đối với đời sống kinh tế xã hội, ta cần phải quản lý đất đai, phải có biện pháp để sử dụng đất đai một cách có hiệu quả nhất, hợp lý nhất tránh tình trạng để lãng phí tài nguyên, tránh sử dụng bừa bãi đất đai gây nên những hậu quả khó lường: như cạn kiệt tài nguyên, sử dụng không có hiệu quả, bỏ hoang hoá đất đai ….

Luật Đất đai năm 1993 của nước ta quy định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng”1;

Ta thấy rằng đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, có vai trò quyết định đến sự tồn vong của xã hội loài người nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế – xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động sản xuất nào, cũng như không thể nào có sự tồn tại cho loài người. Đất đai cũng là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, điều kiện cho sự sống của động thực vật và con người trên trái đất.

Do đất đai có vai trò quan trọng như thế nên quốc gia nào cũng cần phải tổ chức cho hợp lý hệ thống quản lý đất đai của nước mình nhằm mục đích phát triển kinh tế.

Trong hệ thống quản lý thì người ta luôn phải giải quyết tốt mối liên hệ giữa ba yếu tố: con người, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tổ chức bộ máy. ở đây trong hệ thống quản lý đất đai thì mối liên hệ giữa ba yếu tố này lại càng quan trọng hơn. Trong một hệ thống thì yếu tố con người bao giờ cũng quan trọng nhất, vì con người chính là đối tượng làm ra văn bản, mà cũng là đối tượng tổ chức hệ thống tổ chức bộ máy. Trong hệ thống quản lý đất đai thì cần phải có những con người có đầy đủ năng lực và phẩm chất để làm ra các văn bản phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, của đất nước, phù hợp với xu thế của thời đại, có như thế thì mới đảm bảo được sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị – kinh tế – xã hội đất nước. Vì đất đai có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như sự tồn vong của một quốc gia.

– Luật đất đai – năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhân tố con người chính là nhân tố làm ra hệ thống chính sách và cũng là nhân tố thực thi các chính sách đó để điều hành bộ máy hoạt động một cách nhịp nhàng và có hiệu quả. Nếu chính sách đề ra là phù hợp với thực tế mà nhân tố con người thực thi chính sách không có đủ trình độ hay không có đủ phẩm chất thì sẽ dẫn đến tình trạng bộ máy vận hành không có hiệu quả.

Tổ chức bộ máy của một hệ thống quản lý, thì cần phải dựa trên cơ sở của nhân tố con người và hệ thống chính sách mà tổ chức cơ cấu của tổ chức bộ máy sao cho có hiệu quả. Tổ chức bộ máy phải tuân thủ các quy định của chính sách nhưng phải phù hợp với yếu tố con người sẵn có trong hệ thống quản lý. Tuỳ vào khả năng của từng cá nhân mà phân công nhiệm vụ một cách hợp lý đối với từng bộ phận của bộ máy. Để hệ thống hoạt động nhịp nhàng thì ngoài nhân tố con người và hệ thống chính sách tốt thì cần phải tổ chức bộ máy cũng phải tốt, đó chính là sự bố trí hợp lý từng cá nhân của bộ máy vào từng nhiệm vụ và vị trí.

Việc hình thành được tổ chức bộ máy trong hệ thống quản lý đất đai được tốt thì sẽ có vai trò quan trọng trong việc vận hành hệ thống quản lý đất đai một cách hợp lý. Một khi bộ máy quản lý đất đai vận hành một cách nhịp nhàng thì nó sẽ tạo ra một kết quả rất lớn trong việc quản lý đất đai. Tuy nhiên đối với thể chế chính trị của mỗi nước thì lại có một hệ thống quản lý đất đai riêng phù hợp với trình độ dân trí và điều kiện địa lý của nước đó. Trong mỗi hệ thống thì các yếu tố cơ bản để cấu thành hệ thống là giống nhau nhưng sự khác nhau của mỗi hệ thống chính là chính sách của mỗi nước, dẫn đến tổ chức bộ máy khác nhau.

Xem thêm >>> Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo công giáo

2. Quản lý Nhà nước đối với đất đai

2.1. Mục tiêu quản lý Nhà nước đối với đất đai

– Khái niệm quản lý đất đai: là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân phối và phân phối lại theo quy hoạch, kế hoạch, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai.

Đất đai là nhu cầu thiết yếu của loài người, là những yếu tố quan trọng bậc nhất cấu thành bất động sản. Trong những năm chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thì những yếu tố thị trường trong đó có thị trường bất động sản đang trong quá trình hình thành và phát triển. Đó chính là các hoạt động kinh doanh, buôn bán đất đai nhà cửa đang diễn ra một cách rất sôi động.

Thực tế thị trường bất động sản đã có và hoạt động rất mạnh, nhưng chưa có thể chế rõ ràng, phát triển còn chậm chạp, tự phát thiếu định hướng. Cùng theo đó là thị trường hàng hoá, dịch vụ phát triển nhanh nhưng cũng thiếu định hướng và còn mang tính tự phát. Thị trường sức lao động cũng phát triển chậm chạp, thiếu quản lý và chưa có định hướng rõ ràng cho nó. Thị trường vốn công nghệ, thông tin còn yếu kém trong khi đó việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và trong cuộc sống còn rất yếu .

Vì vậy vai trò của nhà nước là quản lý các thị trường để bổ sung những lỗ hổng của thị trường và thúc đẩy sự hình thành đồng bộ các loại thị trường tạo sự vận động nền kinh tế đa dạng. Đồng thời quản lý nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường là cần thiết nhằm ngăn ngừa, hạn chế những mặt trái, các mặt tiêu cực của nền kinh tế, của thị trường và để sử dụng các tiềm năng có hiệu quả.

Đất đai cũng không nằm ngoài sự quản lý của nhà nước. Với nhu cầu khách quan của việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất – một tài nguyên có hạn và không sản xuất được – đã thúc đẩy nhà nước phải ngày càng tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu đời sống của nhân dân. Nhưng để quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên quý hiếm này, từ năm 1993 Luật Đất đai thông qua đã đánh dấu một bước ngoặt đáng kể trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Thông qua đó nhà nước đưa ra và thừa nhận các quyền của con người về đất đai: như quyền sử dụng đất đai, quyền thừa kế, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, cầm cố, góp vốn vào liên doanh …

Nhà nước đưa ra những quy định thị trường mua bán bất động sản để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia thị trường một cách chính đáng. Nhà nước cũng hỗ trợ các hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường bất động sản, bằng cách tạo điều kiện thuận lợi thông qua các công cụ của mình, chính sách của mình. Đồng thời dựa vào các quy định pháp luật đất đai, Nhà nước thanh tra, xử lý các vụ tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo về các vấn đề nảy sinh trong quan hệ đất đai .

– Quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề sở hữu và sở hữu đất đai

Trong đường lối chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta xác định mục tiêu đưa nước ta tiến lên CNXH và CNCS. Cương lĩnh xây dựng đất nước cũng khẳng định nước ta hiện đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Vì vậy, trong thời kỳ này, Đảng ta đã xác định xây dựng nền KTTT theo định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, phát huy các lợi thế để phát triển kinh tế đất nước. Trung thành với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vấn đề ruộng đất, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở thực tiễn của cách mạng Việt Nam, đã gắn kết cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN. Đảng đã đề ra các chính sách về đất đai trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể, nhằm đạt mục tiêu lớn nhất của cuộc cách mạng xã hội do Đảng ta lãnh đạo là gắn liền độc lập dân tộc với CNXH. Vì vậy, chính sách đất đai của Nhà nước ta cũng đã trãi qua nhiều hình thức sở hữu cơ bản: hình thức sở hữu tư nhân về đất đai trong giai đoạn trước năm 1960; sở hữu nhiều thành phần về đất đai giai đoạn 1960-1980; sở hữu toàn dân về đất đai giai đoạn 1980 đến nay.

Xuất phát từ mục tiêu đấu tranh của cách mạng Việt Nam và tính giai cấp của Đảng lãnh đạo, vấn đề sở hữu ruộng đất cũng là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong chỉ đạo thực tiễn cách mạng của Đảng. Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng đã nhìn thấy được vai trò của đất đai là TLSX đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp. Trong Cương lĩnh chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định “Tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Khi cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, Chính phủ đã ký hàng loạt các sắc lệnh về giảm tô, thu và chia cấp đất của địa chủ phong kiến tư bản thực dân cho nông dân: Chính phủ đã ban hành Luật cải cách ruộng đất năm 1953, mà thành quả là từ năm 1953 – 1957 chỉ riêng ở miền Bắc đã có 810.000 ha ruộng đất được chia cho nông dân và Nhà nước đã cấp GCN quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân, chế độ SHTN về đất đai đã được xác lập ở nước ta. Đến năm 1960, khi bắt đầu tiến hành “Đẩy mạnh cuộc cách mạng XHCN, trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân”, tuyệt đại đa số đất đai nông nghiệp chuyển dần sang chế độ công hữu với hai hình thức chủ yếu là SHTT và sở hữu quốc doanh – Chế độ SHTN về đất đai đã cơ bản bị xoá bỏ ở miền Bắc. Ở miền Nam, sau chiến thắng mùa xuân năm 1975 cả nước thống nhất, tháng 12 năm 1976, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV quyết định đường lối xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước. Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp được đẩy mạnh, chế độ SHTN về đất đai ở miền Nam về cơ bản đã bị xoá bỏ từ sau Nghị quyết TW 24 khoá III tháng 9 năm 1975.

Đến năm 1980, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã qui định rõ: “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình để tổ chức sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối…”; “nghiêm cấm mua bán, cho thuê đất đai dưới mọi hình thức”. Tuy nhiên do yêu cầu của việc phát triển sản xuất, ổn định đời sống, Nhà nước đã có những giải pháp mở rộng quyền của NSDĐ dưới chế độ sở hữu đất đai toàn dân, khi mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung như HTX nông nghiệp bậc cao hay nông trường tỏ ra không có hiệu quả.

Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1993, quy định cụ thể, QSDĐ tức là quyền của con người được khai thác đất để phục vụ cho lợi ích của NSDĐ bằng sức lao động (đất là đối tượng của lao động), đã được mở rộng hơn bằng hình thức chuyển một số quyền năng của chủ sở hữu cho người sử dụng. Đó là quyền được định đoạt một phần và cũng là quyền được hưởng lợi ích kinh tế (cũng chỉ là một phần không xác định) của chủ sở hữu (quan hệ đất đai không chỉ là quan hệ giữa người lao động với đối tượng của lao động – với tính chất là TLSX). Tuy nhiên NSDĐ phải sử dụng đúng mục đích được giao, trong thời hạn được giao. Sau Luật Đất đai năm 1993, Nhà nước đã hai lần tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật vào các năm 1998 và năm 2001. Cả hai lần sửa đổi này đều có xu hướng mở rộng quyền của NSDĐ, đồng thời ban hành các quy định cụ thể để tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước thống nhất quản lý đất đai trong cả nước.

Do yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, cùng với quá trình mở rộng các quan hệ hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, trong xu thế toàn cầu hoá. Luật Đất đai năm 1993 cũng đã bộc lộ một số hạn chế cơ bản mà trong đó chủ yếu là chưa làm rõ được chủ thể của sở hữu toàn dân về đất đai là ai? Quyền lợi kinh tế của sở hữu toàn dân đối với đất đai? chưa được xác định; chưa khai thác được tiềm năng to lớn của đất đai và không tạo được điều kiện để người sản xuất tăng sức sản xuất (kìm hãm LLSX phát triển). Vì vậy, Nghị quyết TW VII khoá IX ngày 12/3/2003 đã đề ra chủ trương: “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước”. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng, Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đã quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Như vậy, bằng quy định của pháp luật, QLNN đối với đất đai còn nhằm mục tiêu bảo vệ và thực hiện quyền lợi về kinh tế của chủ sở hữu, cùng với chức năng Nhà nước là tổ chức quyền lực công đảm bảo cho quan hệ xã hội về đất đai được thực hiện theo đúng đối với, chính sách của Đảng cầm quyền.

– Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta

Giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và SDĐ chính là xử lý mối quan hệ kinh tế và pháp lý giữa Nhà nước với tư cách chủ thể đại diện sở hữu đất đai toàn dân và NSDĐ được Nhà nước giao. Đây là một nội dung cơ bản nhất của QLNN đối với đất đai ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Như nội dung phần trên đã trình bày, quyền sở hữu đất đai theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tập hợp các quyền năng, các quyền đó được thể chế hoá bằng Luật Đất đai năm 2003.

Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định “Quyền sở hữu đất đai” bao gồm:

– Quyền định đoạt đối với đất đai: đó là quyền xác định mục đích SDĐ (thông qua biện pháp xây dựng quy hoạch SDĐ), quyền được cho thuê đất, quyền được giao đất, quyền được thu hồi đất đã giao hoặc cho thuê, quyền quyết định về ban hành hệ thống văn bản pháp luật để quản lý đất đai, quyền quyết định về quy hoạch kế hoạch SDĐ, quyền được quyết định thay đổi mục đích SDĐ, quyền quyết định giá đất và quyền được hưởng các lợi ích kinh tế từ đất (thu tiền SDĐ, thu tiền cho thuê đất, thu tiền trước bạ đất, thu thuế SDĐ và thu thuế chuyển QSDĐ…..)

– Quyền sử dụng đất (Điều 5): (Là quyền năng quan trọng của chủ sở hữu).

Đó là quyền được khai thác, SDĐ để phục vụ cho các mục tiêu khác nhau như: SDĐ vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nuôi trồng thuỷ sản, khoanh định các khu bảo tồn thiên nhiên, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu khai thác khoáng sản dưới lòng đất… ở nước ta, Nhà nước đại diện sở hữu toàn dân về đất đai có thể tổ chức SDĐ hoặc trao QSDĐ cho NSDĐ (NSDĐ được quy định tại điều 9 Luật đất đai 2003). Nhà nước trao QSDĐ dưới dạng thu tiền SDĐ cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình (NSDĐ) theo thời gian giao đất có thời hạn hoặc ổn định lâu dài (hình thức giao đất hoặc cho thuê đất có thời hạn hoặc vô thời hạn), tuỳ theo đối tượng SDĐ và mục đích sử dụng của loại đất được giao hoặc cho thuê, Nhà nước công nhận QSDĐ, quy định quyền và nghĩa vụ của NSDĐ.

– Quyền hưởng lợi từ đất (Điều 5):

Là việc Nhà nước thực hiện quyền lợi về kinh tế từ đất thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: quy định NSDĐ được Nhà nước giao phải nộp tiền SDĐ đối với những loại đất nào? quy định về thu tiền thuê đất khi cho thuê đất; thu thuế SDĐ, thuế thu nhập từ chuyển QSDĐ, điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của NSDĐ mang lại.

– Quyền chiếm hữu đất đai: (chiếm hữu thể hiện quan hệ giữa con người với tự nhiên).

Chiếm hữu là quyền được giữ gìn, bảo vệ tài sản (đối với quan hệ đất đai đó là quyền được quản lý, bảo vệ để giữ cho mình một diện tích đất đai có ranh giới cụ thể mà người khác không có quyền xâm phạm). Theo nghĩa rộng đây chính là quyền bất khả xâm phạm của quốc gia đối với vùng lãnh thổ của mình. Mọi quốc gia trên thế giới đều có biên giới lãnh thổ gắn với quyền tự quyết của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ đó.

– Quyền quản lý đất đai: (Điều 6)

Bao gồm toàn bộ những quy định về việc sử dụng các biện pháp hành chính, tư pháp, khoa học và công nghệ, biện pháp kỹ thuật và các công cụ kinh tế để thực hiện các quyền của sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu, đồng thời là tổ chức quyền lực công cao nhất thực hiện quyền quản lý quốc gia.

Như vậy theo quy định tại điều 5 Luật Đất đai năm 2003 – QSDĐ chỉ là một trong những quyền năng của quyền sở hữu đất, QSDĐ chỉ là hành vi ứng xử của con người, với tư cách là hoạt động lao động tác động vào đất nhằm khai thác sử dụng các thuộc tính của đất, để mang lại lợi ích cho mình theo đúng mục đích SDĐ mà chủ sở hữu đã giao cho. Ví dụ SDĐ để làm nhà ở nếu diện tích đất được giao có mục đích sử dụng là đất ở; SDĐ để sản xuất nông nghiệp như trồng cây, làm trang trại, chăn nuôi… nếu mục đích SDĐ mà chủ sở hữu giao cho là đất nông nghiệp.

Những quyền mà “NSDĐ” (được hiểu theo ý nghĩa quy định tại mục 20 điều

– Luật đất đai năm 2003), được hưởng bao gồm:

Được cấp GCN QSDĐ.

Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất (đây chính là quyền lợi tự nhiên hoặc đương nhiên của NSDĐ).

Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ cải tạo đất nông nghiệp.

Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến QSDĐ hợp pháp của mình (đây chính là trách nhiệm của mọi nhà nước phải bảo vệ các quyền của công dân).

Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm QSDĐ hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Ngoài những quyền chung đã nêu ở trên, mà hầu hết các quốc gia dù được tổ chức dưới hình thái nhà nước như thế nào đều thực hiện, “NSDĐ” ở nước ta còn được hưởng một số quyền quy định tại điều 106 Luật Đất đai năm 2003 – đó là quyền được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ, quyền thế chấp bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Với những quy định này, Luật Đất đai năm 2003 vừa thể hiện được bản chất của Nhà nước dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đó là Nhà nước của dân do dân và vì dân. Đồng thời đã thể hiện rõ quan điểm đa dạng hoá về quan hệ sở hữu đất đai – một nội dung đổi mới quan trọng về quan hệ sở hữu đất đai trong giai đoạn hiện nay. Bởi vì về bản chất các quyền của NSDĐ được quy định tại điều 106 Luật Đất đai năm 2003 là các quyền năng cơ bản của quyền sở hữu đất đai. Tuy rằng các quyền đó của NSDĐ cũng chỉ là tương đối (quyền sở hữu hạn chế), vì theo quy định tại điều 107 Luật Đất đai năm 2003 về nghĩa vụ của NSDĐ, NSDĐ phải SDĐ theo đúng mục đích được giao, theo đúng quy hoạch SDĐ. Điều này cũng cản trở NSDĐ đầu tư có chiều sâu vào đất trong quá trình sản xuất kinh doanh, vì quyền thu hồi đất là quyền của Nhà nước khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng theo quy hoạch kế hoạch SDĐ (mà quy hoạch, kế hoạch SDĐ là do Nhà nước xác lập và có quyền điều chỉnh). Kể cả sau khi đã được cấp GCN QSDĐ, NSDĐ vẫn đứng trước nguy cơ bị thu hồi đất “theo quy hoạch SDĐ” vào bất kỳ lúc nào. Càng khó khăn hơn cho NSDĐ, khi luật quy định cấp có thẩm quyền lập và điều chỉnh quy hoạch cũng chính là cấp có quyền quyết định về giá đất và có quyền quyết định thu hồi đất.

Tóm lại: bằng những quy định cụ thể tại các điều khoản của Luật Đất đai năm 2003, chủ thể của sở hữu đất đai về mặt pháp lý là thuộc về toàn thể nhân dân mà đại diện của sở hữu là Nhà nước – Nhà nước thống nhất quản lý đất đai. Nội dung quy định này đã khắc phục tình trạng “sở hữu toàn dân” chung chung trước đây. Bằng những quy định cụ thể tại điều 106, về thực chất Nhà nước đã giao một phần quyền sở hữu đất đai về mặt pháp lý và về mặt kinh tế cho NSDĐ. Như thế Luật Đất đai năm 2003 đã mặc nhiên thừa nhận có nhiều loại hình sở hữu đối với đất đai, dù các quyền này bị giới hạn hay còn có thể coi đó là quyền sở hữu hạn chế (hoặc đồng sở hữu). Kể cả những quốc gia quy định SHTN về đất đai thì quyền sở hữu này cũng bị hạn chế. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền đất đai là hàng hóa và đất đai trong điều kiện nền kinh tế thị trường đã được tiền tệ hóa, các quyền của NSDĐ cũng cần được lượng hóa – Ví dụ phải xử lý quan hệ tiền tệ giữa các quyền này như thế nào khi người sử dụng đất đi thế chấp. Về mặt pháp lý bên bảo lãnh thế chấp (cho vay) đã giữ GCN, nhưng thực tế quyền sử dụng vẫn do người được giao đất nắm giữ. Vì thế, tăng cường vai trò QLNN về đất đai nhằm đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề đổi mới quan hệ sở hữu và SDĐ.

QLNN đối với đất đai là một nội dung quan trọng của QLNN về kinh tế, do vai trò và vị trí đặc biệt của đất đai với tính chất là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, TLSX không thể thay thế trong sản xuất nông lâm nghiệp, là mặt bằng để tổ chức sản xuất của nhiều ngành kinh tế…, đồng thời đất đai còn là hàng hoá đặc biệt có giá trị cao. QLNN đối với đất đai trong nền KTTT ở nước ta hiện nay chính là chức năng của Nhà nước thực hiện quyền đại diện sở hữu toàn dân, tham gia trực tiếp vào vận hành thị trường đất đai. Các hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai ở đô thị tập trung vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống dịch vụ đất đai đô thị, do đất đai là một loại hàng hoá BĐS có giá trị lớn nhất, thị trường QSDĐ là thị trường quan trọng nhất của thị trường BĐS.

Xét về mặt pháp lý, QLNN về đất đai được phân ra thành chủ thể quản lý và khách thể quản lý, đối tượng quản lý.

Chủ thể quản lý là Nhà nước, đại diện sở hữu toàn dân về đất đai trực tiếp tham gia vận hành thị trường; thực hiện chức năng quản lý như mọi nhà nước khác, thông qua hoạt động của bộ máy các cơ quan nhà nước.

Khách thể quản lý là các tổ chức (bao gồm các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức phi chính trị, tổ chức tôn giáo, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế được Nhà nước cho phép hoạt động, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài được phép hoạt động kinh doanh tại Việt Nam), hộ gia đình, cá nhân và các hành vi của họ trong qúa trình SDĐ.

Đối tượng quản lý là toàn bộ tài nguyên đất đai thuộc lãnh thổ (bao gồm đất liền, mặt nước, lãnh hải, không phận, tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất, môi trường thiên nhiên…) của quốc gia.

Sự tác động của chủ thể quản lý (được lập ra theo yếu tố chủ quan của con người do tác động của mục tiêu quản lý của Nhà nước) lên đối tượng quản lý là yếu tố khách quan, nó tồn tại và phát triển theo qui luật của nó, (tuy nhiên nó luôn chịu tác động của chủ thể quản lý). Khách thể quản lý (luật gọi chung bằng thuật ngữ là người hoặc đối tượng) SDĐ thông qua môi trường quản lý (là tổng thể các thể chế quy định về các mối quan hệ đất đai theo quy định của pháp luật). Môi trường quản lý chịu ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng của xã hội, chế độ chính trị và mục tiêu phát triển xã hội của giai cấp thống trị xã hội.

Sự tác động là quá trình hoạt động mang tính quyền lực của Nhà nước, của chủ thể quản lý và khách thể quản lý lên đối tượng quản lý là đất đai. Nó được thực hiện qua chức năng quản lý và bằng các công cụ quản lý, theo những nguyên tắc và bằng những phương pháp nhất định, tuỳ thuộc vào từng thời điểm cụ thể do hoàn cảnh kinh tế chính trị xã hội qui định.

Như vậy, có thể xác định khái niệm quản lý nhà nước đối với đất đai ở nước ta như sau: QLNN đối với đất đai là sự tác động liên tục, có định hướng mục tiêu của bộ máy nhà nước lên đối tượng SDĐ, nhằm thực hiện mục tiêu chung đề ra trong những điều kiện và môi trường kinh tế nhất định, trên nguyên tắc cao nhất Nhà nước là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai trực tiếp tham gia vận hành thị trường, để thực hiện quyền về kinh tế của sở hữu và các chức năng khác của Nhà nước. Khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, đồng thời có biện pháp bảo vệ đất và môi trường sống theo hướng sử dụng bền vững quĩ đất. QLNN về đất đai đô thị nhằm phân bổ tài nguyên đất đai đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ đầy đủ, khoa học, hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao, xây dựng phát triển đô thị theo hướng toàn diện, hiện đại, văn minh, tăng cường sức cạnh tranh của đô thị trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời khai thác được thế mạnh của đất đai đô thị là có giá trị kinh tế cao, có thể tạo ra nguồn vốn đầu tư lớn cho quá trình phát triển của đô thị.

Với bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo, ở nước ta không thể tách rời chức năng đại diện sở hữu đất đai toàn dân và các chức năng khác của Nhà nước trong quản lý nhà nước về đất đai.

Các nội dung QLNN về đất đai bao gồm:

– Ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản để chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật.

– Thành lập và quản lý hệ thống các hồ sơ tài liệu đất đai (hồ sơ địa chính); hệ thống cung cấp thông tin đất đai; hệ thống dịch vụ đất đai nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước về đất đai.

– Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất làm cơ sở để quản lý việc phân bổ quỹ đất, quyết định mục đích sử dụng đất thông qua cơ chế giao đất, thu hồi đất.

– Quản lý tài chính về đất và trực tiếp tham gia vận hành thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.

– Quản lý, giám sát thực hiện pháp luật đất đai thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, tiến hành xử lý các vi phạm pháp luật đất đai trong quản lý sử dụng đất của cả chủ thể quản lý và chủ thể sử dụng đất.

Tham khảo thêm >>>  Vai trò quản lý nhà nước đối với sự hình thành thị trường bất động sản Việt Nam

Các nội dung của QLNN đối với đất đai ở nước ta trên cơ sở bao gồm 13 nội dung đã quy định ở điều 6, Luật Đất đai năm 2003 như sau:

2.2. Ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó

Việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật để tiến hành thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả nước là nội dung quan trọng hàng đầu của QLNN về đất đai. Đó là một hệ thống các biện pháp được thể hiện dưới dạng quy phạm pháp luật về đất đai, gồm Luật Đất đai và những quy định của các cơ quan, tổ chức nhà nước trong việc hướng dẫn, chỉ đạo SDĐ hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên đất, bảo vệ môi trường và giữ gìn cảnh quan sinh thái. Ngoài những văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh quan hệ quản lý, SDĐ đã nêu, quan hệ quản lý SDĐ còn được điều chỉnh bởi các ngành Luật khác như: Luật Dân sự – điều chỉnh quan hệ quản lý SDĐ giữa các thể nhân, bao gồm các quan hệ về thừa kế, hợp đồng dân sự, quan hệ tranh chấp dân sự… Luật hình sự:

điều chỉnh những hành vi vi phạm nghiêm trọng quan hệ quản lý, SDĐ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của Nhà nước và công dân…Luật Kinh doanh bất động sản điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động đầu tư, tư vấn, dịch vụ bất động sản…

Nội dung chủ yếu của hệ thống chính sách, pháp luật liên quan tới chế độ SDĐ và chế độ quản lý có vai trò quan trọng hàng đầu, vì nó quyết định mức độ và khả năng huy động tiềm lực của xã hội và của bộ máy nhà nước trong sự nghiệp quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên to lớn là đất đai – Nó bao gồm những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của NSDĐ, quy định những nội dung của hoạt động QLNN về đất đai, quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức quản lý đất đai ở các cấp, quy định những hình thức, cách thức xử lý các vi phạm pháp luật trong quản lý và SDĐ.

Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng sở dĩ công tác quản lý đất đai ở nước ta còn nhiều yếu kém, kìm hãm sự phát triển của LLSX, là do thiếu luật. Nhưng thực tế lại không phải đúng như vậy, ở nước ta hiện có quá nhiều văn bản pháp luật từ thấp đến cao điều chỉnh các quan hệ xã hội về đất đai. Nhiều khi các văn bản này lại mâu thuẫn, chồng chéo với nhau gây rất nhiều khó khăn cho người thực hiện. Vấn đề đáng quan tâm hiện nay không phải là thiếu luật mà chính là chỗ hiệu lực của các văn bản pháp luật. Hiệu lực pháp luật yếu kém đến mức có nhiều lĩnh vực gần như vô hiệu trong thực tiễn.

2.3. Thành lập và quản lý hệ thống các hồ sơ tài liệu đất đai (hồ sơ địa chính); hệ thống cung cấp thông tin đất đai; hệ thống dịch vụ đất đai… nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với đất đai

Hồ sơ địa chính: là hệ thống những văn bản, tài liệu về lý lịch của một thửa đất, một khu vực đất gắn với NSDĐ, nó là tài liệu quan trọng phục vụ cho công tác QLNN về đất đai. Hồ sơ địa chính lưu trữ toàn bộ những tài liệu liên quan đến các hoạt động kê khai, đăng ký QSDĐ từ lúc ban đầu (trong thống kê gọi là kỳ gốc hay kỳ định gốc), liên tục được cập nhật các biến động có liên quan đến các hoạt động quản lý, SDĐ cả về diện tích; loại đất và chủ SDĐ qua các giai đoạn.

+Xác định địa giới hành chính (ĐGHC), lập và quản lý hồ sơ ĐGHC, lập bản đồ ĐGHC.

Do Nhà nước ta được tổ chức theo mô hình nhà nước đơn nhất: từ Trung ương đến tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) đến huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) đến xã (phường, thị trấn). Nhà nước tiến hành xác định ĐGHC, lập và quản lý hồ sơ ĐGHC, lập bản đồ hành chính cho từng đơn vị hành chính các cấp trong phạm cả nước. Theo thống kê hiện nay cả nước có 64 đơn vị hành chính cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) trong đó có 59 tỉnh, 5 thành phố trực thuộc TW, 541 đơn vị hành chính cấp huyện và 9079 đơn vị hành chính cấp xã.

Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng SDĐ và bản đồ quy hoạch SDĐ.

Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất là những biện pháp quản lý, sử dụng khoa học kỹ thuật để xác định về mặt lượng và chất của đất đai, là cơ sở để xây dựng quy hoạch và kế hoạch SDĐ.

Bản đồ địa chính là tài liệu bản vẽ chuyên ngành được lập cho đến từng thửa đất, thể hiện diện tích, hình thể, độ cao, chủ sử dụng và loại đất sử dụng (đất trồng lúa hay đất trồng cây lâu năm, đất ở hay đất công trình xây dựng…). Bản đồ địa chính được lập ở các loại tỉ lệ khác nhau tuỳ thuộc yêu cầu của công tác quản lý và sử dụng. Thông thường ở đô thị, bản đồ địa chính được lập ở tỷ lệ 1/200; 1/500 và 1/1000. ở vùng ngoại thành, vùng nông thôn bản đồ địa chính được lập ở tỉ lệ 1/1000 hoặc 1/2000.

Bản đồ hiện trạng SDĐ là hình ảnh sao chụp nguyên vẹn thực tế SDĐ ở vào một thời điểm nào đó, do yêu cầu của công tác quản lý. Bản đồ hiện trạng SDĐ thể hiện diện tích, hình thể, tình hình sử dụng, các điểm địa vật và các công trình trên đất (đất nông nghiệp hay đất lâm nghiệp, đất giao thông, ao hồ, khu dân cư…). Bản đồ hiện trạng SDĐ thường được lập ở các loại tỉ lệ 1/1000, 1/2000, 1/5000. Bản đồ hiện trạng SDĐ được lập theo từng đơn vị hành chính lãnh thổ, hoặc theo một chủ thể SDĐ cụ thể (bản đồ hiện trạng SDĐ xã, bản đồ hiện trạng SDĐ xí nghiệp…).

Bản đồ quy hoạch SDĐ là bản vẽ được lập ở đầu kỳ quy hoạch SDĐ, thể hiện mục tiêu định hướng phân bổ SDĐ của công tác quy hoạch SDĐ, tại thời điểm cuối kỳ quy hoạch. Bản đồ quy hoạch SDĐ thường được lập ở các loại tỷ lệ 1/1000; 1/2000; 1/5000 và 1/10000 …

+ Thống kê, kiểm kê đất đai:

– Thống kê đất đai: là biện pháp tính toán để tổng hợp, đánh giá về hiện trạng SDĐ tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất giữa hai lần thống kê, mục đích nắm được quỹ đất vào một thời điểm nhất định, tình hình sử dụng của từng loại đất, tình hình biến động đất đai giữa các thời điểm. Thông thường việc thống kê đất đai được tiến hành mỗi năm một lần ở tất cả các cấp hành chính nhà nước.

– Kiểm kê đất đai: là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng SDĐ tại thời điểm kiểm kê, tình hình biến động đất đai giữa 2 lần kiểm kê. Từ đó có cơ sở để xây dựng quy hoạch, kế hoạch SDĐ và đánh giá hiệu quả SDĐ. ở nước ta, từ năm 1976 đến nay, Nhà nước đã nhiều lần có những đợt tổng kiểm kê đất đai trong phạm vi cả nước. Gần đây nhất, Chính phủ đã có Chỉ thị số 28/2004/CT-TTg ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về kiểm tra đất đai năm 2005, theo quy định của điều 53 Luật Đất đai năm 2003.

  • Đăng ký QSDĐ, cấp GCN QSDĐ

Đăng ký QSDĐ: đăng bộ (Immarticumnation) là thuật ngữ chỉ việc kê khai đăng ký một thửa đất và các BĐS trên đó, sau khi đã đo đạc, xác định xong ranh giới thửa đất. Đăng ký QSDĐ nhằm ghi nhận QSDĐ hợp pháp đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính, xác lập quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước và NSDĐ.

GCN QSDĐ: là chứng thư pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập, cấp cho NSDĐ hợp pháp để bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của NSDĐ. Nội dung của GCN phải ghi rõ tên tuổi, địa chỉ thường trú của NSDĐ, diện tích, hình thể và loại đất mà Nhà nước giao cho NSDĐ, thời hạn giao đất hoặc cho thuê đất… Công tác cấp GCN QSDĐ phải được thiết lập nhanh chóng, NSDĐ chỉ được thực hiện các quyền khi được Nhà nước cấp GCN QSDĐ. Đó là quan hệ pháp lý rất quan trọng nhằm xác định quan hệ trách nhiệm giữa chủ sở hữu và NSDĐ, là cơ sở để thiết lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể đối với đất đai. + Hoạt động dịch vụ công về đất đai

Dịch vụ công về đất đai là những hoạt động giao dịch, nhằm giải quyết những mối quan hệ giữa công dân, tổ chức với các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Một nội dung rất quan trọng của quản lý hệ thống dịch vụ đất đai là cung cấp thông tin đất đai. Các thông tin về quy hoạch, kế hoạch SDĐ, thông tin về giá đất, tình trạng SDĐ đều phải được công khai cung cấp cho mọi đối tượng có nhu cầu. Ví dụ: quan hệ chuyển QSDĐ, quan hệ cấp GCN QSDĐ….là các quan hệ dịch vụ công về đất đai. QLNN về hoạt động dịch vụ công là đảm bảo quyền lợi của công dân, làm cho các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm túc, đúng thời gian, đúng thủ tục, xoá bỏ được những khâu trung gian phiền nhiễu làm mất lòng tin của nhân dân. Do tác động của quá trình đô thị hoá trong điều kiện KTTT nhu cầu xử lý trong các quan hệ dịch vụ công về đất ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có khối lượng ngày càng phát sinh rất lớn. Đó là các quy định về thủ tục cấp GCN QSDĐ ở và QSHN ở; thủ tục chuyển QSDĐ; thủ tục nộp tiền SDĐ, thuế chuyển QSDĐ… có những thời điểm như từ 1/7/2004 – 31/12/2005 các điểm thu nộp thuế…

trên địa bàn Tỉnh đều bị quá tải, do người SDĐ muốn hoàn thành nhanh nhiệm vụ tài chính, trước khi quyết định về khung giá các loại đất của Nhà nước ban hành có hiệu lực. Hệ thống dịch vụ công về đất đai là một trong những khâu yếu nhất, gây cản trở lớn nhất và có nhiều tiêu cực nhất trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước về quan hệ đất đai ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Hiện nay hoạt động dịch vụ công về đất đai ở nước ta là một trong những khâu yếu nhất của hệ thống quản lý hành chính trong quan hệ đất đai. Đồng thời đây cũng là một vấn đề nổi cộm và có nhiều tiêu cực gây bức xúc trong nhân dân… cần được xử lý dứt điểm và có biện pháp giải quyết triệt để, tạo ra môi trường thông thoáng cho người sử dụng đất và các nhà đầu tư tham gia các hoạt động kinh doanh bất động sản.

Xem thêm >>> Quản lý nhà nước hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay

2.4. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất làm cơ sở quản lý việc phân bổ quỹ đất quyết định mục đích sử dụng đất, thông qua cơ chế giao đất, thu hồi đất

QLNN bằng quy hoạch, kế hoạch là chức năng vô cùng quan trọng của Nhà nước hiện đại nhằm định hướng chiến lược phát triển toàn diện và phát triển bền vững cả kinh tế, chính trị, xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước.

QLNN về đất đai bằng quy hoạch, kế hoạch vừa là thực hiện chức năng đại diện sở hữu toàn dân về đất đai, vừa thực hiện chức năng quản lý chung của mọi nhà nước. Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai qua cơ chế giao đất, thu hồi đất và quyết định mục đích sử dụng đất trên phạm vi cả nước.

Quy hoạch SDĐ là một dạng quy hoạch tổng thể, đó là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đúng mục đích, SDĐ đầy đủ, hợp lý, khoa học và tiết kiệm. Thông qua việc phân bổ, điều chỉnh, cơ cấu lại sử dụng quỹ đất đai cho các ngành sản xuất và các đối tượng SDĐ, khai thác và tiến hành tổ chức SDĐ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện để bảo vệ đất, bảo vệ môi trường.

Quy hoạch SDĐ thường được xây dựng cho thời gian từ 10 – 20 năm hoặc 30 năm (định kỳ quy hoạch), tuỳ thuộc tính chất của quy hoạch SDĐ là quy hoạch SDĐ chi tiết hay quy hoạch SDĐ tổng thể, quy hoạch vùng hay quy hoạch cho một đơn vị hành chính. Có những quy hoạch SDĐ dài hạn được lập cho thời gian 30 – 50 năm (quy hoạch SDĐ đất trồng rừng, quy hoạch SDĐ cho vùng cây nguyên liệu hoặc cây đặc sản…).

Kế hoạch SDĐ là trên cơ sở quy hoạch SDĐ đã được xác lập, tiến hành tổ chức thực hiện quy hoạch SDĐ theo từng thời gian, thời điểm cụ thể, để đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Kế hoạch SDĐ thường được xây dựng cho thời gian hàng năm hoặc 3 – 5 năm.

Quy hoạch, kế hoạch SDĐ được xây dựng theo đơn vị hành chính lãnh thổ, đơn vị sản xuất và theo các chuyên ngành (quy hoạch SDĐ đô thị, quy hoạch SDĐ nông nghiệp, quy hoạch SDĐ lâm nghiệp…). Các tổ chức nhà nước, các cấp chính quyền được Nhà nước phân công có trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch SDĐ và tổ chức thực hiện đúng theo quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được xác lập.

Tuy nhiên, đến nay hệ thống quy hoạch, kế hoạch SDĐ ở nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, còn tình trạng quy hoạch, kế hoạch SDĐ bị phá vỡ hoặc không được thực hiện (quy hoạch “treo”), hoặc không thực hiện theo đúng quy hoạch, tính khả thi thấp, quy hoạch SDĐ chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và các quy hoạch chuyên ngành khác.

+ Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ

Với địa vị pháp lý là đại diện sở hữu toàn dân, thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và kế hoạch, Nhà nước có nhiệm vụ và có quyền cho phép các thể nhân (cá nhân, tổ chức, hộ gia đình) được SDĐ dưới các hình thức: Giao đất (có thu tiền SDĐ hoặc không thu tiền SDĐ) có thời hạn hay ổn định lâu dài, hoặc cho thuê đất. Khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng lại đất đã giao hoặc cho thuê để phục vụ những mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng quan trọng hơn, Nhà nước có quyền thu hồi lại đất đã giao hoặc cho thuê. Nhà nước thu hồi đất nếu đối tượng đang SDĐ được Nhà nước giao hoặc cho thuê vi phạm pháp luật. Nếu các đối tượng SDĐ không có nhu cầu SDĐ nữa, Nhà nước có quyền thu hồi diện tích đất đã giao.

Chuyển mục đích SDĐ là hành vi thuộc thẩm quyền của Nhà nước (chuyển một diện tích đất hoặc một khu vực đất nào đó từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác phù hợp với quy hoạch SDĐ đã được phê duyệt). Tất cả những thể nhân được Nhà nước giao đất phải SDĐ đúng mục đích được giao, nếu chuyển mục đích SDĐ trái thẩm quyền phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Thông qua chức năng giao đất cho thuê đất chuyển mục đích SDĐ, thu hồi đất, Nhà nước thực hiện quyền lợi về mặt kinh tế của sở hữu đất đai toàn dân. Vì vậy quản lý tốt công tác giao đất, cho thuế đất, chuyển mục đích SDĐ… là quản lý tốt nguồn tài nguyên đất và hiệu quả kinh tế đất.

2.5. Quản lý tài chính về đất, điều chỉnh các quan hệ kinh tế đất trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

– Quản lý tài chính về đất: Là chức năng rất quan trọng của Nhà nước vừa để thực hiện quyền lợi về mặt kinh tế của chủ sở hữu, đồng thời thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước, nó bao gồm các nội dung quản lý giá đất, quy định mức thu tiền thuê đất, tiền SDĐ, thuế đất các loại, quy định mức tiền bồi thường thiệt hại cho NSDĐ khi Nhà nước thu hồi đất, các khoản ngân sách đầu tư vào đất và quản lý ngân sách khi đấu giá QSDĐ… Quản lý tài chính về đất đảm bảo SDĐ có hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để NSDĐ yên tâm đầu tư vào đất, được bảo vệ quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất.

™ Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản: quản lý và phát triển thị trường QSDĐ trong thị trường BĐS là việc Nhà nước trực tiếp tham gia vận hành thị trường, để điều chỉnh các quan hệ kinh tế đất, trong điều kiện nền KTTT và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.

2.6. Quản lý, giám sát thực hiện pháp luật đất đai thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, tiến hành xử lý các vi phạm pháp luật đất đai của cả chủ thể quản lý và chủ thể sử dụng đất

™ Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của NSDĐ:

Để đảm bảo NSDĐ phải thực hiện đúng những quyền pháp luật cho phép, phải thực hiện đúng những nghĩa vụ với Nhà nước, các cơ quan của bộ máy nhà nước phải có cơ chế giám sát kiểm tra quá trình tổ chức SDĐ của NSDĐ. Đây là tổng hợp những biện pháp về chính sách, cơ chế và cả tiến bộ kỹ thuật được áp dụng, để buộc NSDĐ phải tuân thủ pháp luật. Đồng thời hạn chế tính quan liêu thậm trí tiêu cực của bộ máy Nhà nước, giúp NSDĐ khai thác, sử dụng tốt nhất nguồn tài nguyên quý giá được Nhà nước giao.

™ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai:

Là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc các quy định của pháp luật có được thực hiện theo đúng trình tự, đúng nội dung, đúng thời điểm và các điều kiện cụ thể khác? Phát hiện các lệch lạc, sai sót để ngăn chặn phát sinh hậu quả xấu gây thiệt hại cho quyền lợi của Nhà nước hoặc cá nhân. Kịp thời xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo việc tuân thủ theo pháp luật của tất cả mọi đối tượng SDĐ, đảm bảo sự bình đẳng giữa những đối tượng SDĐ và các cơ quan quản lý của Nhà nước. ở mỗi cấp quản lý, bộ máy QLNN đều có chức năng kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật. ở nước ta có Thanh tra đất đai chuyên ngành thuộc Bộ TN&MT, Thanh tra chuyên ngành thuộc Sở TN&MT các tỉnh, thành phố, ngoài ra cơ quan Thanh tra Nhà nước cũng được giao nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong quản lý SDĐ.

Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và SDĐ:

– Tranh chấp đất đai là việc những NSDĐ tranh chấp với nhau về diện tích đất được Nhà nước giao quyền sử dụng, hoặc tranh chấp nhau về QSDĐ. Có thể xảy ra các dạng tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức, cá nhân với cá nhân hoặc tổ chức với tổ chức có SDĐ. Khi có tranh chấp QSDĐ, các cơ quan nhà nước với chức năng tổ chức quyền lực công, phải có trách nhiệm giải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật.

– Khiếu nại, tố cáo các vi phạm pháp luật trong quản lý và SDĐ: khiếu nại là việc NSDĐ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu về quyền lợi đối với QSDĐ của cá nhân hoặc tổ chức có liên quan, hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước giải quyết những vấn đề lợi ích của họ, mà cơ quan nhà nước cấp dưới đã giải quyết, nhưng NSDĐ thấy chưa đúng. Tố cáo các vi phạm trong quản lý SDĐ: là việc công dân, tổ chức tố cáo cán bộ QLNN, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm pháp luật trong quản lý SDĐ. Đây là một trong những bức xúc trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, KTTT có những ưu việt nhằm phát huy mọi tiềm năng của xã hội để phát triển, nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều nguy cơ, trong đó có tệ nạn tham nhũng, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý SDĐ. Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân là trách nhiệm rất quan trọng của bộ máy nhà nước ta, nhằm thực hiện cơ chế dân chủ, công khai, công bằng xã hội.

Song cùng với công tác QLNN về đất đai theo những nội dung cơ bản đã nêu trên, Nhà nước thực hiện quyền đại diện sở hữu toàn dân về đất đai trên cơ sở phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan của bộ máy nhà nước, đó là sự phân công chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có thẩm quyền ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch SDĐ của cả nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý SDĐ trong phạm vi cả nước. Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, có thẩm quyền quyết định quy hoạch kế hoạch SDĐ của tỉnh, thành phố thuộc Trung ương; quyết định quy hoạch, kế hoạch SDĐ an ninh quốc phòng; thống nhất QLNN về đất đai trong phạm vi cả nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc QLNN về đất đai. HĐND các cấp thực hiện quyền giám sát thi hành pháp luật đất đai tại địa phương, UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai, QLNN về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền được pháp luật quy định.

Đất đai, đặc biệt là đất đai đô thị có giá trị và giá trị sử dụng rất to lớn mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Thu đúng, thu đủ các nguồn thu từ đất chỉ được thực hiện khi hệ thống QLNN về đất đai được hoàn chỉnh (bao gồm các biện pháp quản lý: hành chính, kinh tế, giáo dục…), trong đó việc hoàn thiện, tăng cường vai trò của bộ máy QLNN về đất đai ở cơ sở (xã, phường, thị trấn và các Phòng TN&MT ở cấp thị xã, huyện) là rất quan trọng.

QLNN đối với đất đai là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước vừa với chức năng đại diện sở hữu toàn dân về đất đai, vừa với chức năng quản lý nhà nước về đất đai như tất cả các nhà nước khác, đó là hoạt động có tổ chức và được điều chỉnh bằng hệ thống các công cụ quản lý vào quan hệ đất đai trong xã hội, để đạt được mục tiêu nắm và phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai; bảo vệ môi trường sống và bảo vệ đất đai.

3. Các phương pháp và công cụ quản lý nhà nước về đất đai

Các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích của Nhà nước lên hệ thống đất đai và chủ sử dụng đất nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong những điều kiện cụ thể về không gian và thời gian nhất định. Các phương pháp quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về đất đai nói riêng có vai trò rất quan trọng trong hệ thống quản lý. Nó thể hiện cụ thể mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước với đối tượng và khách thể quản lý. Mối quan hệ giữa Nhà nước với các đối tượng và khách thể quản lý rất đa dạng và phức tạp.

Vì vậy, các phương pháp quản lý.thường xuyên thay đổi tuỳ theo tình huống cụ thể nhất định, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng.Các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai được hình thành từ các phương pháp quản lý nhà nước nói chung. Vì vậy, về cơ bản nó bao gồm các phương pháp quản lý nhà nước nhưng được cụ thể hoá trong lĩnh vực đất đai. Trong quản lý nhà nước có rất nhiều phương pháp nên trong quản lý nhà nước về đất đai cũng sử dụng các phương pháp cơ bản đó. Có thể chia thành 2 nhóm phương pháp sau:

3.1. Các phương pháp thu thập thông tin về đất đai

™ Phương pháp thống kê: là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế, xã hội. Đây là phương pháp mà các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành điều tra, khảo sát, tổng hợp và sử dụng các số liệu trên cơ sở đã tính toán các chỉ tiêu. Qua số liệu thống kê phân tích được tình hình, nguyên nhân của sự vật và hiện tượng có thể tìm ra được tính quy luật và rút ra những kết luận đúng đắn về sự vật, hiện tượng đó. Trong công tác quản lý đất đai các cơ quan quản lý sử dụng phương pháp thống kê để nắm được tình hình số lượng, chất lượng đất đai, nắm bắt đầy đủ các thông tin về đất đai cho phép các cơ quan có kế hoạch về quản lý đất đai.

™ Phương pháp toán học: là phương pháp quan trọng do sự tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và ngày càng chứng tỏ tính cấp thiết của nó trong công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng. Phương pháp toán học sử dụng ở đây là phương pháp toán kinh tế, các công cụ tính toán hiện đại được dùng để thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin… giúp cho việc nghiên cứu các vấn đề xã hội phức tạp. Trong công tác quản lý đất đai, phương pháp toán học được sử dụng nhiều ở các khâu công việc như: thiết kế, quy hoạch; tính toán quy mô, loại hình sử dụng đất tối ưu…

™ Phương pháp điều tra xã hội học: Đây là phương pháp hỗ trợ, bổ sung, nhưng rất quan trọng. Thông qua điều tra xã hội học, Nhà nước sẽ nắm bắt được tâm tư,nguyện vọng của các tổ chức và các cá nhân sử dụng đất đai. Mặt khác qua điều tra xã hội học, Nhà nước có thể biết sâu hơn diễn biến tình hình đất đai, đặc biệt là nguyên nhân của tình hình đó. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, phạm vi, quy mô về vốn và người thực hiện mà trong điều tra có thể lựa chọn các hình thức như: điều tra chọn mẫu, điều tra toàn diện, điều tra nhanh, điều tra ngẫu nhiên…

3.2. Các phương pháp tác động đến con người trong quản lý đất đai

… Phương pháp hành chính là phương pháp tác động mang tính trực tiếp. Phương pháp này dựa vào mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý, mà thực chất đó là mối quan hệ giữa quyền uy và sự phục tùng. Phương pháp quản lý hành chính về đất đai của Nhà nước là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước đến các chủ thể trong quan hệ đất đai, bao gồm các chủ thể là cơ quan quản lý đất đai của Nhà nước và các chủ thể là người sử dụng đất (các hộ gia đình, các cá nhân, các tổ chức, các pháp nhân) bằng các biện pháp, các quyết định mang tính mệnh lệnh bắt buộc. Nó đòi hỏi người sử dụng đất phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Trong quản lý nhà nước về đất đai phương pháp hành chính có vai trò to lớn, xác lập được kỷ cương trật tự trong xã hội. Nó khâu nối được các hoạt động giữa các bộ phận có liên quan, giữ được bí mật hoạt động và giải quyết được các vấn đề đặt ra trong công tác quản lý một cách nhanh chóng kịp thời.

Khi sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt chẽ quyền hạn và trách nhiệm của các cấp quản lý nhà nước về đất đai khi ra quyết định. Đồng thời phải làm rõ, cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và từng cá nhân. Mọi cấp chính quyền, mọi tổ chức, mọi cá nhân khi ra quyết định phải hiểu rõ quyền hạn của mình đến đâu và trách nhiệm của mình như thế nào khi sử dụng quyền hạn đó. Các quyết định hành chính do con người đặt ra muốn có kết quả và đạt hiệu quả cao thì chúng phải là các quyết định có tính khoa học, có căn cứ khoa học, tuyệt đối không thể là ý muốn chủ quan của con người. Để quyết định có căn cứ khoa học người ra quyết định phải nắm vững tình hình, thu thập đấy đủ các không tin cần thiết có liên quan, cân nhắc tính toán đầy đủ các lợi ích, các khía cạnh khác chịu ảnh hưởng đảm bảo quyết định hành chính có căn cứ khoa học vững chắc.

… Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng bị quản lý không trực tiếp như phương pháp hành chính. Phương pháp quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý đất đai là cách thức tác động của Nhà nước một cách gián tiếp vào đối tượng bị quản lý, thông qua các lợi ích kinh tế để đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động của mình sao cho có hiệu quả nhất. Trong công tác quản lý, phương pháp kinh tế là phương pháp mềm dẻo nhất, dễ thu hút đối tượng quản lý, do vậy nó ngày càng mang tính phổ biến và được coi trọng. Mặt mạnh của phương pháp kinh tế là ở chỗ nó tác động vào lợi ích của đối tượng bị quản lý làm cho họ phải suy nghĩ, tính toán và lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất vừa đảm bảo lợi ích của mình, vừa đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội.

Phương pháp kinh tế nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giúp cho Nhà nước giảm bớt được nhiều công việc hành chính như công tác kiểm tra, đôn đốc có tính chất sự vụ hành chính. Vì vậy, sử dụng phương pháp này vừa tiết kiệm được chi phí quản lý, vừa giảm được tính chất cứng nhắc hành chính, vừa tăng cường tính sáng tạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Một trong những thành công lớn của Nhà nước trong công tác quản lý đất đai là việc áp dụng phương pháp khoán trong nông nghiệp và giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, đã tạo ra động lực to lớn cho phát triển sản xuất nông nghiệp và cho phép sử dụng có hiệu quả đất đai. Đây chính là Nhà nước đã áp dụng phương pháp kinh tế trong quản lý đất đai.

Phương pháp tuyên truyền, giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình của họ trong quản lý đất đai nói riêng và trong hoạt động kinh kế – xã hội nói chung. Tuyên truyền, giáo dục là một trong các phương pháp không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước bởi vì mọi đối tượng quản lý suy cho cùng cũng chỉ là quản lý con người mà con người là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội và họ có những đặc trưng tâm lý rất đa dạng. Do đó, cần phải có nhiều phương pháp tác động khác nhau trong đó có phương pháp giáo dục. Trong thực tế, phương pháp giáo dục thường được kết hợp với các phương pháp khác, hỗ trợ cùng với phương pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác. Nếu chúng ta tách rời phương pháp giáo dục với các phương pháp khác, tách rời giáo dục với khuyến khích lợi ích vật chất, tách rời giáo dục với sự cưỡng chế bắt buộc thì hiệu quả của công tác quản lý không cao, thậm chí có những việc còn không thực hiện được. Nhưng nếu chúng ta kết hợp tốt, kết hợp một cách nhịp nhàng, linh hoạt phương pháp giáo dục với các phương pháp khác thì hiệu quả của công tác quản lý sẽ rất cao. Nội dung của phương pháp giáo dục rất đa dạng, nhưng trước hết phải giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung; chính sách, pháp luật về đất đai nói riêng thể hiện qua các luật và các văn bản dưới luật.

3.3. Các công cụ quản lý nhà nước về đất đai

3.3.1. Công cụ pháp luật

Pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước. Từ xưa đến nay, Nhà nước nào cũng luôn thực hiện quyền cai trị của mình trước hết bằng pháp luật. Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành vi của con người.

Pháp luật là công cụ duy trì trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực đất đai. Trong hoạt động xã hội, vấn đề đất đai gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của mọi chủ thể sử dụng đất nên vấn đề này dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Trong các mâu thuẫn đó có những vấn đề phải dùng đến pháp luật mới xử lý được. Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác. Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng không phải lúc nào nghĩa vụ đó cũng được thực hiện một cách đầy đủ có rất nhiều trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế và bắt buộc thì nghĩa vụ đó mới được thực hiện. Pháp luật là công cụ mà qua đó Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng đất. Nhờ những điều khoản bắt buộc, thông qua các chính sách miễn giảm, thưởng, phạt cho phép Nhà nước thực hiện được sự bình đẳng cũng như giải quyết hết mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa những người sử dụng đất.

Pháp luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chế độ, chính sách của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý đất đai cụ thể như: Hiến pháp, Luật Đất đai, Luật Dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các quyết định, các thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết… của Nhà nước, của Chính phủ, của các bộ, các ngành có liên quan đến đất đai một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và các văn bản quản lý của các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương.

3.3.2. Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

Trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Vì vậy, Luật Đất đai 2003 quy định “Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật”. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai. Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý. Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai. Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí. Đồng thời, thông qua quy hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình. Quy hoạch đất đai được lập theo vùng lãnh thổ và theo các ngành. Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh thổ là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các cấp hành chính, gồm: quy hoạch sử dụng đất đai của cả nước, quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã -Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các ngành như: quy hoạch sử dụng đất đai ngành nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai ngành công nghiệp, quý hoạch sử dụng đất đai ngành giao thông.

3.2.3. Công cụ tài chính

Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế – xã hội.

™ Các công cụ tài chính trong quản lý đất đai

-Thuế và lệ phí: là công cụ tài chính chủ yếu được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý đất đai. Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ban hành các loại thuế chủ yếu trong lĩnh vực đất đai như sau:

Thuế sử dụng đất;

Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (có thể có);

™ Các loại lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai như lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính.

™ Giá cả: Đối với đất đai hiện nay, Nhà nước đã ban hành khung giá chung cho các loại đất cụ thể được quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ để làm cơ sở chung cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh làm căn cứ tính giá đất và thu thuế sử dụng đất; thu tiền khi giao đất, khi cho thuê đất, khi cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.

™ Ngân hàng là công cụ quan trọng của quan hệ tài chính. Ngoài nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ nói chung nó còn được hình thành để cung cấp vốn cho các công lệnh về khai hoang, cải tạo đất…

* Vai trò của công cụ tài chính trong quản lý đất đai

™ Tài chính là công cụ để các đối tượng sử dụng đất đai thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của họ.

™ Tài chính là công cụ mà Nhà nước thông qua nó để tác động đến các đối tượng sử dụng đất làm cho họ thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong việc sử dụng đất đai. Các đối tượng sử dụng đất đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Tài chính là công cụ quản lý quan trọng cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất và kết hợp hài hoà giữa các lợi ích.

™ Tài chính là công cụ cơ bản để Nhà nước tăng nguồn thu ngân sách.

4. Kinh nghiệm quản lý đất đai của Trung Quốc và một số tỉnh, thành phố trong nước

4.1. Kinh nghiệm quản lý đất đai của Trung Quốc

Cũng như Việt Nam, Trung quốc là quốc gia thuộc hệ thống các nước XHCN trước đây và hiện nay là quốc gia xây dựng mô hình phát triển nhà nước theo hình thái xã hội XHCN, nhưng mang đặc sắc Trung Quốc. Là quốc gia nông nghiệp được xếp vào dạng các nước đang phát triển, kinh nghiệm của Trung Quốc trong cuộc phát triển kinh tế đất nước là bài học lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới. Trung Quốc có dân số đông nhất thế giới (theo thống kê năm 2005 dân số Trung Quốc là 1,3 tỷ người) trong đó dân số nông nghiệp chiếm gần 80%. Tổng diện tích đất đai toàn quốc là 9.632.796 Km2, trong đó diện tích đất canh tác là trên 100 triệu ha (chiếm 7% diện tích đất canh tác toàn thế giới). Trung Quốc bắt đầu công cuộc HĐH trong đó có CNH là mũi nhọn từ năm 1978, nhưng đến năm 1988, tốc độ CNH của Trung Quốc có những bước phát triển vượt bậc, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn mức cao nhất thế giới liên tục trong gần 20 năm qua. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và cách mạng công nghiệp, tốc độ ĐTH ở Trung Quốc cũng diễn ra rất mạnh mẽ (hàng chục các thành phố công nghiệp, các đặc khu kinh tế mới như Thâm Quyến, Nội Châu…. được xây dựng mới). Vì vậy việc giải quyết quan hệ xã hội về đất đai ở Trung Quốc trong quá trình CNH – HĐH với đảm bảo an ninh lương thực cho gần 1/5 dân số thế giới của Trung Quốc là mô hình thành công lớn đóng góp cho thế giới. QLNN về đất đai ở Trung Quốc có một số đặc điểm nổi bật là:

<1> Về quan hệ sở hữu đất đai:

Từ năm 1949, Trung Quốc tiến hành cải cách ruộng đất, chia ruộng đất của địa chủ phong kiến cho nông dân, tuy nhiên, hình thức SHTN về đất đai cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn. Từ đầu những năm 1950, ở Trung Quốc đã tiến hành phong trào tập thể hoá nông nghiệp với việc hình thành hàng vạn nông trang tập thể trong khắp cả nước. SHTT và SHNN về đất đai đã được thiết lập ở Trung Quốc từ thập kỷ 50 thế kỷ XX. Cũng như ở Việt Nam, mô hình kinh tế tập trung kế hoạch hoá đã gây ra tình trạng kìm hãm LLSX ở Trung Quốc. Trong vài thập niên liên tiếp, Trung Quốc là quốc gia chậm phát triển và trong tình trạng thiếu lương thực triền miên.

Từ năm 1978, Trung Quốc đã khôi phục kinh tế tư nhân, thừa nhận hộ nông dân là một thành phần kinh tế, Nhà nước tiến hành giao đất cho hộ nông dân để tổ chức sản xuất (thay cho mô hình nông trang tập thể). Điều 10 Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc và Luật quản lý đất của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định: Quyền sở hữu đất Trung Quốc toàn bộ thuộc về SHNN, phân làm 2 hình thức SHNN và SHTT, trong đó toàn bộ đất đai thành thị thuộc về SHNN. Đất nông thôn và ngoại ô thành phố, ngoài đất do pháp luật quy định thuộc về SHNN, còn lại là SHTT.

Hiến pháp năm 1988 (Điều 2) quy định việc Nhà nước giao đất cho tổ chức cá nhân sử dụng dưới dạng giao QSDĐ và cho phép QSDĐ được chuyển nhượng trên thị trường. QSDĐ đã được phép chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp… tức là đã cho phép NSDĐ được quyền định đoạt về đất đai, Nhà nước chỉ khống chế bằng quy định mục đích SDĐ và thời gian SDĐ (quy định là từ 40 – 70 năm). “Đạo luật tạm thời về bán và chuyển nhượng QSDĐ nhà nước tại các Thành phố và thị trấn” ban hành năm 1990 quy định cụ thể điều kiện để chủ SDĐ được phép chuyển nhượng sau khi được giao đất là: nộp đủ tiền SDĐ cho Nhà nước; đã được cấp GCN QSDĐ; đã đầu tư vào SDĐ theo đúng mục đích được giao (thông thường là từ 25% trở lên theo dự toán xây dựng công trình khi lập hồ sơ xin giao đất). Chủ SDĐ nếu không thực hiện đúng các quy định sẽ bị thu hồi đất.

<2> Về quy hoạch SDĐ: là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý đất đai của Nhà nước Trung Quốc. Luật pháp quy định Nhà nước có quyền và có trách nhiệm xây dựng quy hoạch SDĐ trong phạm vi cả nước và trong từng cấp chính quyền theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Đối với đất đai thành thị, Nhà nước tiến hành quản lý bằng quy hoạch. Quy hoạch tổng thể thành phố là kế hoạch có tính tổng thể, tính lâu dài, tính chiến lược, tính chỉ đạo về phát triển kinh tế và xã hội với các công trình xây dựng của thành phố – bao gồm các nội dung chính là:

™ Tính chất của thành phố, mục tiêu và quy mô phát triển.

™ Tiêu chuẩn xây dựng chủ yếu và chỉ tiêu định mức của thành phố.

™ Bố cục chức năng, phân bố phân khu và bố trí tổng thể các công trình của đất dùng xây dựng thành phố.

™ Hệ thống giao thông tổng hợp và hệ thống sông hồ, hệ thống cây xanh thành phố

– Các quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch xây dựng trước mắt…

Luật cũng quy định cụ thể quy hoạch của cấp dưới phải tuân thủ quy hoạch của cấp trên và phải được cấp có thẩm quyền phê chuẩn mới được thi hành.

<3> Về thống kê, phân loại đất đai:

Luật quản lý đất đai quy định: Đất đai của Trung Quốc được chia làm 3 loại chính:

Đất dùng cho nông nghiệp: là đất đai trực tiếp sử dụng cho sản xuất nông nghiệp bao gồm đất canh tác, đồng cỏ, đất nuôi trồng thuỷ sản.

Đất xây dựng: là đất được sử dụng để xây dựng công trình kiến trúc, nhà cửa đô thị, dùng cho mục đích công cộng, khai thác khoáng sản, đất sử dụng trong các công trình an ninh quốc phòng.

– Đất chưa sử dụng: là loại đất còn lại không thuộc 2 loại đất nêu trên. Nhà nước quy định tổng kiểm kê đất đai 5 năm 1 lần và có thống kê đất đai hàng năm, việc thống kê đất đai hàng năm được tiến hành ở các cấp quản lý theo đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương; Hồ sơ đất đai được thiết lập đến từng chủ SDĐ và cập nhật biến động liên quan đến từng chủ SDĐ, đến từng mảnh đất.

<4> Về tài chính đất:

Luật quy định Nhà nước thu tiền khi giao đất (ở Trung Quốc không có hình thức giao đất ổn định lâu dài không thời hạn), NSDĐ phải nộp đủ tiền SDĐ cho Nhà nước mới được thực hiện các quyền; Nhà nước coi việc giao đất thu tiền là biện pháp quan trọng để tạo ra nguồn thu ngân sách đáp ứng nhu cầu về vốn để phát triển.

Do đất nông thôn, ngoại thành là thuộc SHTT, vì vậy để phát triển đô thị, Nhà nước Trung Quốc phải tiến hành trưng dụng đất, chuyển mục đích SDĐ nông nghiệp thành đất đô thị. Ngoài việc luôn đảm bảo diện tích đất canh tác để ổn định an ninh lương thực bằng biện pháp yêu cầu bên được giao đất phải tiến hành (có thể trực tiếp hoặc nộp tiền) thai thác đất chưa sử dụng, bù vào đúng với diện tích canh tác bị mất đi. Nhà nước Trung Quốc còn ban hành quy định về phí trưng dụng đất (như là dạng bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất ở Việt Nam). Đó là các loại chi phí mà đơn vị SDĐ phải trả gồm: Chi phí đền bù đất (do đơn vị phải trả cho nông dân bị trưng dụng đất), trưng dụng đất không có thu lợi thì không phải đền bù; chi phí đền bù đầu tư đất: (là phí đền bù cho đầu tư bị tiêu hao trên đất, tương tự phí đền bù tài sản trên đất ở Việt Nam); chi phí đền bù sắp xếp lao động và phí đền bù sinh hoạt phải trả cho đơn vị bị thu hồi đất (tương tự hình thức chi phí hỗ trợ chuyển nghề, đào tạo nghề và thu nhận lao động); chi phí quản lý đất (gần như phí hay lệ phí hành chính được sử dụng cho các cơ quan quản lý như tổ chức phát triển quỹ đất; Ban chỉ đạo GPMB…). Công tác GPMB ở Trung Quốc tiến hành thuận lợi là do Nhà nước chủ động được vấn đề tái định cư cho người bị thu hồi đất và nhờ có biện pháp chuyên chính mạnh. Đặc biệt với sự sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 2002, Nhà nước Trung Quốc đã công nhận quyền SHTN về BĐS, công nhận và có chính sách để thị trường BĐS hoạt động hợp pháp. Với những quy định mang tính cải cách lớn như vậy, Trung Quốc đã tạo ra được một thị trường BĐS khổng lồ với quy mô 1,3 tỉ dân. Tính đến hết năm 2003 diên tích nhà ở bình quân đầu người ở Trung Quốc đã là 23,7 m2/người ở khu vực đô thị và 27,2 m2/người ở khu vực nông thôn. Chỉ riêng năm 2004 diện tích các khu nhà thương mại đang được xây dựng đã là 1476,83 triệu m2, diện tích nhà thương mại đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng là 526,38 triệu m2; diện tích nhà thương mại đã được bán là: 453,62 triệu m2. Trong công tác quản lý, Trung Quốc cũng quy định mỗi hộ gia đình ở nông thôn chỉ được phép sử dụng một nơi làm đất ở và không vượt quá hạn mức quy định của cấp tỉnh, thành. Người dân ở nông thôn sau khi đã bán nhà hoặc cho thuê nhà sẽ không được Nhà nước cấp thêm. QSDĐ thuộc SHTT không được phép chuyển nhượng hoặc cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp. Tuy nhiên do đặc thù của quan hệ SHNN về đất đai XHCN, ở Trung Quốc nạn tham nhũng tiêu cực trong quản lý SDĐ cũng khá phức tạp và nặng nề như ở Việt Nam, vì cơ chế xin cho, cấp, phát, đặc biệt là trong việc khai thác đất đai thành thị. Mặc dù Trung Quốc cũng đã quy định để khai thác đất đai thành thị buộc phải thông qua các công ty dưới dạng đấu thầu hoặc đấu giá.

4.2. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Là trọng điểm kinh tế số 1 của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2095,2 km2 với dân số 5,891 triệu người với 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành, 254 phường, 5 thị trấn và 58 xã. Nghị quyết số 01 tháng 9 năm 1992 của Bộ Chính trị BCHTW Đảng khoá VIII đã đánh giá vị trí của Thành phố là: “… Một trung tâm kinh tế lớn, trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta. Thành phố Hồ Chí Minh có một vị trí chính trị quan trọng sau thủ đô Hà Nội”. Là Thành phố đặc biệt, vì vậy công tác QLNN về đất đai của thành phố Hồ Chí Minh trong qúa trình ĐTH có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế của Thành phố. Từ khi có Luật Đất đai năm 1987, Thành uỷ, UBND Thành phố đã ban hành hàng trăm văn bản về công tác quản lý đất đai và quản lý quy hoạch nhằm thể chế hoá chính sách và pháp luật đất đai của Đảng và Nhà nước trên địa bàn. Trong đó đặc biệt là Thành phố đã ban hành Quyết định số 4755/QĐ-UB ngày 26/9/1998 về khung giá các loại đất theo quy định của Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ. Quyết định về khung giá đất theo Nghị định số 188/CP ngày 16/11/2004 của chính phủ. Về công tác quản lý quy hoạch đô thị, ngày 10/7/1998 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 123/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh.

Hệ thống hồ sơ địa chính của Thành phố cơ bản được xây dựng khá bài bản, toàn Thành phố đã được đo đạc và thành lập bản đồ địa chính chính qui và không chính qui ở các tỷ lệ 1/500 và 1/1000 (1/500 ở các quận nội thành và 1/1000 ở các huyện ngoại thành). Thành phố cũng đã xây dựng quy hoạch- kế hoạch SDĐ giai đoạn 2001 đến 2010 và đã được Chính phủ phê duyệt. Vào năm 2005, Thành phố đã công bố cơ bản hoàn thành công tác triển khai cấp GCN QSDĐ ở và QSHN ở tại đô thị. Trong giai đoạn sốt đất năm 2002, UBND Thành phố đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-UB ngày 22/4/2002 nhằm chấn chỉnh và tăng cường QLNN về đất đai trên địa bàn. Hàng nghìn vụ việc vi phạm tổ chức pháp luật của các và cá nhân trên địa bàn Thành phố đã được xử lý. Nhìn chung các văn bản của Thành uỷ và UBND Thành phố đã góp phần ổn định công tác quản lý đất đai ở địa phương. Từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Thành phố cũng đã ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện Luật và các Nghị định của Chính phủ. Tuy nhiên, cũng như tình hình chung của các tỉnh, thành phố trong cả nước, công tác quản lý nhà nước về đất đai, đô thị ở Thành phố cũng có rất nhiều bức xúc, phức tạp. Thị trường BĐS trong khu vực Thành phố có chiều hướng “trầm lắng” do nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là yếu tố đầu cơ của 1 số tổ chức và cá nhân, đồng thời do hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành chưa đồng bộ và chưa có khả năng đáp ứng được yêu cầu của tình hình thực tế xã hội hiện nay.

4.3. Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Là Thành phố cảng quan trọng của vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc, thành phố Hải Phòng có diện tích 1.526,3 km2 và dân số là 1.793 triệu người với 5 quận, 1 thị xã và 8 huyện; 57 phường, 9 thị trấn, 152 xã. Trong nhiều năm qua, quản lý nhà nước về đất đai ở Thành phố có nhiều vấn đề phức tạp. Đặc biệt Hải Phòng là nơi có nhiều điểm nóng khiếu kiện tranh chấp đất đai rất gay gắt. Nguyên nhân cơ bản là do trong quá trình ĐTH, giá đất bị đẩy lên rất cao, trong khi Thành phố chưa có biện pháp kiên quyết để ngăn chặn kịp thời tình trạng vi phạm pháp luật. Đặc biệt tình trạng tự chuyển mục đích SDĐ khác thành đất ở, mua bán đất đai trái quy định của pháp luật diễn ra khá phổ biến. Hệ thống hồ sơ địa chính không được lưu trữ đầy đủ và cập nhật thường xuyên. Vì vậy công tác QLNN về đất đai gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu thông tin pháp lý về nguồn gốc SDĐ làm cơ sở để thực hiện giao đất, đền bù thiệt hại về đất và xử lý các vi phạm pháp luật trong quản lý SDĐ. Từ năm 1993 đến năm 2002, Thành phố đã ban hành 12 văn bản thể chế hoá các quy định của Luật và Nghị định của Chính phủ để triển khai công tác QLNN về đất đai trên địa bàn. Ngày 11/10/1994 Thành phố đã thành lập Sở Địa chính Hải Phòng và kiện toàn hệ thống tổ chức ngành Địa chính. Đến ngày 19/10/2001 thành lập Sở Địa chính nhà đất để thực hiện các công tác QLNN về đất đai trên địa bàn Thành phố.

Công tác lập quy hoạch SDĐ và quy hoạch phát triển đô thị được triển khai chậm do Thành phố chưa có sự đầu tư thoả đáng. Năm 2001 HĐND thành phố Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết số 20 ngày 5/7/2001 “Phê duyệt quy hoạch SDĐ thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000- 2010”. Theo qui hoạch này, đến năm 2010, diện tích đất chuyên dùng của Thành phố sẽ tăng 2062 ha, chủ yếu sử dụng vào các loại đất nông nghiệp: 1176 ha, đất lâm nghiệp 528 ha… Cũng như một số tỉnh, thành phố phía Bắc, công tác quản lý đất đai của Thành phố sau khi luật đất đai 2003 có hiệu lực cơ bản dần ổn định. Tuy nhiên việc khai thác, SDĐ còn kém hiệu quả và việc triển khai thực hiện quy hoạch SDĐ còn chậm, do công tác đền bù GPMB có nhiều vướng mắc, thị trường BĐS khá trầm lắng. Từ năm 2003 đến nay, công tác triển khai cấp GCN QSDĐ còn chậm, cả về cấp GCN QSDĐ ở và cấp GCN QSDĐ cho các đơn vị SDĐ, đây là một nhược điểm lớn của QLNN về đất đai ở thành phố Hải Phòng.

4.4. Bài học rút ra cho Việt Nam và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về quản lý của Nhà nước đối với đất đai

Từ việc nghiên cứu tình hình quản lý đất đai ở Trung Quốc và một số tỉnh thành trong nước, bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác QLNN về đất đai ở nước ta nói chung và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng là:

(1). Hệ thống các văn bản pháp luật phải được nghiên cứu sâu sắc, khoa học và được ban hành đồng bộ, kịp thời, mang tính chất ổn định (tuy chỉ là tương đối nhưng vẫn phải đảm bảo trong thời gian nhất định 5 đến 10 năm), đồng thời các quy định pháp luật dù có điều chỉnh nhưng vẫn phải đảm bảo tính kế thừa.

Đây là một yêu cầu rất quan trọng nhất trong QLNN về đất đai; ở nước ta, tính không đồng bộ, thiếu ổn định trong chính sách pháp luật về đất đai là nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng mất ổn định trong quan hệ SDĐ trong xã hội. Thực tế cho thấy cả hai đợt “sốt đất” xảy ra ở nước ta vào hai giai đoạn khác nhau đều có nguyên nhân là sự tác động rõ nét của cơ chế, chính sách lên tâm lý người dân (Đợt sốt đất lần đầu vào năm 2002 là do đang chuẩn bị xây dựng bộ Luật Đất đai mới năm 2003, trong đó có quy định mở rộng quyền của NSDĐ; Đợt sốt đất lần thứ hai vào năm 2007 đến 2009 cũng tương tự như vậy).

(2). Phải xây dựng được hệ thống dữ liệu thông tin đất đai thống nhất, đồng bộ trên cơ sở công nghệ tin học điện tử hiện đại từ TW đến địa phương (ví dụ hệ thống quản lý Toren của Australia). Muốn đạt được điều đó cần phải đầu tư đồng bộ để có được hệ thống hồ sơ địa chính cơ sở (hồ sơ gốc) có độ tin cậy cao ở tất cả các địa phương trong cả nước. Thống nhất phương pháp phân loại, quản lý hồ sơ đất đai và công khai thông tin từ TW đến địa phương. Thực tế cho thấy hệ thống hồ sơ địa chính được lưu trữ ở nước ta rất kém, chắp vá, tạp nham không đáp ứng được yêu cầu quản lý. Việc triển khai lập hồ sơ địa chính ở các địa phương khác nhau đã không được tiến hành vào cùng một thời điểm như chỉ đạo của TW, số liệu tổng hợp của tất cả các cấp có độ chính xác thấp. Các thông tin về đất (như thay đổi về loại đất, diện tích, chủ SDĐ, và giá cả của đất trong cùng thời điểm…), không được cập nhật thường xuyên đầy đủ, vì vậy Nhà nước không thể quản lý chặt chẽ đất đai.

(3). Cần phải xác định việc đăng ký quyền về tài sản không chỉ là lợi ích của người dân mà đó chính là lợi ích của cả Nhà nước. Để làm tốt việc này cần phải có những biện pháp mạnh để tạo ra những sự thay đổi về mặt nhận thức của cả bộ máy quản lý và đội ngũ công chức nhà nước. Dân giàu thì nước mạnh, có tạo thuận lợi để các cá nhân và tổ chức được đăng ký quyền về tài sản (sở hữu BĐS trong đó có QSDĐ), thì người dân mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để đẩy mạnh việc khai thác giá trị của tài sản cho phát triển kinh tế. Nhà nước có nguồn thu ngân sách từ các chủ thể SDĐ trên cơ sở nắm chắc được nguồn tài nguyên đất. Vì vậy, việc tiếp tục đổi mới quan hệ sở hữu đất đai, gắn với việc quy định cụ thể hơn các quyền của NSDĐ, chính là chìa khoá để thực hiện việc công khai dân chủ quan hệ đất đai trong xã hội. Đây cũng chính là giải pháp chống tham nhũng hữu hiệu nhất (khi mọi người đều có đủ thông tin do được công khai khai thác các thông tin từ hệ thống, giới đầu cơ và công chức kém đạo đức không còn có cơ sở để hoạt động).

– Xu thế chung của tất cả các quốc gia trên thế giới là ngày càng tăng cường quyền lực của Nhà nước trong quản lý đất đai nhằm tăng cường sức cạnh tranh.

Xã hội càng phát triển tính cạnh tranh càng gay gắt, để đảm bảo thế mạnh trong cạnh tranh, công tác quản lý của Nhà nước phải mạnh và có hiệu lực cao. Tuy nhiên tăng cường quyền lực của Nhà nước không có nghĩa là hạn chế quyền của các chủ thể SDĐ. Quyền lực Nhà nước phải mạnh, để đảm bảo cho mọi chủ thể được hoạt động đúng khuôn khổ pháp luật quy định và mọi chủ thể đều được tự do phát

triển. Với các nước có công tác quản lý đất đai tốt, có hiệu quả SDĐ cao, hầu như các vi phạm pháp luật trong quản lý SDĐ đều bị xử lý rất nặng và rất triệt để. Đây chính là bài học quan trọng nhất: kỉ cương pháp luật có nghiêm minh thì xã hội mới ổn định và phát triển được.

Xu thế phát triển chung hiện nay của mọi quốc gia trên thế giới dù được tổ chức dưới hình thái kinh tế chính trị khác nhau, các nhà nước đều tập trung ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế. Dù là phát triển theo mô hình KTTT TBCN hay KTTT theo định hướng XHCN như ở Việt Nam, các quốc gia đều có xu thế mở cửa hội nhập trong một thể chế kinh tế chung. Phát triển kinh tế gắn với củng cố và tăng cường an ninh quốc gia trong các quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia, trong điều kiện toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải tìm ra được con đường phát triển riêng. Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đề ra. Đồng thời phát triển đô thị theo hướng bền vững, đòi hỏi Nhà nước phải chủ động điều chỉnh được quá trình ĐTH theo định hướng đúng và có hiệu quả. Vì vậy tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai, một nhân tố không thể thiếu trong quá trình ĐTH cũng là một tất yếu khách quan và là yêu cầu rất quan trọng.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về quan hệ sở hữu đất đai và địa tô TBCN, chương 1 của luận án đã làm rõ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Nước CHXHCN Việt Nam trong việc quy định quan hệ sở hữu đối đất đai thuộc về toàn dân. Đồng thời với việc xác định QSDĐ là một loại hàng hoá đặc biệt và trao cho NSDĐ những quyền cơ bản tương đương với QSH hạn chế về đất đai (đồng sở hữu), đã thể hiện sự sáng tạo của Đảng trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay. Xuất phát từ phân tích cơ sở kinh tế của việc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình ĐTH, dựa trên cơ sở lý luận về quan hệ sở hữu và lý luận về địa tô TBCN của C.Mác. Luận án đã chứng minh, lý giải những căn cứ của việc Nhà nước có quyền và có nghĩa vụ xác định đúng đắn các khoản thu và lượng hoá các khoản thu từ đất cho ngân sách, đặc biệt là với đất đai đô thị. Tuy nhiên với bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, các chính sách tài chính về đất phải xây dựng trên cơ sở giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích của toàn dân và lợi ích của NSDĐ. Đây cũng là cơ sở quan trọng làm căn cứ để đề xuất, kiến nghị những phương hướng, giải pháp cụ thể với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và với Nhà nước nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu .

Thông qua nội dung nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực tiễn ở nước ta, cùng với việc nghiên cứu xem xét những nội dung cơ bản của công tác QLNN về đất đai, nghiên cứu QLNN về đất đai ở Trung Quốc và một số tỉnh, thành phố trong nước. Từ đó luận án phân tích, so sánh đối chiếu, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về đất đai trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay

Hiện tại Tri thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Làm Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo