Lý luận chung về người đồng tính và quyền của người đồng tính

5 (100%) 1 vote

Người đồng tính trước đây đề cập nhiều đến thái độ kỳ thị của xã hội đối với người đồng tính, nhận thức của một nhóm người về người đồng tính, hay tập trung chủ yếu vào vấn đề hôn nhân đồng tính. Luận văn đưa ra nhận định và kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền của người đồng tính hiện nay.

lý luận chung về người đồng tính và quyền của người đồng tính
Lý luận chung về người đồng tính và quyền của người đồng tính

1. Lịch sử về đồng tính ở một số nơi trên thế giới

1.1. Lịch sử đồng tính ở Phương Tây

Ở phương Tây, theo dấu vết cổ nhất mà các nhà khảo cổ học đã khám phá được thì đồng tính xuất hiện cách đây khoảng 6000 năm, đó là bộ hài cốt được tìm thấy tại ngôi làng Prague, Cộng hòa Czech… và qua các tài liệu văn học, mỹ thuật truyền thuyết thì đồng tính được tìm thấy ở La Mã, Hy Lạp thời thượng cổ. Ở thời cổ đại Hy Lạp có quan điểm khá thông thoáng đối với chuyện đồng tính luyến ái. Quan hệ đồng tính nam không chỉ là sở thích mà được xem như là một thể chế trong xã hội. Một quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi hơn, ở khoảng chừng 20 hoặc 30 mấy tuổi, được gọi là erastes, và một cậu trai chưa có râu là eromenos hay paidika, trở nên là một mẫu mực lý tưởng của truyền thống. Mối quan hệ trên có lợi cho cả hai. Người đàn ông lớn tuổi hơn sẽ chăm sóc, giáo huấn, bảo vệ, yêu thương, và là một tấm gương cho người yêu trẻ, trong khi người yêu trẻ, eromenos hoặc paidika, thì dâng hiến sắc đẹp, sự trẻ trung, niềm ngưỡng mộ, và tình yêu [46]. Thêm một minh chứng nữa cho quan điểm về đồng tính luyến ái trong xã hội Hy Lạp cổ đại được xem như là khẩu vị và sự ưa thích chứ không phải đạo đức, huyền thoại về đội quân Thebes gồm 150 cặp đồng tính, nổi tiếng trong lịch sử với sự dũng mãnh trên chiến trường của họ.

Plato – một nhà triết học thời cổ đại đã viết rằng, chuyện đồng tính trong quân đội được khuyến khích vì “tình yêu sẽ biến đổi một kẻ nhát gan nhất trở thành một người hùng đầy năng lực”, chính tình yêu đã cho họ tinh thần chiến đấu. Đội quân gồm 150 cặp đồng tính nam trong lịch sử Hy Lạp chính là minh chứng cho điều đó. Bên cạnh những ghi chép lịch sử về đồng tính nam thì có nhiều tài liệu ghi chép về sự tồn tại đồng tính nữ ở xã hội Hy Lạp cổ đại, không những vậy mà còn phát triển và được xã hội Hy Lạp khi đó rất cởi mở.

Nữ thi sĩ Sappho sống trên hòn đảo thơ mộng Lesbos của thời Hy Lạp xưa vào khoảng năm 625 đến 570 trước Công nguyên, Sappho đã viết nhiều tác phẩm hầu hết là những bài thơ tình về người phụ nữ mà bà yêu. Tác phẩm “Sappho of Lesbos” (Sappho của đảo Lesbos) của tác giả Arthur Weigall đã được xuất bản lần đầu tiên trên phụ trương văn học của tạp chí Times uy tín, sau khi chúng được tìm thấy vào năm 2004. Đây là một tác phẩm thơ tình cách đây 2.600 năm của Sappho, bày tỏ tình cảm yêu đương với một người bạn cùng giới của Sappho. Nổi tiếng và gây sốc cho nhiều thế hệ Sappho đã làm tốn không ít giấy mực của nhiều tác giả trong các tác phẩm thi ca và hội họa. Tất cả tạo nên tính chất bất tử của huyền thoại Sappho. Hơn nữa, một điều nữa tạo nên tính chất bất tử của huyền thoại Sappho. Theo những ghi chép lịch sử cho đến ngày này phát hiện ra thì không có nước nào như ở Hy Lạp. Bởi các quốc gia hầu hết lịch sử ghi chép lại là đồng tính nam không nói đến đồng tính nữ. Hơn nữa, xã hội Hy lạp khi đó nhờ có những vần thơ của Sappho mà có cái rộng mở hơn đối với những người phụ nữ bị đồng tính. Tất cả đó là lý do cho sự ghi nhận và công nhận một danh từ “lesbian” – từ ghép của Lesb- là tên đảo và -ian chỉ người sống trên đảo Lesbos. Sau này, ở thế kỷ XX, lesbian lại có lúc được gọi theo tên của Sappho là Sapphist.

Liên quan đến pháp luật thời kỳ này, có nhiều tài liệu bằng văn bản ghi lại các quy định pháp luật điều chỉnh các dạng khác nhau của hành vi đồng tính. Các quy định pháp luật ngăn chặn mại dâm nam cũng được áp dụng cho đồng tính nam. Hay các quy định về cưỡng dâm đều áp dụng cho tất cả các hành vi tình dục dù đó là dị tính hay đồng tính trong tự nhiên.

Cũng như ở Hy Lạp cổ đại, xã hội La Mã cổ đại cũng rất cởi mở đối với vấn đề đồng tính, thậm chí yêu đương đồng tính nam và đồng tính nữ là chuyện bình thường và rất phổ biến, nhất là trong giới thượng lưu. Khác với luật tục Hy Lạp cổ đại, người La Mã không cấm quý tộc quan hệ đồng tính với nam nô lệ. Vì thế quý tộc La Mã còn mua nam nô lệ để phục vụ nhu cầu tính dục mặc dù họ đang có vợ con. Nhiều quý tộc và hoàng đế không thoát khỏi xu hướng này. Danh tướng Julius Caesar (tướng Julius Caesar (năm 100-44 TCN) giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi nền cộng hòa La Mã thành đế quốc La Mã) và Hoàng đế Elagabalus (trị vì năm 218-222) là hai ví dụ điển hình.

Thời kỳ Trung cổ, là giai đoạn tiếp theo bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc La Mã ở thế kỷ V, kéo dài tới thời Phục Hưng thế kỷ XIII. Trong suốt một nghìn năm thời Trung cổ, toàn bộ Châu Âu như bị bao trùm bởi một bóng đen kìm hãm sự phát triển nhiều mặt, bị thống trị bởi tôn giáo và nhà thờ, với sự biến mất của triết học thay vào đó là giáo lý Thần học của các tu sĩ mang nặng tính giáo điều. Hầu hết, mọi vấn đề trong xã hội đều chịu ảnh hưởng và sự kiểm soát của tôn giáo, thậm chí tất cả các nhu cầu thiết yếu của con người đều bị kiểm soát chặt chẽ bởi tôn giáo.

Chính vì vậy, những người có quan hệ đồng tính cũng không ngoại trừ thậm chí còn là thời kỳ khắc nghiệt nhất trong lịch sử Châu Âu. Theo quan điểm của Giáo hội Thiên Chúa giáo thời trung cổ thì tình dục hoàn toàn không phải hành động thể hiện tình yêu hay mang lại niềm vui thích mà chỉ đơn thuần phục vụ mục đích duy trì nòi giống của loài người. Bởi thế cho nên “chuyện ấy” chỉ được chấp nhận dưới sự bảo trợ của hôn nhân. Nói một cách đơn giản, một người đàn ông và một người đàn bà được “yêu” nhau khi và chỉ khi họ là vợ chồng. Mọi hình thức quan hệ tình dục trước hôn nhân hay ngoài hôn thú đều bị coi là tội lỗi nghiêm trọng và bị trừng phạt nặng nề. Thậm chí sáng tạo khi “yêu” cũng có tội. Chính vì quan điểm khắt khe và độc đoán của tôn giáo đối với tình dục như vậy, nên đồng tính luyến ái theo giáo lý của Giáo hội Thiên chúa thời kỳ này là “hành vi chống lại tự nhiên” do đó bị cấm đoán triệt để. Từ khoảng thế kỉ XII, nhà thờ bắt đầu áp dụng những hình phạt cực kì nghiệt ngã cho những kẻ mắc tội lỗi này. Họ có thể bị thiêu sống, bị tra tấn tới chết hoặc nhốt vào lồng, treo trên cao và bỏ đói cho đến chết. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy rất nhiều nhân vật lớn trong thời Trung Cổ có quan hệ đồng tính, từ các vị vua chúa cho đến quí tộc, tu sĩ. Nhưng có điều họ thường ngụy trang cho mình bằng cách vẫn kết hôn với người khác giới, sinh con duy trì nòi giống và vẫn có người tình đồng tính bên ngoài.

Đến cuối thời Trung Cổ bắt đầu giai đoạn Phục Hưng Châu Âu. Thời kỳ Phục Hưng diễn ta trong khoảng 3 thế kỷ từ thế kỷ XIV đến XVI. Đây là thời kỳ diễn ra hai phong trào, một là phong trào “cải cách tôn giáo”, hai là phong trào văn hóa Phục Hưng diễn ra trên nhiều lĩnh vực như văn học, nghệ thuật, khoa học và triết học. Phong trào Văn hóa Phục hưng diễn ra đầu tiên ở nước Ý, vì nơi đây, từ thế kỷ XIV đã có những thành thị tự do, phát triển như những quốc gia riêng biệt như Florence, Milan, Venise, Sienne… sau đó lan ra các nước khác. Khái niệm Phục hưng có mặt trong tất cả những công trình của thời kỳ này. Từ các nhà khoa học, bác học, triết gia, đến các nhà kiến trúc, họa sĩ và cả nhà cầm quyền đều tin rằng, chỉ có sự nghiên cứu thời đại hoàng kim Hy – La cổ đại mới có thể đưa con người tới sự minh triết và vĩ đại. Xét về mặt lịch sử, thời kỳ Phục hưng là thời kỳ chuyển tiếp từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản. Qua sự chuyển tiếp này, con người được trở về với chính mình sau một cuộc hành trình đầy gian khổ suốt mười thế kỷ. Đây là thời đại mà con người một lần nữa đã được phát minh ra. Vấn đề hạnh phúc, tình yêu, cái đẹp, khoái lạc được nâng lên tầm vũ trụ. Chủ nghĩa nhân văn là trào lưu tư tưởng xuyên suốt thời kỳ này. Nó thể hiện khát vọng của con người và đáp ứng nhu cầu của thời đại.

Mặc dù, nhìn tổng quan có thể nói thời Phục Hưng là thời kỳ vĩ đại của lịch sử, nền văn minh mới hướng con người đến với tự do, và làm chủ vũ trụ. Nhưng đối với người đồng tính thì đây là thời kỳ khởi đầu cho những sự đàn áp. Thời kỳ này, hành vi tình dục đồng tính được gọi là kê gian. Những người tham gia được gọi là sodomites. Điều này khác với thuật ngữ “hành vi chống lại tự nhiên” không chỉ bao gồm kê gian, mà còn bao gồm bất kỳ giao hợp tình dục nào không nhằm mục đích duy nhất của sự sinh sản. Tuy nhiên, bất chấp  luật pháp và những hình phạt nặng nề của giai đoạn này, quan hệ đồng tính vẫn phổ biến trong cuộc sống hầu hết ở Châu Âu, Anh, Pháp, Ý là những ví dụ điển hình. Miền Bắc nước Ý, đặc biệt là Florence và Venice, nổi tiếng về chuyện đồng tính. Tuy nhiên, như đã nói không được pháp luật ở đây thừa nhận. Các nhà chức trách bắt giam, phạt và khởi tố những người có quan hệ đồng tính. Có lẽ cùng với sự phát triển vượt bậc về khoa học và triết học về con người, sự vật trong vũ trụ, sự đàn áp, trừng phạt nặng nề những người có quan hệ đồng tính nên tạo điều kiện để hình thành nên những chương mới cho lịch sử đồng tỉnh ở các nước Phương Tây thời Cận đại.

Những năm cuối 1860, nghiên cứu về người đồng tính được bắt đầu lần đầu tiên ở Đức, nơi đã gắn liền với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ sự ngăn cấm đối với hành vi đồng tính [45]. Thuật ngữ “đồng tính luyến ái” và “người đồng tính” không tồn tại cho đến cuối những năm 1860 khi chúng lần đầu xuất hiện ở Trung Âu. Vào năm 1864, Karl Heinrich Ulrichs là người đầu tiên viết về khái niệm của quan hệ đồng tính, ông được coi là “ông tổ của phong trào giải phóng quyền đồng tình nam” và Karoly Maria Kertbeny đã đặt nền móng thực sự cho những thuật ngữ này. Những thuật ngữ mà ông đã sử dụng trong cuộc đấu tranh vì “quyền của người đồng tính” ở Đức nhằm xóa bỏ tình trạng ngăn cấm quan hệ đồng tính. Và cũng trong giai đoạn này một lĩnh vực nghiên cứu mới được bắt đầu, đó là “tình dục học” nghiên cứu về quan hệ tình dục và cụ thể là quan hệ đồng tính. Và cũng bắt đầu từ đầu những năm 1860 này, người đồng tính vận động đấu tranh vì quyền lợi hợp pháp của người đồng tính và các chuyên gia về tình dục cũng tán thành rằng quan hệ đồng tính không phải là một tội lỗi hay tội ác.

Năm 1886, Richard von Kraftt-Ebing (1840-1902) là một chuyên gia tình dục học lỗi lạc. Ông đã phá vỡ học thuyết của Ulrichs về quan hệ đồng tính. Mặc dù ông cũng đã cho rằng đồng tính là bẩm sinh nhưng ông xem là một dạng khuyết điểm bẩm sinh thể hiện là giới tính bị đảo ngược và bị thoái hóa. Sau này cũng có nhiều chuyên gia cũng có cùng quan điểm với Ulrichs như Magnus Hirschfeld (1868-1935), một trong những người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì quyền của người đồng tính. Vượt ra khỏi nước Đức, Havelock Ellis (1859-1939) là một trong những người ủng hộ quyền của người đồng tính sớm nhất ở Anh. Ông cũng đã phổ biến quan điểm đồng tính là giới tính dị thường bị đảo ngược, không phải bệnh lý bẩm sinh. Trái ngược với quan điểm trên, Sigmund Freud (1856-1939) có quan điểm đồng tính là một bệnh lý. Quan điểm này của ông đã có tầm ảnh hưởng trong nhiều năm và cho đến ngày nay, vẫn tồn tại quan điểm này.

Năm 1948, Alfred Kinsey đã xuất bản cuốn “Sexual Behavior in the Human Male”. Về mặt lịch sử, tác phẩm của ông đã góp phần đáng kể vào sự phát triển khái niệm “người đồng tính” hiện nay. “Không thể phân tách đàn ông thành hai loại riêng biệt là dị tính và đồng tính luyến ái cũng như không thể chia thế giới thành cừu và dê. Thế giới tự nhiên hiếm khi được phân chia thành những loại riêng biệt… Trong mọi khía cạnh, thế giới sống này là liên tục. Dựa trên nguyên lý đó, cần thiết đề xuất một cách phân loại mới bằng cách thêm vào hai loại hoàn toàn dị tính và hoàn toàn đồng tính những loại khác mà chúng khác nhau một cách tương đối. Một người có thể nằm đâu đó trên thang đánh giá này trong một thời điểm nào đó của cuộc đời… Một thang đo 7 điểm một chiều thể hiện những thiên hướng tính dục” là kết quả nghiên cứu của ông được viết trong tác phẩm trên. Đóng góp của ông cho sự phát triển khái niệm ngày nay, tình dục hướng đến giới tính khác cũng là vấn đề xu hướng tính dục giống như đồng tính luyến ái và xu hướng tính dục đó không thay đổi [48].

Tuy có một lịch sử tồn tại từ cổ đại, thậm chí ở nhiều giai đoạn còn là phổ biến và được ca ngợi cùng với sự xuất hiện phong trào đấu tranh quyền của người đồng tính dựa trên các nghiên cứu khoa học những việc làm thay đổi quan niệm đã thống trị từ khi có con người là điều không dễ dàng, đơn giản. Tuy vậy, cũng đã có những tín hiệu tốt cho những người đang đấu tranh và ủng hộ người đồng tính trên thế giới, một số nước đã gỡ bỏ lệnh cấm quan hệ đồng giới, đi đầu là quốc gia Illinois (tiểu bang Hoa Kỳ) hợp pháp hóa hành vi đồng tính vào năm 1961 [49].

Tuy phong trào đấu tranh vì quyền của người đồng tính được mở đầu tại Đức vào cuối những năm 1860, nhưng chỉ diễn ra nhỏ lẻ ở một số cá nhân đứng lên dùng ngòi bút và những tri thức bản thân khám phá, thể hiện quan điểm cá nhân trong các tác phẩm của mình, sau đó xuất bản nên hiệu ứng tác động chưa thực sự mạnh mẽ. Chỉ đến “Bạo loạn Stonewall” là một chuỗi những cuộc biểu dương lực lượng một cách bạo động và tự phát chống lại một cuộc bố ráp của cảnh sát vào sáng sớm ngày 28 tháng 6 năm 1969 tại quán rượu Stonewall, làng Greenwich ngoại ô Thành phố New York. Sự kiện này thường được nhắc tới như là vụ việc đầu tiên trong lịch Hoa Kỳ khi mà cộng đồng đồng tính phản kháng lại một hệ thống của chính phủ nhằm trừng trị những người tình dục thiểu số và nó trở thành sự kiện đánh dấu sự bắt đầu của cuộc đấu tranh cho quyền lợi của người đồng tính ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới.

Người Mỹ đồng tính vào những năm 1950 và 1960 phải đối diện với một hệ thống luật pháp kỳ thị rất khắc nghiệt. Bởi vậy, năm cuối thập niên 1960 rất căng thẳng khi có nhiều phong trào xã hội tích cực bao gồm Phong trào Nhân quyền cho người Mỹ gốc Phi (African American Civil Rights Movement), Phản văn hóa những năm 1960 (Counterculture of the 1960s) và Phong trào phản chiến trong Chiến tranh Việt Nam. Những ảnh hưởng này cùng với một môi trường tự do của Làng Greenwich đã xúc tác cho bạo loạn Stonewall. Cuộc bạo loạn đã gây được nhiều chú ý và nhanh chóng tạo thành làn sóng tạo thành những nhóm hoạt động tập trung nỗ lực thành lập những địa điểm cho người đồng tính công khai xu hướng tính dục của mình mà không bị bắt bởi cảnh sát. Sau bạo loạn Stonewall, người đồng tính ở thành phố New York phải đối diện với một thử thách là tạo nên một cộng đồng thống nhất từ những người thuộc giới tính, giai cấp và thế hệ khác nhau. Trong vòng 6 tháng, 2 tổ chức hoạt động của người đồng tính được thành lập ở New York tập trung vào những chiến thuật đấu tranh và 3 tờ báo ra đời nhằm ủng hộ quyền cho người đồng tính. Trong vòng vài năm, nhiều tổ chức cho người đồng tính được thành lập trên toàn Hoa Kỳ và trên thế giới, Vào ngày 28 tháng 6 năm 1970, những cuộc diễu hành đồng tính đầu tiên diễn ra ở Los Angeles, Chicago và New York để tưởng nhớ bạo loạn Stonewall. Những cuộc diễu hành tương tự cũng được tổ chức ở những thành phố khác. Ngày nay, những sự kiện của người đồng tính được tổ chức hằng năm trên khắp thế giới cho đến cuối tháng 6 để kỷ niệm sự kiện này.

Tồn tại ở bất cứ đâu có con người sống, ở mọi tầng lớp, mọi nền văn hóa và ở bất cứ giai đoạn nào của lịch sử thì đều có sự hiện diện của quan hệ đồng tính. Nhưng chỉ là thiểu số trong xã hội nên sự hiểu biết của mọi người chỉ hạn hẹp ở những nơi đông dân cư, ở những nhân vật nổi bật trong xã hội. Nên sự ghi chép về quan hệ đồng tính, người đồng tính không phải là nhiều, tuy thế chúng ta vẫn có thể hiểu được cuộc sống của những người đồng tính khi đó và cho chúng ta những cái nhìn khách quan hơn đối với người đồng tính.

Xem thêm >>> Một số lý luận cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

1.2. Lịch sử đồng tính ở Phương Đông

Việc giải phóng sức lao động và sự tự do của con người sớm hơn các nước phương Đông, nhưng quan niệm về quan hệ đồng tính của phương Tây bị chi phối của Cơ đốc giáo nên cho rằng đồng tính là “hành vi trái tự nhiên”, tội lỗi và cần ngăn cấm, trừng phạt. Những người Tây phương đến các khu này thường sửng sốt về việc nó được chấp nhận và trưng bày công khai. Tại châu Á việc ái tình đồng tính là một việc hằng ngày từ xưa.

1.2.1. Lịch sử đồng tính ở Trung Quốc

Katchadouria trong cuốn Cơ sở của hành vi tính dục con người: “Trong số những người đồng tính luyến ái, có người nghèo cũng có người giàu, có người được giáo dục đến nơi đến chốn cũng có những người vô tri vô thức, có người có quyền lực cũng có người chẳng có chút quyền lực nào, có người thông minh và cũng có người ngu ngốc. Đồng tính luyến ái tồn tại ở mọi dân tộc, mọi giai tầng, mọi chủng tộc và mọi tín ngưỡng tôn giáo….”. Và tất nhiên, không thể thiếu là câu trích dẫn quen thuộc trong thiên “Hội ẩm” của Platon: “Nhân loại thời viễn cổ vốn có ba loại tính biệt là “song trùng nam tính” (Doppelmann), “song trùng nữ tính” (Dopplweib), và “nam nữ kiêm tính” (Mannweib)”. Đồng nhất với quan điểm đó, Thi Diệp – một trong những tác giả nổi tiếng Trung Quốc – người được coi là “khai sơn phá thạch” trong lĩnh vực nghiên cứu về văn học đồng tính. Trong công trình nghiên cứu Nghiên cứu viết về đồng tính luyến ái trong văn học cổ đại Trung Quốc, một trong những cuốn sách được xếp vào bộ “Nhân dân xã khoa tân trước tùng thư” đã dẫn chứng những lời đó ngày từ lời nói đầu và bà cũng chỉ ra rằng đồng tính luyến ái tồn tại ở Trung Quốc xuyên suốt từ thời tiên Tần cho đến ngày nay. Và cũng theo nghiên cứu của Pan Guangdan – nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên về quan hệ đồng tính trong lịch sử Trung Hoa cũng đã chỉ ra rằng tài liệu đầu tiên đề cập đến quan hệ đồng tính là “Sử ký nhà Thương”. “Luan Feng” là từ ngữ được sử dụng để mô tả về quan hệ đồng tính trong tài liệu này. Trong đó có ghi lại rằng: Tướng Y Doãn của nhà Thương (thế kỷ 16-11 trước công nguyên) đã đề ra một số hình phạt đối với “10 tội nặng” của các quan trong triều, trong đó có tội quan hệ tình dục đồng giới. Trong quá trình nghiên cứu của mình, ông Pan Guangdan đã rất ngạc nhiên khi phát hiện có ghi chép về câu phương ngôn mà trở nên rất phổ biến vào thời nhà Chu (từ thế kỷ 11 đến 256 tr.CN) tiếp theo nhà Thương, “những anh chàng đẹp trai có thể khiến các hoàng đế mất cả trí khôn”. Những ghi chép của lịch sử của Trung Quốc được tìm thấy có niên đại cổ nhất từ đời nhà Thương và quan hệ đồng tính cũng xuất hiện ở thời này và còn cho thấy nó rất phổ biến. Con đường lịch sử của tình dục đồng tính nam trải dài từ vương triều này sang vương triều khác, từ thời điểm cổ đại, và không bao giờ bị mất đi. Những câu chuyện đồng tính ở thời nào cũng có sách sử ghi chép lại. Vào thời Xuân Thu Chiến quốc (từ 722 đến 481 TCN) nổi tiếng với “mối tình chia đào” của Vua Vệ Linh Công với Di Tử Hà, chuyện “mê Long Dương” của Ngụy vương. Đến thời thịnh vượng như triều Hán, những cuộc tình đồng tính của các đế vương càng trở nên phổ biến và bình thường. Theo ghi chép của Sử ký và Hán thư, những bộ sử sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc, trong số 25 Hoàng đế triều Tây Hán (206 tr.CN – 24 sau CN) thì có tới 10 vị có hiện tượng “thích đàn ông”. Điều này có nghĩa rằng có tới gần một nửa con cháu của Lưu Bang có khuynh hướng yêu người cùng giới. Nên nhiều người đã gọi triều đại nhà Hán là triều đại của những Hoàng đế đồng tính. Trong số đó, nổi tiếng nhất với chuyện đồng tính của vua Hán Văn Đế Lưu Hằng và Hán Ai Đế Lưu Hân. Gắn với chuyêṇ tinh̀ đồng giới của Hán Ai Đế Lưu Hân đólà“mối tình cắt tay áo” – lối nói giảm để chỉ quan hệ yêu đương đồng tính của những người vốn vẫn e ngại dư luận.

Từ đời Hán về sau, số lượng các vị Hoàng đế đồng tính có giảm nhưng không phải là hoàn toàn biến mất.

Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, quan hệ đồng tính còn trở nên phố biến hơn trong tầng lớp quan lại, và thực tế này cũng được đề cập đến trong nhiều tài liệu chính thức và nó còn trở thành trào lưu của các thi nhân thời này. Nguyên nhân của trào lưu này, tác giả Thi Diệp đã nói rằng do sự thịnh hành của tư tưởng “huyền học”. Sỹ phu thời này sùng thượng tinh thần tự do, tự nhiên và phác thực nên họ theo đuổi đời sống phóng thích, hành động theo ý mình và không ngần ngại bộc lộ tính cách cá nhân, thoát khỏi sự ràng buộc của tập tục. Đến thời nhà Tùy (581 – 618), quan hệ đồng tính dần biến mất khỏi các ghi chép chính thức. Thực tế này kéo dài đến đời Đường (618-907) tới nhà Nguyên (1271-1263).

Và thậm chí ở thời nhà Đường các sỹ phu có phong khí ung dung, khoáng đạt, hào phóng vào bậc nhất trong lịch sử sĩ phong Trung Quốc. Đây cũng được coi là giai đoạn phát triển rực rỡ của thơ, cổ văn, truyền kỳ, là giai đoạn mà kẻ sĩ phát huy cao nhất những cá tính riêng cao ngạo và phóng túng nhưng lại thiếu vắng rất nhiều những tác phẩm văn học ghi chép lại đời sống tình cảm đồng tính luyến ái của chính thời đại này. Nhưng tuy vậy, lại không thiếu những bộ sách ghi chép lịch đại sủng hạnh, những câu chuyện kinh điển về đồng tính luyến ái trong lịch sử trước đó như một cách mượn chuyện thời trước mà phát huy xa gần, tập trung nhiều nhất là trong Nghệ văn loại tụ. Ảnh hưởng tiếp theo của nó chính là Thái bình quảng ký của đời Tống, cũng được tác giả xếp vào một trong những tập chép nhiều dật văn về đồng tính luyến ái.

Sau đó, đồng tính lại được đề cập trở lại cả trong những ghi chép lịch sử và thường xuyên xuất hiện trong nhiều tác phẩm ở thời nhà Minh (1368-1644) và Thanh (1644-1911). Hồng Lâu Mộng của Táo Tuyết Cần là một trong những tác phẩm nổi tiếng ở Trung Quốc. Hồng Lâu Mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều truyền thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương, giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao một lý tưởng cho cuộc sống. Trong đó, ít nhất ba nhân vật nam được mô tả có quan hệ yêu đương đồng tính. Dưới ngòi bút chân thực và giản dị tác giả đã mô tả đan xen, sinh động con người, sự vật và sự việc khi đó để bộc lộ tinh thần và khát vọng tự do của con người khỏi lễ giáo phong kiến.

Đến thời nhà Thanh, vị vua được coi là “thập toàn”, vị “đại đế” của triều Thanh cũng có một mối tình tai tiếng với người đồng giới. Càn Long là vị Hoàng đế nổi tiếng bậc nhất của triều đình Mãn Thanh, vương triều cuối cùng ở Trung Quốc. Nhắc tới vị Hoàng đế này, người ta thường gắn liền với mỹ từ “Đại đế”, chỉ những Hoàng đế có công trạng lớn. Tuy nhiên, ít người biết rằng, vị đại đế oai hùng của mình lại cũng là một người “thích đàn ông”. Và điều người ta ít ngờ tới nhất chính là, người tình đồng tính của Càn Long đại đế chính là đại gian thần nổi tiếng không kém gì ông vua: Hoạn quan Hòa Thân.

Ở giai đoạn nhà Thanh đặc biệt, lần đầu tiên xuất hiện tiểu thuyết đồng tính, đó là tác phẩm “Phẩm hoa bảo giám” của Trần Sâm. Những ghi chép của lịch sử cổ đại Trung Quốc về các quan hệ đồng tính thì chủ yếu ghi lại các mối quan hệ đồng tính của tầng lớp quan lại, vua chúa và một điểm đáng chú ý ở Trung Quốc cổ đại đó là sự điềm tĩnh và bình thản trước hiện tượng tình dục đồng giới là thái độ phổ biến. Không tán dương mà cũng chẳng phê phán. Dường như nó không gây hại gì đến việc duy trì đạo đức gia đình truyền thống. Hơn nữa, nền văn học của Trung quốc về đề tài đồng tính xuất hiện khá sớm và rất phát triển qua các thời kỳ, đặc biệt phát triển rực rỡ dưới mọi thể loại dưới thời nhà Minh, nhà Thanh. Tuy nhiên, cũng trong thời trị vì nhà Thanh, năm 1740 chiếu chỉ lần đầu tiên, đã ban hành quan hệ tình dục đồng giới là phi pháp, đó là giữa những người đồng tính trưởng thành tự nguyện giao hợp đồng giới.

Trong những năm cách mạng văn hóa (1966-1976), những người đồng tính ái đã phải đối mặt với tình trạng ngược đãi tồi tệ nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nhà nước đã xem đồng tính ái là một sự ô nhục xã hội, hay là một hình thức của bệnh tâm thần. Mặc dù bị đối xử tệ hại như vậy, nhưng cũng không có quy định của pháp luật chống lại tình dục đồng giới.

Cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, tình hình thay đổi đáng kể, Tổ chức phân loại và chẩn đoán rối loạn tâm thần Trung Quốc đưa đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào ngày 20 tháng 1 năm 2001. Tình hình tiếp tục được cải thiện. Những cuộc thăm dò vào năm 2000 cho thấy người Trung Quốc ngày càng cởi mở hơn với những người đồng tính. Sự ra đời của quầy bar dành cho người đồng tính do Sở y tế thành phố Đại Lý tỉnh Vân Nam lập ra. Những điều đó càng chứng tỏ đồng tính tồn tại không phải do yếu tố môi trường xã hội tạo nên và nó cũng không vì sự kỳ thị của mọi người, thậm chí từ áp lực của xã hội mà mất đi. Năm 2004 lần đầu tiên các cơ quan chức năng Trung Quốc công bố số liệu cho biết, nước này có khoảng từ 500 – 1000 người đồng tính nam, trong đó đại đa số là những thanh niên có học vấn. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của những câu lạc bộ, quán bar dành cho người đồng tính đã thể hiện rõ nét sự chuyển biến trong nhận thức xã hội Trung Quốc về người đồng tính. Cũng trong năm 2004, nhà tình dục học nổi tiếng Lý Ngân Hà, cũng là người đồng tính, đã cố gắng hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính trong Quốc hội (Hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính ở Trung Quốc năm 2000 – 中国同性婚姻合法化 và Đề án hôn nhân đồng tính Trung Quốc năm 2004 – 中国同性婚姻提案). Theo luật pháp, cần thiết phải có 35 chữ ký đại biểu để đưa một vấn đề ra thảo luận tại Quốc hội. Bà đã thất bại vì thiếu sự ủng hộ của nhiều đại biểu. Nhiều học giả cũng như người đồng tính cho rằng việc hợp pháp hóa trong một tương lai gần là điều khó khăn.

Tại Quốc hội năm 2006, bà lại đề trình dự thảo về vấn đề này một lần nữa. Nhiều trang web kêu gọi thành viên ký tên ủng hộ cho dự thảo này. Tuy nhiên theo như dự đoán, dự thảo này lại không được thông qua.

Hiện tượng đồng tính tồn tại suốt chiều dài lịch sử, mặc dù không được ca ngợi, tán tụng, không tẩy chay và ở nhiều giai đoạn còn trở thành trào lưu sáng tác văn học của nhiều thi sĩ và trong lịch sử Trung Quốc đi đầu trong việc chấp nhận quan hệ đồng tính. Những bước chuyển của lịch sử, kéo theo là thay đổi xã hội và nhận thức của con người đã đẩy người đồng tính vào góc tối, phải sống giấu mình. Cho đến ngày nay, thì vấn đề đồng tính lại đang dần dần hé mở ra con đường mới tự do hơn và được Nhà nước, xã hội chấp nhận, tôn trọng và bảo đảm các quyền cho nhóm người đồng tính.

Tham khảo thêm >>>  Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học tại các trường học

1.2.2. Lịch sử đồng tính ở Nhật Bản

Là một trong những nước có ghi chép lịch sử về tình dục đồng giới sớm nhất Châu Á, có những giai đoạn, mối quan hệ vô cùng nhạy cảm này rất được ủng hộ tại Nhật Bản. Bởi vậy, đến ngay cả quan hệ đồng tính nam nam của tầng lớp cao quý trong xã hội như các võ sỹ đạo Samurai cũng một thời được coi là dạng tình yêu thuần khiết và cao quý nhất.

Phật giáo và Nho giáo lần đầu du nhập vào Nhật Bản năm 513 và 522. Hơn nữa, hầu hết đến từ Hàn Quốc cùng với nghệ thuật viết. Tuy nhiên, không có một tài liệu viết nào tồn tại cho đến thế kỷ VII. Điều có ý nghĩa đặc biệt là mặc dù triều đình Yamato đã thông qua những tài liệu viết bằng tiếng Trung Quốc, lịch Trung Quốc và một bộ máy nhà nước kiểu Trung Quốc, và thực tế một Hiến Pháp đã được ban hành bởi Hoàng tử Shotoku vào năm 604 đã ghi nhận Phật giáo là quốc giáo của quốc gia này. Do đó, Nhật Bản trở thành quốc gia với ba tôn giáo: Phật giáo, Nho giáo và Shinto giáo do tổ tiên truyền lại.

Trong các tu viện Phật giáo ở cuối thời kỳ cổ đại Nhật Bản, giai đoạn Heian, 794 – 1192 là một hình thức thể chế hóa các quan hệ đồng tính. Và được biết dưới tên gọi “nanshoku”.

* Nanshoku và các thầy tu Phật giáo

Theo quan điểm đạo đức về quan hệ đồng tính ở Nhật Bản cổ xưa, cả đạo Shinto và Phật giáo đều không cho rằng quan hệ đồng tính là tội lỗi. Shinto là một tín ngưỡng đã dạy rằng sự hài hòa và thiêng liêng của cuộc sống con người, tự nhiên và tôn trọng con người và đời sống riêng tư của mỗi người. Mặc dù đạo Shinto không có một hệ thống thần học và lý luận về tình dục, nhưng khi bàn luận về tình dục thì bao giờ cũng coi đó là một điều tốt, một “con đường” xuất phát từ tổ tiên. Tới tận bây giờ người ta vẫn có thể chứng kiến những ngày hội làng có những dương vật tạc bằng gỗ khổng lồ được đem ra khỏi điện thờ và rước quanh ruộng đồng để cầu xin sự mầu mỡ. Từ nam sắc chỉ quan hệ nam – nam được dùng phổ biến ở Nhật Bản cổ xưa. Hành vi tình dục đồng giới được đạo Shinto chấp nhận bởi vì nó không phá vỡ tính cộng đồng, cũng không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người mà đạo Shinto luôn đặt con người trong mối quan tâm hàng đầu. Còn đối với Phật giáo đại thừa cũng không phân loại hành vi tốt, xấu dựa vào bản thân chúng mà xét trên mục đích và hậu quả của hành vi đó. Quan điểm của Phật giáo Nhật Bản xem mục đích đó “khôn ngoan” hay “không khôn ngoan” là dựa vào khả năng làm giảm bớt đi hay tăng lên dục vọng. Phật giáo về cơ bản không quan tâm đến sự sinh sôi, nảy nở. Điều nổi bật khác nữa là Phật giáo Nhật Bản còn coi tình dục là biểu tượng tôn giáo, thậm chí coi chính nó là hành vi tôn giáo và tách tình dục khỏi nhiệm vụ sinh sản[44]. Việc tách tình dục khỏi nhiệm vụ duy trì nòi giống này khiến tình dục trở thành hình tượng tôn giáo.

* Tình yêu giữa các samurai – tình yêu cao quý và thuần khiết

Vào những ngày đầu của trận uji hay cuộc chiến tranh giữa các Thị tộc được hiểu như cuộc chiến tranh giữa các Thị tộc ở Scotland. Trong suốt thời kỳ Nara (710 – 794), hệ thống quân đội của địa phương của các kỵ sĩ đã được thành lập. Mặc dù ban đầu những chiến binh này là các đầy tớ hay samurai của Nhà vua, sau đó dần dần trở thành quân đội thuộc sở hữu riêng của các gia đình quý tộc lớn. Lúc đầu, các samurai không phải xuất thân từ quý tộc hay các chiến binh chuyên nghiệp có học thức mà là những người được đào tạo theo tập hợp các quy tắc mà sau này gọi là Bushido. Và các Samurai không nổi bật cho đến triều đại Tokugawa ở thế kỷ XVII, khi đó các Samurai thuộc tầng lớp cao quý [44]. Đã có rất nhiều ghi chép trong lịch sử Nhật Bản về các chuyện tình của các võ sĩ đạo Samurai. Thậm chí những ghi chép còn cho thấy các quan hệ đồng giới giữa các Samurai rất phát triển và được ca ngợi. Ở giai đoạn này khá nhiều từ được dùng để diễn tả về đồng tính và một vài trong số đó bao hàm cả sự chấp nhận của xã hội và biểu trưng của cái đẹp. Trong thời Edo, “shudo” (đường lối của tuổi trẻ) được dùng để miêu tả những quy định giữa mối quan hệ đồng tính nam. Các từ thông dụng khác bao gồm “doseiai” (tình yêu đồng giới) và “senyai” (tình yêu của anh em trai), “geisha”, mang hàm ý nghệ thuật, vẻ đẹp. Những từ ngữ thông dụng khác bao gồm “danshopede”, “buruboro” (chàng trai xanh), “nyu hafu” (nửa mới – new half), “Mr redi” (cậu nữ), và những từ này không mang nghĩa tiêu cực hay có tính lăng mạ dành cho người đồng tính tại Nhật.

Có thể giải thích tại sao tình yêu đồng giới của các Samurai nở rộ. Ở thời kỳ phong kiến, ngoài việc Phật giáo Nhật Bản không cấm các võ sỹ đạo có quan hệ đồng tính, còn một lý do khác khiến tỷ lệ quan hệ bất thường này cao đến mức “chóng mặt” chính là các samurai bị cấm đến các kỹ viện, nơi có những cô kỹ nữ mặt hoa da phấn với những thủ thuật phòng the thuộc hàng siêu đẳng luôn đón chờ. Vào thời kỳ Edo (từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ thứ 19), khi còn có những quan điểm bất nhất về việc cấm các kỹ viện, để sinh tồn, các kỹ nữ đã lập thành từng nhóm biểu diễn múa hát phục vụ các Samurai. Tuy nhiên, đây hoàn toàn là những nhóm hát múa trá hình để che mắt triều đình. Sau những bài múa hát truyền thống, những vũ nữ này sẵn sàng phục vụ tình dục khách hàng nếu như có nhu cầu và có tiền. Tuy nhiên, sang đến thời Mạc phủ sau đó, tất cả những nhóm hát được lập từ các kỹ nữ cũng bị dẹp bỏ hoàn toàn. Chính vì nguyên nhân này đã khiến cho tỷ lệ quan hệ đồng tính nam của các samurai tăng lên nhanh chóng. Cũng ở thời kỳ Edo, mặc dù mang thân phận cao quý của những Samurai lừng lẫy nhưng đa phần những võ sỹ đạo đều là người nghèo. Vì thế khả năng có được một khối tài sản lớn để lấy vợ là điều dường như không tưởng với nhiều người. Hơn nữa, vì là những người trót mang thân phận vương giả nên khi lấy vợ, các Samurai đều phải chọn con gái nhà quyền quý để thành thân, tuy nhiên vì nghèo nên việc tìm được người vợ thích hợp nơi cửa quan đã trở nên rất khó khăn. Để giải tỏa tính dục cũng như những ràng buộc về tâm lý, rất nhiều người trong số này đã chọn con đường quan hệ đồng tính với những người cùng hoàn cảnh.

Bên cạnh đó, kể từ thời Edo đến nay các sản phẩm văn hóa đại chúng cũng diễn tả sự chấp nhận của xã hội Nhật dành cho người đồng tính. Từ thế kỷ 16, Kabuki, thể loại kịch truyền thống của Nhật chỉ sử dụng nam diễn viên. Những thanh niên này có thể thay thế vai trò của phụ nữ vì họ có ít nam tính hơn và có giọng cao hơn so với đa phần đàn ông trưởng thành.

Sau thời kỳ Edo, sự chấp nhận của xã hội dành cho quan hệ đồng tính đã trở nên dè dặt hơn vì sự thâm nhập của văn hóa Tây phương trong giai đoạn Minh trị duy tân. Sau khi triều đại Edo sụp đổ năm 1868, giai đoạn Minh Trị duy tân bắt đầu và tiến hành xây dựng đất nước theo mô hình xã hội phương Tây. Chính vì vậy, những quan điểm của phương Tây ở giai đoạn này đã ít nhiều ảnh hưởng đến thái độ của người Nhật đối với quan hệ tình dục đồng giới và làm cho sự chấp nhận dành cho người đồng tính không còn mạnh mẽ như trước kia. Tại thời điểm này, hệ thống luật Nhật Bản vẫn chưa công nhận quan hệ đồng giới.

Lịch sử về quan hệ đồng giới ở Nhật Bản chúng ta luôn thấy sự cởi mở, thái độ chấp nhận người đồng tính và thậm chí coi đó là dạng tình yêu thuần khiết, cao quý. Những quan điểm truyền thống đó cho đến Nhật Bản hiện đại này vẫn tồn tại thể hiện chính là phần lớn người dân vẫn chấp nhận quan hệ đồng giới hay người đồng tính và tình trạng phân biệt đối xử người đồng tính ở Nhật gần như không có.

1.2.3. Lịch sử đồng tính ở Việt Nam

Mặc dù hiếm có ghi nhận, đồng tính trong các thời kỳ lịch sử được nhắc đến trong một số tài liệu. Trong thế kỷ XVI và XVII có một vài vua chúa có thê thiếp là người đàn ông. Ngoài ra, sách sử có ghi chép rằng vua Khải Định tuy có tất cả 12 bà vợ nhưng bất lực hoặc không thích đàn bà, chỉ thích đàn ông. Luật pháp trong suốt thời kỳ phong kiến Việt Nam các vua chúa cũng không có đưa ra luật về quan hệ đồng tính. Bộ luật Hồng Đức (nhà Lê 1428 – 1787), Luật Gia Long (nhà Nguyễn 1802 – 1945) tuy có đề cập đến tội hiếp dâm, cưỡng dâm, loạn luân, ngoại tình giữa hai người khác giới nhưng không hề nhắc đến tình dục đồng giới. Tuy nhiên nếu hiếp dâm và ngoại tình xảy ra giữa hai người đàn ông mà cả hai hoặc một trong hai đã có vợ thì cũng bị trừng phạt tương tự như trường hợp khi những sự việc đó xảy ra giữa hai người khác giới. Việc đàn ông ăn mặc quần áo phụ nữ, thiến và tự thiến bị coi là phạm pháp. Theo tiến sĩ Marie-Eve Blanc (một giảng viên ở Đại học Montreal, Québec, Canada) đã từng nghiên cứu về nguy cơ sức khỏe của nhóm hành vi nam có quan hệ tình dục với nam ở Việt Nam cho rằng sở dĩ đồng tính chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam là do ảnh hưởng của tư tưởng Khổng giáo. Còn theo một nhóm nghiên cứu về tình dục ở Việt Nam cho rằng Việt Nam bị ảnh hưởng rất lớn từ các tôn giáo là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Cả ba tôn giáo này không nói gì đến tình dục đồng giới, khác hẳn với sự lên án quyết liệt của Thiên chúa giáo và Đạo Hồi của các quốc gia khác [37]. Vì vậy, nó phần nào ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của đa số nhân dân. Nhất là khi có sự củng cố từ luật pháp không có ghi nhận nào về sự cấm đoán, không trừng phạt đối với tình dục đồng tính, hành vi đồng tính cũng không bị coi là tội phạm phải trừng phạt.

Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX văn hóa Phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Nhưng mức độ ảnh hưởng của văn hóa Pháp đến Việt Nam còn rất hạn hẹp. Những tư tưởng và lối sống mới chỉ tác động đến tầng lớp trí thức và công chức những người làm việc với người Pháp, có sự tiếp xúc với văn hóa Pháp thông qua học hành và một số ít là tầng lớp thị dân. Ngay trong số những người bị ảnh hưởng của văn hóa Pháp cũng chỉ ở một số mặt chứ không phải tất cả các khía cạnh của đời sống và chỉ tác động mang tính bề ngoài không giống như Nho giáo, Phật giáo và truyền thống đã đi sâu vào trong mỗi con người Việt Nam. Đại bộ phận dân cư ở nông thôn thì văn hóa Pháp cũng không để lại dấu ấn nào đáng kể. Ngoài sự xuất hiện một số tác phẩm văn học Việt Nam nói đến tình yêu giữa những người đồng tính, tuy sự phản ánh đó khá mờ nhạt và thậm chí mãi sau này chúng ta mới biết đó là tác phẩm đang nói về đồng tính. Đây có thể coi là sự mở màn cho lĩnh vực sáng tác nghệ thuật liên quan đến đồng tính về sau này. Đối với Luật pháp ở thời kỳ này, chính quyền thực dân Pháp cũng không có quy định nào cấm đoán các hành vi tình dục đồng tính trong các thuộc địa. Tuy nhiên những hành vi đồng tính có thể bị khởi tố dưới các tội danh như “vi phạm luân lý”. Trong những trường hợp hiếm hoi mà hành vi đồng tính bị trừng phạt, tội danh là “ngoại tình” hay “hãm hiếp”.

Giai đoạn từ 1945 – 1986, Cách mạng tháng 8/1945 thành công chính thức xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, bắt đầu xây dựng xã hội dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho xã hội Việt Nam. Sau chiến thắng trận Điện Biên Phủ năm 1954, Việt Nam bắt đầu công cuộc xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và tiếp tục cuộc đấu tranh với đế quốc Mỹ nhằm thống nhất đất nước. Trong điều kiện mới này sẽ có rất nhiều vấn đề phát triển theo những cung cách hoàn toàn mới. Nhưng riêng đối với vấn đề đồng tính thì không hẳn là như vậy. Trong giai đoạn này, vấn đề về đồng tính không có gì mới hơn so với giai đoạn trước đó. Ngoài sự xuất hiện lẻ tẻ, lác đác một số tác phẩm văn học. Pháp luật của Nhà nước mới cũng không đề cập đến vấn đề người đồng tính.

Giai đoạn 1986 đến nay, khi cuộc sống con người sau chiến tranh đã dần đi vào nề nếp kinh tế cá nhân bắt đầu nhen nhóm thì các quan hệ xã hội cũ không còn phù hợp yêu cầu phải thay đổi để đời sống người dân ngày càng phát triển. Vì lẽ đó mà chính sách tập trung bao cấp đã bị xóa bỏ thay vào đó là kinh tế thị trường có sự định hướng của Xã hội chủ nghĩa do Nhà nước và Đảng ta đưa ra. Và chính sách mở cửa với nước ngoài rộng mở hơn so với trước 1986. Xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh đó mà xã hội ta bắt đầu có những bước chuyển mình về kinh tế, chính trị và cả văn hóa. Khi phương thức sản xuất và phương thức sinh hoạt của con người thay đổi, tác động sâu sắc đến quan hệ kinh tế, chính trị quốc tế, sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Biến đổi, đổi mới, yêu cẩu phát triển, tiến bộ…trở thành ý thức phổ biến và thực sự là trào lưu nổi bật của thời đại ngày nay. Hơn thế nữa, văn hóa là phương thức sinh tồn đặc trưng của loài người, còn đổi mới là bản chất của văn hóa. Bởi vì thế, những quan niệm, tâm thế và lối sống mới đã được hình thành trong nhiều khía cạnh của cuộc sống. Có thể nói trong giai đoạn này vấn đề đồng tính có nhiều sự biến đổi, sự chú ý của xã hội cho vấn đề này cũng bắt đầu thể hiện tương đối rõ ràng, những khái niệm về đồng tính, quyền của người đồng tính cũng manh nha và dần dần lộ diện.

Cho đến trước năm 2000 có rất ít thông tin về hiện tượng đồng tính và cũng không có một văn bản pháp luật nào của Việt Nam đề cập đến tình dục đồng giới cũng như những người đồng tính thậm chí theo các nhà nghiên cứu Colby, Cao và Doussantousse, tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về đồng tính luyến ái [39].

Năm 1981 những ca AIDS đầu tiên được phát hiện ở 5 thanh niên sinh hoạt tình dục đồng giới tại Los Angeles (Mỹ), điều đó giải thích tại sao lúc đầu người ta cho rằng đồng tính là một trong những nguyên nhân chủ yếu lây lan HIV. Tuy nhiên, ở Việt Nam từ khi phát hiện trường hợp đầu tiên nhiễm HIV (tháng 12 năm 1990) và dịch HIV/AIDS thực sự bùng nổ 1993 đến khi có Kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS trung hạn giai đoạn 1993-1996 không đề cập đến nhóm người đồng tính là một trong những đối tượng cần có biện pháp can thiệp thích đáng. Tiếp đến sự kiện theo hãng thông tấn Reuters đưa tin, ngày 7/4/1997 đã diễn ra đám cưới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh và đưa hiện tượng đồng tính đến với người dân trong cả nước. Và khi đó, mọi người mới bắt đầu tiếp cận đến những khái niệm “đồng tính”, “đồng giới”, “gay”… Ở thời kỳ này, xã hội được tiếp nhận những cái mới từ văn hóa Phương Tây, sự du nhập của tôn giáo Thiên chúa giáo. Thiên chúa giáo được truyền bá vào nước ta đã có đóng góp thúc đẩy sự phát triển của báo chí. Vì vậy có thể nói rằng giai đoạn này nhận thức của mọi người chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các thông điệp truyền thông đến việc hình thành thế giới quan. Những thông điệp mang tính định kiến, phân biệt, lên án về người đồng tính thì có thể tạo ra hoặc củng cố những nhận thức sai lệch và thái độ kỳ thị. Những thông điệp khách quan, khoa học sẽ giúp xã hội có nhận thức khách quan và đúng đắn hơn đối với nhóm xã hội này. Đây cũng có thể là một trong lý do tại sao tồn tại quan điểm cho rằng đồng tính là hiện tượng của phương Tây do đó bị lên án, phản đối kịch liệt trong dư luận xã hội và trên báo chí. Dẫn đến việc Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 có điều khoản cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 vốn không có điều khoản này. Nhưng đây cũng được coi là một nhược điểm trong kỹ thuật lập pháp khi đó chưa nắm bắt kịp thời đại về vấn đề này. Do đó, đã góp phần tạo nên những nhận thức không đúng trong xã hội nói chung.

Đến thời điểm này, các phương tiện truyền thông đã phát triển mạnh mẽ cùng với quy định cấm hôn nhân đồng tính thì thái độ kỳ thị, ghét bỏ, đối xử bất bình đẳng, bị gia đình và xã hội cô lập là điều không thể tránh khỏi. Cùng với đó, tỷ lệ người đồng tính nam bị nhiễm HIV/AIDS tăng cao thì lại càng khiến xã hội có cái nhìn không mấy thiện cảm cho nhóm người này. Chính vì vậy, đây có thể coi là lý do mà trong Chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS năm 2004 Nhà nước ta đã đưa nhóm người đồng tính là một trong những nhóm đối tượng cần giám sát trọng điểm.

Chỉ thị số 54 – CT/TW ngày 30/11/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới là tài liệu đầu tiên của Đảng nhắc đến tình dục đồng giới. Theo tinh thần của Chỉ thị này là tăng cường mạnh mẽ thực hiện tốt công tác giáo dục truyền thông nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn cộng đồng nói chung đặc biệt đối với những nhóm đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao HIV/AIDS (tiêm chích ma túy, mại dâm, tình dục đồng giới…). Việc tuyên truyền, giáo dục một mặt thúc đẩy quá trình nhận thức và sự hiểu biết của xã hội về tình dục đồng giới mặt khác từ phía cơ quan nhà nước, cũng như sự phổ biến các bài nghiên cứu khoa học về đồng tính cùng với sự thiếu thận trọng trong các bài báo, đã góp phần làm gia tăng nỗi lo sợ tình dục đồng giới và có những nhận thức sai lầm về người đồng tính. Trong nhiều bài báo, tác phẩm truyền hình thường khắc họa những người đồng tính kiểu người nam đầy nữ tính, ẻo lả, điệu đà quá mức hoặc những người đồng tính nữ thì đầy tính chất nam giới. Hơn nữa, trong giai đoạn này những nghiên cứu khoa học về đồng tính là chưa có nhiều, hoạt động tuyên truyền có nhắc đến tình dục đồng giới nhưng đó là sự lồng ghép trong chương trình phòng chống HIV/AIDS nên chỉ tập trung ở khía cạnh sức khỏe mà không giải thích cho mọi người biết tình dục đồng giới là gì, người đồng tính là gì?…Nên mọi người trong xã hội có thái độ xa lánh, lên án, sợ tình dục đồng giới. Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội kêu gọi liệt kê đồng tính luyến ái trong các “tệ nạn xã hội” cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy.

Tiệc cưới giữa 02 người nam diễn ra tại một khách sạn với 100 khách mời, và bị nhiều người dân phản đối. Ngày 7/3/1998, hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận. Đây gần như là những sự kiện đầu tiên được báo chí đặc biệt quan tâm Dưới áp lực luật pháp, tôn giáo và dư luận xã hội, ở nhiều nơi trên thế giới, những người đàn ông có quan hệ tình dục đồng giới luôn có nguy cơ bị bắt, bỏ tù thậm chí bị tử hình. Ở Việt Nam sự kỳ thị chưa đến mức độ như vậy. Đầu năm 2000 lần đầu tiên người đồng tính nam được đưa vào tác phẩm văn học “Một thế giới không có đàn bà” của Bùi Anh Tấn, cuốn tự truyện đầu tiên của một người đồng tính với nhan đề “Bóng” được xuất bản 2008 đã được đón nhận khá nồng nhiệt và nhanh chóng mở ra hướng mới đối với những người đồng tính. Thông qua các tác phẩm này đã khắc họa được phần nào thế giới của người đồng tính, sống mà phải che giấu sở thích tình dục thực sự của mình, tự giầy vò, ngay bản thân cũng không chấp nhận sự thực đó. Một số người tự lừa dối bản thân bằng cách kết hôn với người khác giới, sinh con. Gần đây một số nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự kỳ thị đã làm cho người đồng tính hạn chế tiếp cận thông tin sức khỏe tình dục và do đó làm tăng nguy cơ bị nhiễm HIV và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ở nhóm nam giới có quan hệ tình dục đồng giới.

Cho đến thời điểm này thì vấn đề về người đồng tính đã không còn xa lạ ở Việt Nam. Nhận thức về tình dục đồng giới, người đồng tính, người chuyển giới, người lưỡng tính cũng dần trở nên rõ ràng hơn. Đó là kết quả của quá trình dân chủ hóa và sự giao thoa của các nền văn hóa, tôn giáo tạo nên. Sự cởi mở trong nhận thức xã hội về các vấn đề tình dục, ý thức sự tự do cá nhân, ngày càng có nhiều các nghiên cứu khoa học về tình dục đồng giới, về người đồng tính, nhiều các tổ chức xã hội hình thành để đấu tranh vì quyền của nhóm người đồng tính. Tất cả đang dần hình thành phong trào phổ biến toàn xã hội vì người đồng tính và quyền của người đồng tính ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang xem xét, lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có cho phép hôn nhân đồng tính hay không. Dự thảo Nghị định mới nhất được Bộ Tư pháp đưa ra xem xét, thảo luận với tên gọi đổi thành “Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã”. Theo đó, nội dung dự thảo đã bỏ điều khoản quy định xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền với hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính. Mặc dù, dự thảo quy định này bỏ xử phạt hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính không có nghĩa là công nhận kết hôn đồng giới nhưng cũng có thể coi là bước kết quả đầu tiên đạt được dành cho cộng đồng người đồng tính đấu tranh vì quyền cơ bản của người đồng tính.

Xem ngay >>> Một số lý luận trong công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường học

2. Hệ thống khái niệm

2.1. Khái niệm đồng tính

* Phân biệt một số thuật ngữ

Heterosexual – Dị tính ái (gốc từ Hy Lạp – heteros): dùng để chỉ những người có quan hệ tình dục với người khác giới.

Bisexual – dùng để chỉ những người có quan hệ tình dục với cả hai giới (gốc từ bi – hai).

Transgenderist- dùng để chỉ những người có hành vi khác với giới của mình. Như nam giới nhưng lại có cách phục trang, ứng xử, phong cách như nữ giới và ngược lại.

Transsexual – xuyên giới tính: dùng để chỉ những người sống hoàn toàn khác với giới tính sinh học của mình.

Lưỡng giới – dùng để chỉ những người bẩm sinh có cả hai cơ quan sinh dục nam và nữ và mang trong mình những yếu tố gen, hoócmôn của cả hai giới. Đến một thời điểm nào đó do sự phát triển của cơ thể và đôi khi là do sức ép từ môi trường bên ngoài (gia đình, xã hội) bắt buộc họ phải có sự lựa chọn một giới tính và giới.
Đồng tính luyến ái gọi tắt là đồng tính hoặc đồng giới. Từ điển Bách Khoa Việt Nam tập 1 đã đưa ra định nghĩa về đồng tính luyến ái như sau:” Là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới tính, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường. Trên thực tế thường gặp đồng tính luyến ái giữa nam với nam, ít gặp ở nữ hơn. Đồng tính luyến ái tồn tại từ lâu ở các nước phương Tây, có nơi chấp nhận như hợp pháp. Gần đây, được dư luận xã hội chú ý vì là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây lan tràn AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)”.

Homosexual là thuật ngữ do Benkert, một nhà văn người Hungari đặt ra từ năm 1869, kết hợp gốc từ Hy Lạp homos – cùng, và sexus (tình dục), chữ Latin, để phân biệt với hetero (khác) sexuality dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái – những người chỉ quan hệ tình dục với những người cùng giới với mình. Hiện tượng đồng tính luyến ái hay còn gọi là tình dục đồng giới là sự hấp dẫn tình cảm và tình dục giữa những người cùng giới – nam với nam, nữ với nữ.

Những người đồng tính luyến ái nam trong tiếng Anh được gọi là gay. Còn những người đồng tính luyến ái nữ là lesbian. Chữ “lesbian” có gốc từ chữ Lesbos, tên một hòn đảo ở Hy Lạp, nơi có nữ thi sĩ đồng tính Sappho sống thời cổ đại. Các phụ nữ đồng tính còn được gọi là “Sapphist”.

* Khía cạnh y học, sinh học:

Về khía cạnh y học, người đồng tính vẫn mang giới tính nam hoặc nữ và vẫn xem mình là nam hoặc nữ nhưng chỉ bị hấp dẫn bởi những người cùng giới tính. Trong một thời gian khá dài nhiều ý kiến cho rằng đồng tính là bệnh hoạn, có thể chữa trị bằng y học là một quan điểm sai lầm.

Là một loại bệnh tâm thần, đồng tính luyến ái cần hội tụ 3 điều kiện:

Có tính chất cưỡng chế, dù có ý thức hay không, họ cũng không thể cưỡng lại được.

Chủ yếu ở nam giới(nhưng hiện nay cũng đã có xuất hiện nhiều ở giới nữ).

Xuất hiện sau tuổi trưởng thành.

Các nhà bệnh lý học tâm thần xếp người đồng tính luyến ái vào nhóm lệch lạc đối tượng trong các bệnh lệch lạc tình dục. Họ được coi là “thiểu số tình dục”.

* Khía cạnh tâm lý:

Ngoại trừ nhóm người đồng tính luyến ái do yếu tố bẩm sinh thì một số lượng không nhỏ trong nhóm đối tượng này có biểu hiện đồng tính luyến ái do những nguyên nhân về tâm lý.

Thứ nhất, đó là do cách giáo dục của gia đình không phù hợp, lệch lạc. Một gia đình quá hà khắc và gia trưởng hay cách sống không lành mạnh có thể dẫn đến những tổn thương về tâm lý trong đứa trẻ. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành nhân cách và giới của đứa trẻ khi trưởng thành. Và đặc biệt là nội dung, cách thức giáo dục giới tính trong gia đình còn chưa được quan tâm đến một cách đúng đắn.

Thứ hai, đó là sự lạm dụng tình dục với trẻ em, đặc biệt là của người cùng giới với chúng. Điều này tạo nên một trạng thái ám ảnh suốt thời thơ ấu. Và khi trưởng thành, nó có thể trở thành một nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái.

* Khía cạnh cá nhân và xã hội:

Theo các nhà nghiên cứu hầu hết các hiện tượng đồng tính luyến ái mà người ta ngộ nhận thường do yếu tố môi trường, bản thân chứ ít khi là do bẩm sinh.

Thứ nhất: do sự tò mò của bản thân. Hiện tượng này phổ biến ở lứa tuổi thanh niên, khi hiểu biết còn chưa đầy đủ nhưng lại dễ bị cuốn hút bởi những điều mới lạ.

Thứ hai: do sự lôi kéo hoặc đua đòi. Dư luận xã hội về vấn đề này càng được mở rộng càng làm nảy sinh một số lượng người đồng tính luyến ái “dởm”, a dua theo bạn bè. Họ coi đây là một thứ “mode” chứ không phải do bản chất. Và cũng không ít những trường hợp những người bình thường tự biến mình thành người đồng tính luyến ái vì lợi ích kinh tế hay những lợi ích khác.

Thứ ba: do ảnh hưởng của luồng văn hoá nước ngoài. Nước ta từ khi mở cửa, giao lưu kinh tế đồng thời cũng bắt buộc phải ” giao lưu” với những luồng văn hóa nước ngoài mà không ít trong số đó kém lành mạnh, đi ngược lại với những quan niệm, thuần phong mỹ tục vốn có. Sự ảnh hưởng của văn hoá có thể nhìn nhận rõ ràng qua cách sống, cách tiêu dùng văn hoá của người dân đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Văn hóa nước ngoài với cái nhìn khá “thoáng” về các vấn đề giới tính hay tình dục dễ dàng ảnh hưởng đến nhóm đối tượng còn chưa có nhiều hiểu biết và năng lực đánh giá này.

* Khía cạnh xã hội học:

Với cách tiếp cận xã hội học thì đồng tính luyến ái có thể được coi là một hiện tượng lệch chuẩn. Bởi lối sống của người đồng tính luyến ái đi ngược lại với những quan niệm đạo đức xã hội cũng như luật pháp của một số nước, nghĩa là trái với những chuẩn mực tồn tại trong xã hội. Durkhiem trong cuốn “Các quy tắc của phương pháp nghiên cứu xã hội học” đã đưa ra quan điểm: sai lệch là tiền đề của biến đổi xã hội. Hiện tượng đồng tính luyến ái đã tạo ra những thay đổi trong quan niệm của một số nước như chấp nhận họ như những người bình thường, một giới tính thứ ba. Hà Lan và một bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã cho phép người đồng tính luyến ái được kết hôn, nghĩa là đã có sự chấp nhận của luật pháp [11].

2.2. Khái niệm xu hướng tính dục

Ngay từ những năm 1970, Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ đã đưa ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau: Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội. Tính dục là khía cạnh văn hóa, xã hội và nhân văn của tình dục. Như vậy, xu hướng tính dục là một trong những yếu tố cấu thành nên tính dục. Những yếu tố còn lại là giới sinh học (cấu trúc gene, ngoại hình, nội tiết), bản sắc giới và vai trò xã hội của giới.

Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (viết tắt APA) thì: Xu hướng tính dục là một sự hấp dẫn có tính bền vững về cảm xúc hoặc về mặt tình dục của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới. Nói đến xu hướng tính dục người ta cũng nói đến bản dạng tình dục là cảm nhận của một người tự xác định về xu hướng tính dục của mình.

Trải qua vài thập niên nghiên cứu về xu hướng tính dục thì có thể chia làm ba dạng với tên gọi: dị tính luyến ái (bị hấp dẫn của người khác giới tính), đồng tính luyến ái (bị hấp dẫn bởi người cùng giới tính), lưỡng tính luyến ái (bị hấp dẫn bởi cả nam và nữ). Khác với hành vi tình dục, xu hướng tính dục bao gồm cả những tình cảm và cảm nhận cá nhân. Hành vi tình dục của một người có thể phản ánh xu hướng tính dục của họ, cũng có thể không [18].

Tính dục đồng giới là một xu hướng tính dục trong đó một người cảm nhận thấy sự hấp dẫn tính dục chủ yếu từ những người có cùng giới tính với mình. Tính dục đồng giới ngược với tính dục khác giới, sự hấp dẫn tính dục đến từ những người thuộc giới tính khác, và khác với lưỡng giới, sự hấp dẫn tính dục đến từ những người thuộc cả hai giới tính.

2.3. Khái niệm giới tính

Là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng sinh học của nam và nữ. Những đặc trưng sinh học dường như là bất biến và đó là cơ sở cho những chuẩn mực về vai trò giới sau này. Sự chuyển đổi giới tính có thể do sinh học, văn hoá, kinh tế..

* Các đặc điểm của giới tính

Là đặc trưng sinh học quy định hoàn toàn bởi gien qua cơ chế di truyền.

Bẩm sinh.

Đồng nhất vì đây là sản phẩm của sự tiến hoá sinh học nên không phụ

thuộc vào không gian và thời gian.

2.4. Khái niệm giới

Giới là khái niệm dùng để chỉ những mối quan hệ xã hội của nam và nữ. Khái niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính. Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan đến quá trình xã hội hoá.

* Các đặc điểm của giới:

Một phần vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính.

Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà được hình thành qua quá trình học tập, xã hội hoá cá nhân.

Đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã hội, nền văn hoá.

Có thể biến đổi.

2.5. Khái niệm bản sắc giới

Bản sắc giới liên quan tới sự nhận thức của cá nhân về nam giới hay nữ giới. Nói cách khác, bản sắc giới là sự cảm nhận của cá nhân về giới của mình trong nền văn hoá. Bản sắc giới thường phù hợp với giới tính của cá nhân nhưng không phải trường hợp nào bản sắc giới cũng đồng nhất với giới tính của cá nhân đó.

3. Quan điểm của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam về người đồng tính và quyền của người đồng tính

Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng. Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Về tín ngưỡng, cũng như những bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đều mang những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp. Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên, đặt niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên – lực lượng thống trị nhân gian. Thể hiện qua việc thờ cũng, các nghi lễ, tập tục. Các loại tín ngưỡng chủ yếu của Việt Nam có: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ mẫu, sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thành hoàng…Trong đó, tín ngưỡng phồn thực coi trọng việc giao phối giữa nam và nữ nhằm sinh sôi, nảy nở, phát triển giống nòi, nên tín ngưỡng phồn thực tuy không cấm quan hệ đồng tính nhưng nó lại xem mối quan hệ đồng tính là trái tự nhiên và đi ngược lại với niềm tin của tín ngưỡng này.

Về tôn giáo, ở Việt Nam có mặt hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ chức sắc, nhà tu hành của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo hay một số tôn giáo bản địa như Cao Đài, Hòa Hảo. Các tín đồ có tôn giáo chiếm khoảng 1/3 dân số Việt Nam, họ phân bố rộng khắp cả nước. Trong lịch sử, giáo lý của các tôn giáo lớn ở Việt Nam có không ít những điều khác biệt và đã xuất hiện những mâu thuẫn nhất định, nhưng nhìn chung, chưa có sự đối đầu dẫn đến chiến tranh tôn giáo. Truyền thống “tam giáo đồng nguyên”, “ngũ chi hợp nhất” đã dẫn đến tính đan xen, hòa đồng, khoan dung giữa các tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi về bản chất thì dù tín ngưỡng hay tôn giáo nào thì đều hướng con người đến với cái thiện, chỉ lối hành vi phù hợp với đạo đức và lối sống từ lâu đời của dân tộc ta. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Theo ước tính ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng 20 triệu tín đồ (chiếm 25% dân số) của các tôn giáo đang hoạt động bình thường ổn định. Nên có thể nói rằng các quan điểm của tín ngưỡng, tôn giáo có những tác động nhất định đến sự nhìn nhận của mọi người đối với các vấn đề xung quanh đời sống xã hội. Vì tôn giáo không chỉ là triết học (một bộ phận của thượng tầng kiến trúc, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan), không chỉ là vấn đề chính trị (bị các thế lực chính trị xấu lợi dụng), mà tôn giáo còn là lịch sử (phản ánh tiến trình lịch sử của nhân loại), là nhận thức (giải thích về thế giới và con người), là văn hóa (góp phần hình thành nên những nền văn minh và nếp sống văn hóa của loài người), là đạo đức (góp phần điều chỉnh hành vi của con người hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ), là lối sống (góp phần hình thành lối sống của những người có đạo) và tôn giáo là một thực thể xã hội (có lực lượng tín đồ hùng hậu, có tổ chức giáo hội, tôn giáo chân chính góp phần vào củng cố cộng đồng và sự ổn định xã hội) [41].

3.1. Quan điểm của Đạo Phật

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngày từ đầu Công nguyên. Khác với Nho giáo, Phật giáo được du nhập vào nước bằng con đường hòa bình và trực tiếp từ Ấn Độ, nên nó nhanh chóng được tiếp nhận và phát triển. Đến thời nhà Lý, nhà Trần Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo. Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam Phật giáo đã cùng sinh tồn cùng dân tộc. Điểm này dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng thịnh của đất nước như Đinh, Lê, Lý Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hành hưng thịnh.

Đạo Phật là đạo từ bi cứu khổ, bình đẳng và không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, màu da và giới tính. Với nguyên tắc thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, Phật giáo không chủ trương xét xử, không chống đối hay chỉ trích người khác, đơn thuần chỉ dựa trên tính chất của người đó, vì điều này được xem như là một sự phê phán thiên vị và không công bằng. Vì thế, xuyên qua những lời giảng dạy của Đức Phật, chúng ta không thấy Ngài phê phán những người đồng tính về phương diện đạo đức. Đạo Phật tin rằng, mọi sự mọi vật trên thế gian là vô thường, cuộc sống nhân sinh cũng chuyển dịch biến hoá không ngừng và tuỳ theo nghiệp của mỗi chúng sinh, giới tính có thể thay đổi từ giới này sang giới khác như người nam trở thành người nữ hay ngược lại và chuyển dịch từ đời này sang đời khác. Ngay cả trong đời hiện tại cũng đã có nhiều người hoặc tự mình thay đổi với sự trợ giúp của y khoa hay tự nhiên thay đổi giới tính. Dù thế nào cũng không ra ngoài nhân quả. Mỗi người trong chúng ta mang trong mình cái nghiệp, nghiệp lành nghiệp dữ mình làm mình chịu, có gieo nhân tất có quả. Theo lý này, chúng ta thương yêu người nào, dù cùng giới tính hay khác giới tính đều là có duyên nợ với người đó ở quá khứ. Chính duyên và nợ quá khứ thúc đẩy chúng ta thương yêu trong hiện tại. Đó là quan hệ nhân quả bình thường.

Đại đức Thích Minh Trí, trụ trì chùa Phúc Lâm (Biên Hòa, Đồng Nai) đã nói rằng “đối với người xuất gia cầu sự giải thoát, giới luật nhà Phật hoàn toàn cấm các tu sỹ quan hệ tình dục dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả quan hệ tình dục đồng tính. Nếu vị xuất gia nào phạm giới dâm dục thì phải bị trục xuất khỏi tăng đoàn nhà Phật”. Ngài cũng khẳng định rằng “không có bất kỳ một giới luật nào của nhà Phật không cho phép người phật tử tại gia quan hệ tình dục đồng tính”, chỉ khuyên răn họ nên giữ gìn giới tà dâm (không quan hệ chăn gối với người không phải là vợ hay chồng của mình, không quan hệ tình dục với trẻ em vị thành niên, không cưỡng dâm, không quan hệ với người cùng huyết thống và không loạn luân) [10]. Mới đây, trong cuộc thảo luận của Quốc hội Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi, bổ sung năm 2013 Hòa thượng Thích Thanh Quyết chia sẻ: “Tôi thấy họ là những người vô tội, vì cơ địa trời đất sinh ra họ là như thế chứ họ không muốn thế, họ luôn than phiền gia đình không hiểu, xã hội chưa hiểu, chỉ còn trông chờ vào Quốc hội. Tôi đề nghị Quốc hội nên công nhận vì nó phù hợp với hiện tại và thể hiện tính nhân văn quảng đại, góp phần giảm sự kỳ thị đối với nhóm người này, đồng thời có cơ sở pháp lý để quản lý và giải quyết các hậu quả”.

3.2. Quan điểm của Đạo Thiên chúa

Công giáo Việt nam hay còn gọi Thiên chúa giáo là một bộ phận của Giáo hội Công giáo Roma thuộc Kitô giáo. Thiên chúa giáo du nhập vào Việt Nam theo con đường truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây vào cuối thế kỷ XVI. Trong quá trình truyền bá đạo ở Việt Nam, Thiên Chúa giáo có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của văn hoá Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như kiến trúc, báo chí, văn chương, ngôn ngữ, lối sống, giáo dục… Những yếu tố tích cực có thể kể đến như là sự tạo thành chữ quốc ngữ, sự du nhập kiểu kiến trúc nhà thờ và sự du nhập công nghệ in hiện đại và sự phát triển của báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ khi đó, Thiên chúa giáo trở thành một tôn giáo gần như phổ biến ở Việt Nam. Theo thống kê thì số lượng người theo tôn giáo này khoảng 5,7 triệu người chiếm tỷ lệ khoảng 6,87% dân số Việt Nam. Là một tôn giáo nên cũng có quan điểm riêng về các vấn đề chính trị, xã hội ở nơi có giáo hội. Đối với vấn đề về đồng tính, giáo hội Công giáo Việt Nam cũng có quan điểm riêng. Tiếp nối những quan niệm về tình dục của Do Thái giáo, vào thời cổ Ki tô giáo, đồng tính bị coi là tội ác. Cho đến ngày nay, vẫn những quy định cấm thủ dâm, cấm quan hệ tình dục trước hôn nhân và ngoài giá thú, cấm đồng tính luyến ái hoặc sử dụng các biện pháp ngừa thai, phá thai…nhưng tính chất khắc nghiệt đã giảm đi và tinh thần của những quy định đó cũng có phần cởi mở, khoáng đạt hơn.

Sách Giáo lý chung của Giáo hội Công giáo hiện nay, ban hành năm 2005 đã đưa ra cái nhìn của mình về đồng tính luyến ái như sau:

“Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người nam hoặc những người nữ với nhau: họ cảm thấy sức quyến rũ về mặt tính dục một cách mạnh hơn hẳn, hoặc một cách độc chiếm đối với những người cùng giới tính. Nó đã mặc lấy những hình thức rất khác nhau qua các thế kỷ và nơi những văn hóa khác nhau. Sự phát sinh về tâm lý của nó vẫn còn nhiều điểm chưa giải thích được. Dựa trên thánh kinh vẫn lên án chúng là những hành vi suy đồi nghiêm trọng. Truyền thống luôn luôn tuyên bố “những hành vi đồng tính luyến ái là thác loạn tự bản chất của chúng”. Những hành vi này nghịch với luật tự nhiên. Chúng đóng cửa không cho hành vi tính dục ban tặng sự sống. Chúng không xuất phát từ một sự bổ khuyết cho sinh hoạt tình cảm và tính dục thật sự. Chúng không thể được chấp nhận trong bất cứ trường hợp nào”. (Điều 2357)

“Một con số không nhỏ những đàn ông và phụ nữ cho thấy có những khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu xa. Họ đã không chọn lấy thân phận đồng tính luyến ái của họ; đối với đa số trong họ, đây là một thử thách. Họ phải được người ta đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Người ta phải tránh tất cả những dấu hiệu của sự kỳ thị bất công đối với họ. Những người này được gọi thực thi ý Chúa trong đời sống của họ, và nếu họ là những kitô hữu, họ được kêu gọi kết hợp với hy sinh thập giá của Chúa những khó khăn mà họ gặp phải trong thân phận của họ”. (Điều 2358)

“Những người đồng tính luyến ái được kêu gọi giữ sự khiết tịnh. Nhờ những nhân đức của sự tự làm chủ được mình, tức những nhân đức giáo dục cho tự do nội tâm, và đôi khi nhờ sự nâng đỡ của một tình bạn vô vị lợi, nhờ lời cầu nguyện và ân sủng các bí tích, họ có thể và phải dần dần và cương quyết tới gần sự trọn hảo Kitô giáo”. (Điều 2359)

Giáo hội Công giáo cũng như Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn dứt khoát với lập trường về hành vi quan hệ đồng tính. Ngay từ đầu, Kinh Thánh đã khẳng định Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ; chối bỏ hoặc đi ngược với chương trình ấy là một điều không phù hợp với chương trình của Đấng Tạo Hóa. Vì vậy, đồng tính luyến ái xét như là một đảo lộn trật tự tự nhiên, là một cắt đứt quan hệ với Đấng Tạo hóa. Theo Kinh Thánh, tình dục hướng đến việc trao ban sự sống.


Nói vậy, không có nghĩa là mỗi hành động tình dục đều tạo ra sự sống mới và cũng không phải mọi người đều bắt buộc phải hướng đến mục tiêu đó khi quan hệ tình dục. Ngoài mục đích sinh sản thì khi quan hệ tình dục còn có những mục đích khác nữa. Tuy vậy, mục đích sinh sản luôn luôn cần được tôn trọng. Trong quan hệ đồng tính, mục đích sinh sản đã bị chối bỏ, bởi vậy quan hệ đồng tính là phản tự nhiên. Như đã nói, khi quan hệ tình dục không chỉ có mục đích sinh sản còn có những mục đích khác. Mục đích khác muốn nói ở đây chính là tình yêu. Nhưng theo Kinh Thánh tình yêu đích thực chỉ có trong quan hệ vợ chồng và gắn liền với mục đích sinh sản. Bởi vì hành động giao hợp vợ chồng hướng đến mục đích của tình dục là yêu thương đạt đến khoái cảm và sinh sản, chỉ có một quan hệ tình dục như thế mới có thể và phải bền vững, vì nó đòi hỏi trách nhiệm của con người, trong khi đó quan hệ tình dục đồng tính luyến ái không được xây dựng trên bất cứ một nền tảng nào đòi hỏi sự chung thủy và bền vững.

Qua đây, quan điểm của Thiên chúa giáo về đồng tính, họ chỉ phản đối hành

Vi quan hệ đồng tính chứ không phải người đồng tính. Hơn nữa, giáo lý còn xác định khuynh hướng đồng tính không phải là tội lỗi, do đó phải nhìn người đồng tính với cái nhìn cảm thông và tôn trọng. Giáo hội cũng đòi hỏi chính bản thân người đồng tính cũng phải là những con người tự do và có trách nhiệm.

4. Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính trên thế giới và Việt Nam

Ngày nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều có quan điểm chung về đồng tính – việc bị hấp dẫn bởi tình yêu hoặc tình dục giữa những người cùng giới tính. Và một số thuật ngữ liên quan đến đồng tính.

* Straight: là từ thông dụng chỉ người dị tính luyến ái (những người chỉ yêu và quan hệ tình dục với người khác giới)

* Fem: Từ gọi tắt tiếng Việt cho từ Tiếng Anh “femme” có nghĩa là một đồng tính nữ nữ tính bề ngoài và trong tính cách.

* Butch: là một đồng tính nữ nam tính bề ngoài và trong tính cách, nhưng chưa hẳn họ muốn chuyển giới.
* Soft butch là từ để chỉ một dạng khác của người đồng tính nữ, có bề ngoài và cá tính mạnh mẽ nhưng ở mức độ chừng mực, không cố gắng hết sức nhằm loại bỏ những đặc điểm nữ tính của mình (như cố tình ép ngực, cắt tóc ngắn, vân vân).

* Come out là hành động công khai cho mọi người biết mình là người đồng tính. Tuy vậy, nhưng không phải ai cũng hiểu về bản chất, nguyên nhân của đồng tính. Hiện nay, về nguyên nhân của đồng tính đã có rất nhiều các cuộc nghiên cứu

trên thế giới nhưng vẫn chưa có câu trả lời chính thức nguyên nhân của đồng tính là gì. Xong hầu hết các chuyên gia đều có quan điểm chung là có vai trò của cả sinh học và xã hội, tương tác với nhau một cách phức tạp. Một cách cụ thể, đồng tính bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:

* Nguyên nhân sinh học

Về nguyên nhân này, khoa học ngày nay vẫn chưa có bằng chứng thuyết phục, nhiều điều vẫn còn trong vòng bí ẩn. Nhưng những yếu tố có thể ảnh hưởng đến xu hướng tính dục được xác định bao gồm kiểu gen, hoocmon bào thai và cấu trúc não bộ.

Ở thập niên 90, một nhóm nghiên cứu y học ở Anh đã tìm ra được mối liên hệ giữa gen và chứng đồng tính. Đó là điểm đặc biệt trên nhánh dài của nhiễm sắc thể X của những người đồng tính được truyền từ mẹ sang con. Họ cho rằng, thiên hướng giới tính là một đặc điểm phức tạp, vì thế chẳng có gì ngạc nhiên khi họ tìm thấy vài vùng ADN có liên quan đến sự biểu hiện này; có một nhóm gen, có tiềm năng tương tác với những tác nhân môi trường. Đây là điều quyết định sự khác biệt trong thiên hướng tình dục.

Để chứng minh, họ đưa ra quá trình phân tích bộ gen của gần 500 người đàn ông, trong đó gần 200 gia đình có từ hai anh em trai trở lên là gay. Kết quả họ xác định được những đoạn ADN giống hệt nhau trên ba nhiễm sắc thể thường – số 7, 8 và 10 – trên khoảng 60% cặp gay anh em. Nếu ở các cặp đồng tính ngẫu nhiên, tỷ lệ ADN giống nhau chỉ là 50%. Mặt khác, họ cũng nhận thấy đoạn ADN trên nhiễm sắc thể số 10 có liên quan đến xu hướng giới tính chỉ khi nó được thừa hưởng từ mẹ. Từ công trình này họ khẳng định, gen đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên một người đàn ông đích thực hay là gay.

Cũng trong khoảng thời gian đó, bác sĩ Le Vay, khoa Thần kinh, Viện Salk (Mỹ) đã công bố nghiên cứu giải phẫu một phần não vùng dưới đầu của 41 tử thi. Trong số đó là một nửa người đồng tính luyến ái. Bác sĩ phát hiện ra rằng, những người đồng tính luyến ái, thành phần INH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như một yếu tố điều khiển thái độ tính dục ở động vật có vú) nhỏ gấp hai lần so với những người bình thường khác.

Những năm 1953, trong công trình khảo cứu “Di truyền trong sức khoẻ và rối loạn tinh thần”, E.j Kalhan đã tiến hành trên những trẻ sinh đôi hợp tử và song hợp tử đã cho thấy; trong mọi trường hợp sinh đôi đơn hợp tử, khi một đứa đồng tính, thì đứa kia cũng thế. Điều này không thấy ở những trường hợp sinh đôi song hợp tử. Nhưng ngay sau đó, đã có những công trình khác, lại có những chứng minh phản hồi lại ông, khi họ xác định được những trường hợp sinh đôi đơn hợp tử có khuynh hướng tình dục khác nhau.

Rõ ràng, những kết quả trên cho thấy sự giống nhau về thiên hướng tình dục không tương ứng với sự giống nhau về kiểu gen.

Và còn nhiều nghiên cứu khác cho kết quả trái ngược nhau tương tự như vậy, nên đã có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đồng tính phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tác động bên ngoài.

* Nguyên nhân xã hội

Những yếu tố thuộc về xã hội có tác động đến hình thành đồng tính có thể nói đến: yếu tố giáo dục, yếu tố môi trường sống, văn hóa cá nhân

Theo tiến sĩ V.Sakhizanhia, “việc giáo dục giới tính sai lệch, không có mục đích đúng đắn đối với người khác giới” đó chính là nguyên nhân làm một người bình thường bị đồng tính.

Gia đình là môi trường xã hội hoá cá nhân đầu tiên và quan trọng nhất. Đồng thời đây cũng là nơi cá nhân học hỏi cách đóng vai trò giới của mình. Không chỉ nhận được sự yêu thương, chăm sóc về vật chất, cá nhân còn được tiếp thu những khuôn mẫu hành vi, cách ứng xử phù hợp với giới tính của mình. Một bé trai hay bé gái sẽ trở thành một người đàn ông, một phụ nữ được xã hội mong đợi từ sự giáo

dục cũng như cách ứng xử của cha mẹ mình. Theo T. Parson và Andrieva, giai đoạn thơ ấu là giai đoạn xã hội hoá cá nhân quan trọng nhất và đây cũng phù hợp với quan điểm của các nhà xã hội học giới về giai đoạn định hình bản sắc giới. Sức ép của gia đình rất mạnh đối với việc đứa trẻ trong việc nhận diện giới tính của mình từ việc lựa chọn đồ chơi, quần áo hay những cử chỉ hành vi. Lớn hơn nữa, giai đoạn dậy thì (13- 18 t), cá nhân lại đòi hỏi sự giáo dục giới tính thường xuyên và đúng đắn từ phía gia đình và nhà trường để định hướng sự phát triển. Tuy nhiên, giáo dục giới tính trường học ở nước ta vẫn đang bị “thả nổi”. Do vậy, gia đình vẫn là nơi có thể cung cấp những hiểu biết giới tính cho trẻ.

Đặc điểm của nền văn hoá Việt Nam vốn kín đáo, tế nhị khiến cách giáo dục cũng như nội dung giáo dục giới tính trong gia đình gặp nhiều khó khăn.

Có 4 ” phạm trù hành xử” trong cách giáo dục [35]. Đó là:

Thái độ trấn áp: cha mẹ luôn ” cảnh giác” con em mình rằng giới tính là xấu xa, tội lỗi.

Thái độ tránh né: được cha mẹ lựa chọn nhiều hơn cho dù trong thâm tâm họ không nghĩ” chuyện đó” quá xấu xa nhưng không biết nói thế nào cho phù hợp nên tránh né. Thêm vào đó là quan niệm ” Trăng đến rằm thì trăng tròn”, tự trẻ khi lớn lên sẽ hiểu.

Thái độ diễn cảm: ít phổ biến nhất và chỉ trong gia đình mà cha mẹ có trình độ và biết dung hoà yếu tố giới tính vào đời sống hàng ngày. Cha mẹ có thể đề cập thẳng khi cần nhưng cũng đặt ra những giới hạn cụ thể.

Ám ảnh cũng không phải là một cung cách quá hiếm, được coi như một ” phản ứng phụ” của kinh tế thị trường khi cha mẹ dư thừa tiền bạc nhưng có những ý nghĩ sai lầm về văn minh, tiến bộ.

Có thể thấy trong 4″ phạm trù hành xử” trên chỉ có một cách giáo dục hợp lý và hiệu quả nhất nhưng lại ít phổ biến- thái độ diễn cảm. Những cách hành xử còn lại có thể được coi là sai lầm, thậm chí lệch lạc. Sự thả nổi cũng như quá nghiêm khắc với thanh thiếu niên trước những vấn đề giới tính sẽ kính thích sự tò mò, tự tìm hiểu. Từ đó dẫn tới những sai lầm như quan hệ tình dục sớm hoặc đồng tính luyến ái. Thêm nữa, có những gia đình có cách giáo dục quá hà khắc như đánh đập, không coi trọng ý kiến của con cái với mọi vấn đề có thể dẫn đến trạng thái tâm lý không bình thường. Đặc biệt là giai đoạn định hình bản sắc giới cần có sự giáo dục rõ ràng và đúng đắn để trẻ nhận biết giới tính của mình, tránh sự giáo dục lệch lạc sai lầm như quá thiên về một giới tính [11].

Xét tất cả các khía cạnh, có thể hầu hết với một người đồng tính thì nguyên nhân của tình trạng đó đều được tổng hợp từ hoàn cảnh sống (như đã nêu ở trên) và về thần kinh, tâm lý. Bên cạnh đó, cũng có người có hoàn cảnh sống rất hoàn hảo nhưng vẫn là người đồng tính. Khi đó, những người này chỉ đơn thuần do vấn đề gen hoặc thần kinh gây ra. Với những nguyên nhân này, không thể nói đồng tính là bệnh. Từ trước đến nay chưa có ai chứng minh được điều này. Điều mà các nhà khoa học vẫn băn khoăn nhất đối với vấn đề đồng tính, đó là sự kết hợp các nguyên nhân bởi chúng khá phức tạp và chưa có sự rõ ràng, thống nhất.

4.1. Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính trên thế giới

Ở những nền văn hóa, trong những giai đoạn lịch sử cũng như thái độ đối với ham muốn tình dục, hành vi tình dục và các mối quan hệ nói chung ở mỗi quốc gia khác nhau thì có những nhận thức, thái độ đối với người đồng tính là khác nhau. Mỗi nền văn hóa có chuẩn mực riêng về tình dục nên có nhiều nền văn hóa phản đối và có nền văn hóa chấp nhận tình yêu và tình dục đồng tính. Có những thái độ khác nhau đó là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài về người đồng tính của các nền văn hóa khác nhau. Sự thay đổi nhận thức về người đồng tính, quan hệ giữa những người đồng tính gắn liền với sự thay đổi nhận thức về tình dục. Có thể nói rằng, sau cuộc “Cách mạng tình dục” những năm 60, 70 đã tạo ra một “nền văn hóa yêu đương” mới, nhiều quan niệm cũ bị coi là khắt khe, thậm chí đạo đức giả. Những thay đổi trong nhận thức ở Phương Tây cũng đã lan sang nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có các quốc gia Châu Á. Nhà sử học David Allyn cho rằng cách mạng tình dục là giai đoạn “lộ diện”, nghĩa là tất cả những gì liên quan tới thể xác bị coi là nhạy cảm, không nên nhắc tới nay được bàn luận, trao đổi một cách công khai.

Trong số các lĩnh vực có sự thay đổi theo hướng cởi mở hơn như tình dục cởi mở trong và ngoài hôn nhân, các biện pháp tránh thai và thuốc tránh thai…sau cuộc “Cách mạng tình dục” thì không thể không nhắc đến “quan hệ đồng tính”.

Trước hết, sự thay đổi về cách dùng thuật ngữ để chỉ quan hệ đồng tính và người đồng tính. Ở mỗi giai đoạn lịch sử và mỗi nền văn hóa khác nhau có những thuật ngữ sử dụng khác nhau như Nhật Bản là nansoku hay “nam sắc”, Trung Quốc là Luan Feng, Thái Lan là kathoey hay “trai nữ” phương Tây thời Trung đại là sodomy. Nhưng cho đến ngày nay, hầu hết đều sử dụng thuật ngữ “homosexual” và “homosexuality” dịch sang tiếng Việt “người đồng tính” và “quan hệ đồng tính”. Sự ra đời của thuật ngữ này gắn với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ sự ngăn cấm quan hệ đồng tính theo Luật Kê gian của Đức vào những năm cuối của 1860. Và cũng trong cùng thời gian này, một lĩnh vực nghiên cứu mới xuất hiện, đó là tình dục học, bắt đầu nghiên cứu về quan hệ đồng tính. Thời điểm trước 1862, mọi người đều bị ảnh hưởng bởi Cơ đốc giáo do đó cho rằng quan hệ đồng tính là tội lỗi hoặc tội ác phải bị trừng phạt và ngăn cấm triệt để. Nhưng sau đó, xuất hiện những nghiên cứu và mở ra những hướng mới đối với quan niệm của mọi người về người đồng tính và quan hệ đồng tính. Tuy rằng vẫn chưa làm thay đổi hoàn toàn nhận thức của con người cho rằng hành vi tình dục đồng tính là tội lỗi, tội ác đáng bị loại bỏ khỏi xã hội hay đơn giản là “sở thích tình dục”. Xong những nghiên cứu của Karl Heinrich Ulrichs, Karl Heinrich Ulrichs, Magnus Hirschfeld, Sigmund Freud tuy là có nhiều mâu thuẫn loại trừ lẫn nhau nhưng cũng là những nấc thang tri thức đưa chúng ta gần đến với những tri thức đúng đắn về hành vi tình dục đồng tính, người đồng tính, thực chất của vấn đề đó là xu hướng tính dục. Những cuộc thảo luận xung quanh khái niệm “sở thích tình dục, hay đối tượng ham muốn tình dục của một người. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều chuyên gia tình dục học và các chuyên gia ở lĩnh vực khác chọn cụm từ “xu hướng tính dục” thay vì sở thích tình dục. Bởi sở thích tình dục luôn cho thấy sự hấp dẫn tình dục là vấn đề của sự lựa chọn.

Trong một thời gian khá dài, nhiều quốc gia đã đưa đồng tính vào danh sách các bệnh về tâm thần. Quan niệm đồng tính luyến ái là rối loạn tâm lý là một quan niệm phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ XIX và sang đến một phần thế kỷ XX, và có lẽ nó lan truyền cùng với sự phổ biến của y học phương Tây. Đến những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học đã khẳng định đồng tính luyến ái không phải là bệnh. Nhiều nước lần lượt loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, bắt đầu là Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào năm 1973. Đến năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới, là cơ quan của Liên Hợp Quốc cố vấn chuyên môn cho các quốc gia về y tế, đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Động thái này đã một lần nữa khẳng định đồng tính chỉ là một xu hướng tính dục như bao xu hướng khác (lưỡng giới, vô tính,..) góp phần xua đuổi quan niệm nặng nề tại các nước trên thế giới về giới đồng tính. Đến thời điểm hiện tại đã hình thành hai quan điểm quan trọng về nguyên nhân của xu hướng tình dục này, đó là do các mặt tác động về xã hội và do mặt sinh lí, thần kinh của con người. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, việc tổ chức WHO loại bỏ đồng tính khỏi danh sách bệnh dường như chưa được tác dụng như mong đợi tại các quốc gia cụ thể trên thế giới trong những giai đoạn tiếp theo. Trong giai đoạn đó, các tổ chức quốc tế khác vẫn chưa ban hành những tuyên bố nào bảo vệ những người có xu hướng lệch lạc tình dục, các quốc gia phần lớn là không đồng tình với xu hướng đồng tính, thậm chí có một số quốc gia còn cho đó là tội, phải bị xử phạt, thậm chí là đi tù, tử hình,… chẳng hạn như Ba Lan năm 1932, Đan Mạch năm 1933, Thụy Điển năm 1944 và Anh năm 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp. Nhưng tuy nhiên có thể nhận thấy đồng tính không còn là hiện tượng xa lạ dưới nhiều góc độ. Sự kì thị, sự phân biệt của người dân các nước phương Tây đối với cộng đồng giới tính này đã có sự biến chuyển tích cực một cách rõ rệt hơn. Cho dù người đồng tính chắc chắn vẫn phải trải qua các giai đoạn đấu tranh lâu dài hơn nữa nhưng thực tế, nhận thức về họ đã rõ ràng và phổ biến hơn nhiều so với các nước phương Đông. Điều này đã được chứng minh qua thực tế ngày càng có thêm các quốc gia cho phép kết hôn đồng giới và hoàn thiện hệ thống quyền của người đồng tính (nhất là quyền dân sự của các cặp đôi kết hôn đồng tính). Hà Lan là quốc gia đầu tiên thông qua Luật Hôn nhân đồng giới năm 2001, sau đó là các quốc gia Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Na Uy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Iceland, Argentina, Brazin và Hoa Kỳ. Và theo báo cáo của tổ chức phi chính phủ International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and Intersex Association công bố tháng 5/2012 cho đến 2010 có 32 quốc gia chấp nhận đồng tính nữ nhưng không chấp nhận đồng tính nam; có 14 quốc gia và vùng lãnh thổ chưa hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới song các cặp đồng giới được thừa nhận có hầu hết các quyền dân sự như một gia đình. Kết quả này cho ta thấy phần nào sự chuyển biến tiến bộ về quyền của người đồng tính trong pháp luật của các quốc gia trong khoảng hai thập kỷ gần đây. Mặc dù vậy, vấn đề phân biệt đối xử với người đồng tính vẫn còn phổ biến, khi số các quốc gia duy trì các quy định pháp luật trừng phạt hành vi tình dục đồng giới vẫn còn khá cao 78/193 quốc gia.

4.2. Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính ở Việt Nam

4.2.1. Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính ở Việt Nam trước năm 1986

Giai đoạn các triều đại phong kiến Việt Nam chưa bao giờ đưa ra quy định nào liên quan đến đồng tính. Tuy nhiên, những hành vi đồng tính có thể bị trừng phạt với tội danh “vi phạm luân lý”.

Trước năm 1986, Việt Nam chúng ta trải qua những cuộc chiến tranh cam go thoát khỏi xiềng xích phong kiến, tư bản và thực dân để giành độc lập, tự do cho nhân dân. Chiến tranh qua đi, cả nước lại bắt đầu hối hả vào công cuộc dựng xây lại đất nước sau những tàn phá của chiến tranh để lại. Chính sách tập trung bao cấp của Nhà nước là lý do mà Việt Nam chưa thể mở cửa giao lưu với các nước ngoại trừ những người bạn đã giúp đỡ Việt Nam trong các cuộc chiến tranh. Vì vậy, sự tiếp xúc với văn hóa Phương Tây chỉ dừng lại ở sự cai trị áp đặt của những nước tư bản, thực dân thời kỳ chiến tranh. Những bản sắc văn hóa của người Việt vẫn chưa bị du nhập những luồng tư tưởng mới. Cho nên nói đến khái niệm “đồng tính” là quá xa lạ đối với mọi người ở thời kỳ này. Có thể rằng thời kỳ này, mọi người có biết đến những người mà như ngày nay gọi là đồng tính qua những mô tả của những con người cũ dưới chế độ phong kiến hoặc là qua những biểu hiện đơn thuần từ hình
thức bên ngoài, nhưng thực sự không phải là vấn đề mà họ thực sự quan tâm, bởi hoàn cảnh không cho phép.

Cũng bởi từ đó mà có thể nói đây là thời kỳ mà người đồng tính mà đại đa số người dân Việt Nam chưa biết đến, nên không có sự bàn luận công khai, phổ biến trong xã hội. Nhưng bản thân họ thì quá khắc nghiệt. Lý do vì xã hội chưa có những thông tin về những hiện tượng mà họ gặp phải, nên tâm trạng bí bách, tâm hồn cô đơn, lạc lõng. Cũng chính vì vậy mà họ gửi gắm vào những vần thơ, khúc ca để lại cho đến ngày nay. Như tác phẩm “Tình Tuyệt Vọng” của nhạc sĩ Thái Thịnh sáng tác năm 1971, bài thơ “Tình Trai”, “Tặng bạn bây giờ”, “Em đi” với lời đề “Tặng Hoàng Cát” của Xuân Diệu sáng tác trước 1945. Và chúng ta cũng không dám khẳng định rằng là không có sự phân biệt đối xử bởi lẽ là lẽ tự nhiên của con người khi mới gặp những hiện tượng mới lạ khác thường huống chi đây còn liên quan đến một vấn đề mà hầu hết trong xã hội cho là nhạy cảm. Thật vậy, theo hồi ký “Cát bụi chân ai” của Tô Hoài thì Xuân Diệu từng bị kiểm điểm về việc Xuân Diệu sống chung nhiều năm với nhà thơ Huy Cận. Đây có thể coi là những trường hợp riêng lẻ mà bản thân chính các tác giả ngầm ý biểu lộ về những đặc điểm cá nhân của bản thân khi đó. Điều này càng chứng minh rằng đồng tính đã tồn tại trước khi có những luồng tư tưởng mới, và sự hiểu biết chỉ đơn thuần qua những trường hợp cá lẻ.

4.2.2. Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính sau công cuộc đổi mới 1986

Có thể nói rằng trong giai đoạn này có nhiều sự chuyển biến tương đối rõ rệt về nhận thức của mọi người đối với người đống tính và xuất hiện tư tưởng về quyền của người đồng tính.

Cho đến thời điểm hiện nay thì hiện tượng đồng tính đã và đang trở thành chủ đề nóng trên các diễn đàn nghiên cứu khoa học, pháp luật, truyền thông… Chưa bao giờ hoạt động của người đồng tính luyến ái và số lượng các xuất bản phẩm về họ lại gia tăng mạnh như thời gian vừa qua. Đó là bằng chứng về sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề này. Trên báo chí và trên mạng Internet, độc giả không khó để tìm kiếm những phóng sự viết về người đồng tính luyến ái và cuộc sống của họ trong “thế giới thứ ba”. Một vài website riêng của người đồng tính luyến ái được thành lập. Đó là diễn đàn để họ tâm sự, chia sẻ, trao đổi thông tin và cất lên tiếng nói bảo vệ mình. Năm 2005, tại Hà Nội, câu lạc bộ sức khoẻ Hải Đăng – mái nhà chung của người đồng tính luyến ái nam đã ra đời theo một dự án do Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ tài trợ, nhằm thay đổi hành vi tình dục, giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho những người đồng tính nam và bạn tình của họ. Trong lĩnh vực nghệ thuật, đã xuất hiện một vài tác phẩm điện ảnh, kịch nói hoặc văn học dựa trên chủ đề về người đồng tính. Trong số đó có thể kể tới hai cuốn tiểu thuyết của nhà văn Bùi Anh Tấn gây được sự quan tâm của dư luận là “Một thế giới không có đàn bà” và “Les – vòng tay không đàn ông”…Trên phương diện pháp luật Bộ Tư Pháp đang tiến hành lấy ý kiến cho dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn Nhân và gia đình năm 2000 về cho phép kết hôn đồng giới.

Tuy nhiên, những gì mà xã hội biết về người đồng tính đến trước năm 2000 hầu như chỉ giới hạn trong những phóng sự, bài viết hoặc bản tin có tính chất “phát hiện” được đăng tải trên các phương tiện truyền thông. Trong một số trường hợp, mục đích của những sản phẩm này nhằm làm thoả mãn tính hiếu kỳ của độc giả, hơn là hướng họ tới sự hiểu biết nghiêm túc và nhân văn về người đồng tính. Trong khoảng thời gian này, những nghiên cứu khoa học về đồng tính lại chưa có nhiều, đặc biệt những nghiên cứu của nghiên cứu viên là người Việt Nam thực hiện.

Hơn nữa, xét theo truyền thống văn hóa thì không một đất nước nào tồn tại và phát triển được nếu không dựa trên cơ sở của truyền thống văn hóa, và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Thật vậy, truyền thống văn hóa đã góp phần giúp Việt Nam phát triển trở thành một nước rất riêng, độc đáo trong con mắt của bạn bè quốc tế và trong khu vực Đông Nam Á. Trong đó, những quan niệm từ xa xưa về đời sống gia đình cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Do đó, người Việt luôn coi trọng việc xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để duy trì nòi giống. Đặc điểm trên đã chi phối đáng kể đến nhận thức của người dân Việt Nam đối với người đồng tính. Mặt khác trong xu thế hội nhập quốc tế, tiếp thu văn hóa phương Tây, cũng tác động tới nhận thức cởi mở của một bộ phận dân cư về hiện tượng này.
* Việc sử dụng các khái niệm về người đồng tính trong xã hội còn nhiều nhầm lẫn và mang tính chất miệt thị những người đồng tính.

Đầu thế kỷ XX và cho đến ngày nay, mọi người vẫn hay sử dụng từ “pê-đê”

– là từ được Việt hóa từ tiếng Pháp, đa số người Việt sử dụng từ này với ý nghĩa miệt thị và xúc phạm đến những người có quan hệ tình dục đồng giới. Ngoài ra, còn có các từ xăng pha nhớt, bóng lộ, bóng kín, hai thì, hifi đều mang tính chất miệt thị và xúc phạm ít nhiều đến những người đồng tính. “Thế giới thứ ba” là nhóm từ mà hay được người dân và báo chí dùng phổ biến, nhưng không có định nghĩa rõ ràng và thường để chỉ cộng đồng người đồng tính, người chuyển giới tính một cách không phân biệt. Và phần lớn nhận định rằng những người đàn ông nữ tính hoặc phụ nữ nam tính là những người đồng tính

* Quan niệm đồng tính là bệnh hoạn, tệ nạn xã hội, xấu xa, ghê tởm

Xuất phát từ quan niệm trong thế giới này “cặp đôi” có nghĩa là giữa một người nam và một người nữ nên khi xuất hiện sự cặp đôi giữa hai người cùng giới tính họ cho rằng nó đi ngược lại với cách nghĩ thông thường của xã hội, nên gán ghép cho những người đồng tính là “thác loạn”, “biến thái”, “xấu xa” hoặc “bẩn thỉu”, nhiều người từ chối đọc các tài liệu về đồng tính vì cho rằng đó là những tài liệu có nội dung lệch lạc và đồi trụy. Cũng chính vì có thời gian quan niệm như thế mà đã dẫn đến Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội kêu gọi liệt kê đồng tính luyến ái trong các “tệ nạn xã hội” cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy (năm 2002). Nhưng quan niệm phổ biến hơn, mọi người nhất là các bậc phụ huynh có con là người đồng tính nghĩ rằng đó là căn bệnh có thể chữa trị. Mặc dù khoa học hiện đại đã chứng minh đồng tính không phải là bệnh. Thậm chí nhiều bậc phụ huynh khi biết con mình là người đồng tính đã tìm hiểu và đọc các tài liệu khoa học nhưng vẫn khó buông quan niệm này [36].

* Quan niệm đồng tính là hiện tượng đua đòi, ăn chơi của giới trẻ hoặc ngộ nhận Khi thời đại thông tin bùng nổ, những tin tức về tất cả các vấn đề trong đời sống xã hội đều có thể trở thành đề tài trên các mặt báo, trang thông tin điện tử. Nên những đám cưới đồng tính, những cách học theo, bắt chước ở giới trẻ để khác người… là những chủ đề nóng hổi của các báo. Vấn đề ở chỗ không phải báo đưa thông tin sai sự việc mà ở chỗ bài báo mang tính định kiến và chưa phản ánh đúng bản chất sự việc ngay từ tiêu đề bài báo như: Mốt “đồng tính giả” trong giới trẻ, nóng trào lưu kết hôn đồng giới…Khi quan hệ cùng giới thể hiện rõ ràng ở lớp trẻ, thì xã hội nhìn vào dễ nhận định rằng đồng tính là thói ăn chơi, đua đòi và là trào lưu mới của giới trẻ. Nhiều người tự xưng mình là đồng tính khiến những người khác, khi thấy mình có những biểu hiện của người khác giới với mình, hoặc có xúc cảm với người bạn cùng giới lại ngộ nhận rằng mình là người đồng tính.

Những ngộ nhận thông thường nhất đối với đồng tính là cho rằng quan hệ tình cảm của những con người này bị thôi thúc thuần vì những ham muốn tình dục với người cùng giới tính. Quan niệm như thế cũng có nghĩa rằng mục đích những người dị tính ái tìm đến nhau không ngoài vấn đề tình dục. 

Và chính xuất phát từ quan niệm đồng tính là xấu xa, thói đua đòi nên đã xuất hiện khái niệm “đồng tính giả”. Ngày nay, khái niệm đã trở nên phổ biến ở Việt Nam. Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu Colby, Cao và Doussantousse, tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về đồng tính luyến ái. Trước sự xuất hiện của HIV/AIDS tại Việt Nam đầu thập niên 1990, có rất ít thông tin về đồng tính luyến ái. Theo bác sĩ Trần Bồng Sơn, nhà giới tính học nổi tiếng nhất tại Việt Nam, có hai loại người đồng tính: thật và giả. Những người đồng tính thật là những người đồng tính bẩm sinh, và số người này rất hiếm. Theo ông, hầu hết những người đồng tính là giả, bị bạn bè rủ rê để thử nghiệm các lối sống mới nhưng cuối cùng cũng trở về lối sống trước đó. Sau trao đổi ý kiến với ông Sơn, các nhà nghiên cứu Colby, Cao và Doussantousse cho rằng quan điểm đó là ý kiến cá nhân của ông Sơn, chứ không phải từ các nghiên cứu hay tài liệu. Tuy thế, vì bác sĩ Sơn có nhiều ảnh hưởng, quan điểm này đã được lặp lại nhiều lần tại Việt Nam và được xem là đúng.

* Quan niệm đồng tính như là một điều tự nhiên

Vượt qua những rào cản của quan niệm truyền thống về gia đình, vai trò của phụ nữ, giới tính, bao gồm nhiều người ở các độ tuổi khác nhau đã có cái nhìn dần cởi mở, chấp nhận quan hệ đồng tính là bình thường như những mối quan hệ dị tính khác, và như những người có mối quan hệ dị tính khác họ cũng có nhu cầu mong muốn sống thật với cảm xúc của mình, tôn trọng sự thật đang diễn ra đối với con người mình, tôn trọng sự tạo hóa của tự nhiên. Sự thật là, trong giới tự nhiên này hiện tượng đồng tính không chỉ diễn ra ở con người mà ngay các loài động vật trên Trái đất này cũng có hiện tượng này như cá heo, chim cánh cụt, hươu cao cổ, sư tử Châu Phi…Chúng ta hay thường nói “không có gì là hoàn hảo”, thiên nhiên cũng chưa bao giờ là hoàn hảo. Sự thiếu sót của thiên nhiên dường như là một phần không thể tách rời của bản hòa tấu vĩ đại của nó. Mà sự hiểu biết của con người về thiên nhiên, và ngay chính bản thân chúng ta còn rất hạn chế. Vì vậy, sẽ là hết sức chủ quan khi quan niệm đồng tính là trái với quy luật tự nhiên.

Tồn tại những quan niệm trái chiều như trên nên trong xã hội cũng hình thành những thái độ khác nhau đối với người đồng tính mỗi khi có vấn đề mới xảy ra xung quanh người đồng tính.

Ngày 7/4/1997, hãng thông tấn Reuters đưa tin về đám cưới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh giữa 02 người nam[36]. Sự việc này xảy ra đã vấp phải sự phản đối của người dân. Ngày 7/3/1998, hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận. Sau các đám cưới này, Quốc hội thông qua đạo luật cấm hôn nhân đồng tính vào năm 2000. Luật được thông qua và có hiệu lực thi hành lại càng củng cố vững chắc thêm cho những người có quan niệm tiêu cực đối với những người đồng tính. Tình trạng các gia đình có con là người đồng tính bị cấm đoán gay gắt, có những gia đình còn dùng biện pháp mạnh, như nhốt con trong nhà không cho gặp bạn đồng tính. Trong số đó, có người bạn đồng tính bị nhốt hơn 1 tháng, khi bức bối quá cầm kéo cắt tóc cha mẹ mới sợ mà thả ra. Mức độ phản đối của các bậc cha mẹ còn tới mức dọa con nếu không từ bỏ thì sẽ tự tử và có người tự tử thật [6]. Ngăn cấm, cấm đoán không được có nhiều gia đình quay sang thuyết phục con cái, cố gắng hướng con cái theo con đường dị tính, thúc ép lấy vợ lấy chồng. Có thể nói rằng, tâm lý chung của những gia đình có con là người đồng tính, cảm thấy bị tổn thương, kinh ngạc, giận dữ, hoặc hoang mang, lo lắng khi biết con mình đồng tính. Một số người tìm cách thay đổi con mình, trong khi một số người khác thì không quan tâm đến con nữa. Không chấp nhận, rồi chấp nhận, rồi lại không chấp nhận. Đó là bắt nguồn từ suy nghĩ cho rằng biết là không thay đổi được con nhưng vẫn nuôi hi vọng một ngày nào đó con sẽ thay đổi và lấy người khác giới.

Quay trở lại với những nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của mọi người nhất là các bậc cha mẹ có con là người đồng tính, có sự góp phần của bài viết đưa tin trên báo in, báo mạng. Cũng có thể nói rằng ngày nay, phần lớn mọi người khi tò mò về vấn đề mới lạ đều tìm kiếm thông tin trên báo, trên mạng internet. Trong bối cảnh Việt Nam, báo chí gần như chiếm được quyền lực tuyệt đối vì được kiểm soát chặt chẽ với mục đích phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là tất cả những gì báo chí đề cập đến là để phục vụ nhân dân vì thế người ta mặc nhiên cho rằng thông tin từ báo chí là đúng, là đáng tin cậy. Vì vậy, đã có cuộc nghiên cứu có sự cộng tác của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí tuyên truyền về “Thông điệp về đồng tính trên báo in và báo mạng”. Qua nghiên cứu trên 502 bài viết từ năm 2004 đến 2008 ở 04 báo in gồm Thanh niên, Tuổi trẻ, Tiền Phong, Công an nhân dân, và 06 báo mạng gồm http://vnexpress.net; http://vietnamnet; www.dantri.com.vn; http://ngoisao.net; www.cand.com.vn; http://giadinh.net.vn này cho thấy tình trạng phổ biến là các bài báo đánh đồng hành vi tình dục đồng giới với xu hướng tình dục và bản dạng tình dục đồng tính, đơn giản quan niệm rằng có hành vi tình dục đồng giới cũng chính là đồng tính. Những phát ngôn như “…vài năm gần đây, hiện tượng quan hệ đồng tính ở Việt Nam ngày càng phổ biến” có thể gặp ở không ít bài báo. Và cũng không ít tác giả đồng nhất khái niệm chuyển giới với khái niệm đồng tính. Các bài báo sử dụng nhầm lẫn các khái niệm như vậy dẫn đến phổ biến kiến thức sai cho xã hội. Nghiên cứu cũng cho kết quả rằng, bản năng và nhu cầu tình dục là khía cạnh được báo chí quan tâm hơn hẳn so với những khía cạnh khác của người đồng tính. Có nghĩa rằng thông điệp mà báo chí đem đến cho người đọc đó là người đồng tính dường như không có gì khác ngoài tình dục và tình yêu giữa họ là không bền lâu. Trong tổng số 502 bài viết được nghiên cứu có đến 17% các bài viết cho rằng đồng tính là đua đòi, 20% bài viết cho rằng đồng tính là bẩm sinh, còn lại đa phần cho rằng đồng tính là căn bệnh có thể lây nhiễm. Cũng theo một nghiên cứu khác về quan niệm của ngay chính bản thân những người đồng tính cũng tương tự như vậy. Theo nghiên cứu của STD/HIV/AIDS Prevention Center (SHAPC, Trung tâm phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục/virus gây ra suy giảm miễn dịch ở người) đã tiến hành phỏng vấn 813 người là đồng tính nam có tới 36% người dân được hỏi cho biết họ coi tình dục đồng giới là tệ nạn xã hội; 68% cho rằng đó là một căn bệnh; 48% cho rằng đây là một thứ quan hệ bệnh hoạn; 27% cho rằng tình dục đồng giới là đua đòi, hư hỏng; 56% cho rằng tình dục đồng giới là điều trái với tự nhiên [3].

Trong một chuẩn mực nào đó có thể nói rằng truyền thông đại chúng mà chủ yếu là báo viết trong vòng một thập kỷ qua đã tạo nên sự ám ảnh về tình dục đồng giới

Ở Việt Nam hoặc chí ít cũng làm cho nó gia tăng. Trên đây là những bằng chứng cho thấy vai trò định hình quan niệm của công chúng về tình dục đồng giới của truyền thông. Sự hiểu biết không đầy đủ của những người quyền lực đối với nhận thức của công chúng đã tạo nên những diễn ngôn về người đồng tính và tình dục đồng giới như các biểu hiện của sự sa đọa đạo đức và/hoặc tình trạng bệnh hoạn về lối sống.

Ở Việt Nam, khi ai đó hoặc điều gì đó được coi là “bình thường” có nghĩa là người đó, điều đó không có gì khác biệt, tự nhiên và được chấp nhận hoặc đã có tiền lệ trước đó mà không để lại hậu quả đáng tiếc nào. Có thể nhận thấy, ngày nay ngày càng có nhiều người đang dần dần có cái nhìn như vậy. Họ nghĩ rằng nếu đồng tính là bệnh lý thì cần chữa trị và mọi người cần thông cảm chứ không phải là phê phán hay lên án. Truyền thông và các chuyên gia khoa học cũng đang góp phần tạo nên sự thay đổi. Những năm gần đây, các bài viết đăng trên báo điện tử, báo in đã được chăm chút và tham khảo kỹ lưỡng các tài liệu khoa học, thảo luận với các chuyên gia y tế và xã hội trả lời phỏng vấn hoặc tổ chức các cuộc hội thảo ngày càng tăng lên. Bởi vậy, các bài viết có mức độ chính xác hơn về các thông tin khoa học và quan điểm về tính dục đồng tính đó là một trong những xu hướng tính dục. Điều này đang và đã tạo ra một luồng dư luận mới khẳng định quan hệ tình dục đồng tính là tự nhiên đồng thời là quyền cơ bản của con người kể cả người đồng tính và người dị tính. Và đã lôi kéo một số lực lượng học sinh, sinh viên, các nhà xã hội học, y học…tham gia vào quá trình nghiên cứu.

Trong cuộc thăm dò năm 2007 của Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, với câu hỏi “Người đồng tính luyến ái có xấu hay không?”, hơn 80% học sinh trả lời là “không”. Các học sinh này giải thích rằng vì đó là quyền tự do của mỗi người hoặc việc là người đồng tính không phải lỗi do bản thân người đó . Khi phát hiện trong lớp có bạn đồng tính , 72% học sinh khẳng định vẫn giữ mối quan hệ bình thường với bạn, kèm theo động viên (34%) và giữ kín bí mật cho bạn (35%), 2% học cảm thấy khinh bỉ và 13% thấy sợ . Kết quả này cho thấy các học sinh trung học có một cái nhìn đúng đắn và cởi mở đối với những bạn đồng tính, đồng thời có những hành vi cư xử khá tích cực.

Một đề tài nghiên cứu khác về đồng tính tuổi học trò vừa được trao giải nhì tại hộị thi “Hoc̣ sinh phổ thông nghiên cứu khoa học”̣ do Sở Giáo dục̣ – đào taọ TP.HCM tổ chức. Tác giả của đề tài “Nghiên cứu về đồng tinh luyến ai” là nhóm học sinh Cao Trí Thảo , Nguyêñ Hữu Minh Trâm  , Nguyêñ Thi ̣Quỳnh Như (đều học lớp 10A2 Trường trung học̣ Thực̣ hành ĐH Sư phạṃ TPHCM). ” Nghiên cứu về đồng tinh luyến ái” là đề tài nghiên cứu khoa hoc̣ duy nhất về tâm lý hoc̣ trò được loṭ vào vòng chung kết hôị thi “Hoc̣ sinh phổ thông nghiên cứu khoa hoc”̣ do Sở Giáo duc̣ – đào tạo TP.HCM tổ chức . Đề tài được trao giải nhì . Đề tài “Nghiên cứu vềđồng tinh́ luyến ái” của nhóm còn được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ trao chứng nhận dành cho nhóm có nghiên cứu xuất sắc nhất trong lĩnh vực tâm lý học trong số những đề tài tham gia hội thi. Bây giờ“chiến công” về nghiên cứu của nhóm baṇ Trí Thảo – Minh Trâm – Quỳnh Như đang là “chủ đề nóng” của bạn bè cùng lớp [17].

Cùng với đó cộng đồng những người đồng tính cũng đã dần dần tự mình bước ra hòa nhập cùng cộng đồng và nhận thức rõ hơn về mình để mọi người xung quanh hiểu rằng là tôi không có gì đặc biệt cả cũng như những người dị tính khác tôi khác với bạn ngoài hình thức, tính cách thì có thêm một điểm khác nữa là xu hướng tính dục. Ngày nay, cộng đồng người đồng tính đã thành lập một số tổ chức để người đồng tính giao lưu với nhau và với những người dị tính khác, nhằm mục đích thúc đẩy vấn đề bảo vệ quyền con người của cộng đồng người đồng tính.

5. Danh mục tài liệu tham khảo

Tiếng Việt:

  1. Bạo loạn stonewall. Nguồn: vi.wikipedia.org.
  2. Bảo vệ trẻ em đồng tính đường phố: Nhiều bất cập về thực thi chính sách. Nguồn: http://www.baomoi.com.
  3. Bi kịch khó nói của những „bóng kín‟. Nguồn: http://vietnamnet.vn
  4. Bộ luật dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.
  5. Công ước Quốc tếvềcác quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966.
  6. Cộng tác nghiên cứu iSEE và Khoa Xã hội học, Học viện báo chí và tuyên truyền (2010), Nghiên cứu khoa học:Thông điệp về đồng tính trên báo in và báo mạng.
  7. Nguyễn Đăng Dung (2010), Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí, Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
  8. Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2013. Nguồn: http://moj.gov.vn.
  9. Đẫm nước mắt của người mẹ có con là gay. Nguồn: http://vietbao.vn.
  10. Đồng tính luyến ái có được Phật giáo chấp nhận không. Nguồn: http://www.chuaphuclam.vn.
  11. Bùi Bích Hà (2002), Một vài nét nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối với hiện tượng đồng tính luyến ái, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành Xã Hội học, Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội.
  12. Dương Hoán (2010). “Quyền kết hôn của người đồng tính”, Kỷ yếu tọa đàm khoa học: Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4/12.
  13. Bùi Thị Thanh Hòa, Nguyễn Vân Anh, Lê Hồng Giang, Trần Hương Thanh, Cẩm nang dành cho cán bộ tư vấn về Đồng tính nữ, NXB Thời Đại.
  1. Khuất Thu Hồng, Lê Bạch Dương, Nguyễn Ngọc Hương (2009), Tình dục trong xã hội Việt Nam đương đại: Chuyện dễ đùa mà khó nói, NXB Tri thưć, Hà Nội.
  2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1992.
  3. Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, sửa đổi, bổsung năm 2013.
  4. Học trò nghiên cứu về đồng tính luyến ái. Nguồn: http://m.tuoitre.vn
  5. Hội tâm lý học Hoa Kỳ (2008), “Answers to your question: For a better Understanding of Sexual Orientation and Homosexuality”, do Viện nghiên cứu Xã Hội, Kinh Tế và Môi Trường (iSEE) dịch.
  6. Hôn nhân đồng giới tốt cho gia đinh̀ vàxa ̃hô.Nguồnị: duthaoonline.quochoi.vn.
  7. ICS (2012), Báo cáo tình hình LGBTIQ, tại Diễn đàn Nhân dân Asean.
  8. iSEE (2009), Xu hướng tình dục và đồng tính luyến ái, một vài khái niệm và cách nhìn nhận trên thế giới, tại Hội thảo Thể hiện người đồng tính trên báo in và báo mạng.
  9. Jean Jacques Rousseau (1992), Hoàng Thanh Đạm dịch, Khế ước xã hội NXB Thành phố Hồ Chí Minh .
  1.  Kiện bạn học của con vì con bị gọi là gay. Nguồn: http://phapluattp.vn
  2.  Luật “bỏ lọt” mại dâm đồng tính. Nguồn: http://tuyentruyen.dongthap.gov.vn.
  3.  Luật Hôn nhân và gia đình của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 9 tháng 6 năm 2000.
  4.  Nguyễn Quang Mai (2002), Giới tính và đời sống gia đình. NXB ĐH Quốc gia Hà Nội.
  5. Cao Vũ Minh (2010), Quyền con người được sống theo đúng giới tính của mình, Kỷ yếu tọa đàm khoa học: Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4/12.
  6. Nhà hàng bị kiện vì sa thải người đồng tính. Nguồn: http://phapluattp.vn
  7. Nhà Phật có phê phán tình dục đồng tính không. Nguồn: http://chuaphuclam.vn.
  8. Phạm Quỳnh Phương (2013), Cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) Việt Nam, Hà Nội.
  9. Trương Hồng Quang, Đồng tính, Nguồn: http://hongtquang.wordpress.com.
  10. Trương Hồng Quang (2011), “Thực tiễn pháp luật về quyền của người đồng tính ở Việt Nam”, Tạp chí Aau ngày 4/12.
  11. Trương Hồng Quang (2012), “Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 03.
  12.  Trương Hồng Quang, Văn kiện quốc tế: Nền tảng xây dựng quyền của người đồng tính, Nguồn: http://hongtquang.wordpress.com.
  1.  Trần Bồng Sơn (2002), Giới tính học trong bối cảnh Việt nam, NXB Trẻ.
  2.  Nguyễn Quỳnh Trang, Nguyễn Thị Thu Nam, Lê Nguyễn Thu Thủy, Lê Quang Bình, Sống trong một xã hội dị tính, câu chuyện về 40 người nữ yêu nữ.
  3.  Đỗ Gia Thắng, Một số quy định của pháp luật liên quan đến quyền của LGBT trong pháp luật dân sự, thực trạng và một số kiến nghị.
  4.  Người đồng tính bị bạo hành bởi chính người thân. Nguồn: http://www.nam-man.vn.
  5. Tổng quan về Đồng tính tại Việt Nam. Nguồn: http://www.pflag.vn.
  6. Trẻ em đồng tính đòi lại quyền đã mất. Nguồn: http://www.tienphong.vn.
  7. Nguyễn Trọng Tuấn – Học viện Kỹ thuật quân sự, Vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần của Đại hội XI
  8. Bùi Thị Cẩm Tú (2011), (Viện Nghiên cứu Môi trường & Phát triển bền vững, Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Bảo vệ quyền của người đồng tính – Một vấn đề đáng được lưu tâm, Hội thảo “Quyền con người: tiếp cận liên ngành KHXH” do Đoàn Thanh niên Viện KHXH Việt Nam tổ chức ngày 01/08.
  9. Uỷ ban thường trực phòng chống AIDS quốc gia, Tạp chí AIDS và cộng đồng, số 1/12/2000.

Tiếng Anh:

  1. Bob Hay(2007), “A natural history of Homosexuality”, at http://bobhay.org
  2. Dean, Sexuality and ModernWestern Culture, p.22
  3. Dover, K.J., Greek Homosexuality (Harvard University Press, 1989, as summarized in “Homosexuality,” Stanford Encyclopedia of Philosophy, August 2002).
  4. ILGA State sponsored homophobia 2012. Source: http://old.ilga.org
  5. Larry Houston (2012), Inventing the “Homosexual”, at: http://banap.net
  6. LGBT history timeline. Nguồn: http://www.ohio.edu
  7. LGBT rights in the United States. Source: http://en.wikipedia.org
  8. Michael, O‟Flaherty and John, Fisher (2008), Sexual Orientation, gender identity and International Human rights law: Contextualising the Yogyakarta Principles, published by Oxford University Press.
  9. Yogyakarta Principles adopted on 26th March, 2007

Hiện tại Trí thức cộng đồng đang triển các Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc Làm Bài Luận Văn, hãy liên hệ với đội ngũ Trí thức cộng đồng để được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Viết Luận Văn Thuê Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

 

 

 

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Hotline: 0946 88 33 50