Khái niệm hệ thống, phần tử, môi trường và cấu trúc của hệ thống

 Nguyễn Thị Hà    
Khái niệm hệ thống, phần tử, môi trường và cấu trúc của hệ thống
5 (100%) 1 vote

Lý thuyết hệ thống là tập hợp các bộ môn khoa học (sử học, kinh tế học, sinh học, lôgic học, toán học, tin học…) nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề theo quan điểm toàn thể. Lý thuyết hệ thống có đối tượng nghiên cứu là các quy luật về sự ra đời và biến đổi của các hệ thống, nội dung của nó bao gồm hàng loạt các cặp phạm trù và khái niệm như: hệ thống, phần tử, môi trường….

1/ Khái niệm hệ thống

“Khái niệm hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo thành chỉnh thể thống nhất và không ngừng vận động, trong sự thống nhất đó luôn làm nảy sinh tính trội của hệ thống”.

S = E . R . P

Trong đó:

– S: Hệ thống

– E: Các phần tử

– R: Mối quan hệ tương tác giữa các phần tử

– P: Những thuộc tính mới, giá trị mới

Ví dụ : nông hộ, doanh nghiệp, trường học….

Khái niệm hệ thống

Khái niệm hệ thống

2/ Phần tử của hệ thống

Phần tử của hệ thống là thành phần, bộ phận tạo nên hệ thống. Mỗi phần tử có một chức năng nhất định, và có tính độc lập tương đối.

3/ Môi trường của hệ thống

Môi trường của hệ thống là những yếu tố nằm ngoài hệ thống nhưng có tác động quyết định đến sự vận động của hệ thống

Đối với một hệ thống, môi trường là tập hợp tất cả những đối tượng mà sự thay đổi tính chất của chúng có ảnh hưởng đến hệ thống, cũng như những đối tượng mà tính chất của chúng bị thay đổi do hành vi của hệ thống.

Một hệ thống chỉ có thể tồn tại và phát triển lành mạnh khi nó quan hệ chặt chẽ với môi trường, môi trường phải đồng nhất với hệ thống. Tùy theo từng hệ thống mà môi trường của hệ thống có khác nhau.

4/ Đầu vào, đầu ra của hệ thống

Đầu vào của hệ thống là các yếu tố nằm ngoài hệ thống những ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống.

Trong hoạt động nông nghiệp, đầu vào là nguyên vật liệu, máy móc, lao động, thông tin, giá cả, nhu cầu thị trường….

Đầu ra của hệ thống là  tác động trở lại của hệ thống đối với môi trường.

Trong hoạt động nông nghiệp, đầu ra là sản phẩm, phế thải, chất lượng sản phẩm, giá thành….

5/ Phép biến đổi của hệ thống

Phép biến đổi của hệ thống là khả năng biến đổi đầu vào thành đầu ra có giá trị kinh tế cao.

Phép biến đổi của hệ thống thường đặc trưng bằng một hệ số biến đổi (T)

Y = T . X

Trong đó:

– Y: Đầu ra của hệ thống

– X: Đầu vào của hệ thống

– T : Hệ số biến đổi của hệ thống

6/ Cấu trúc của hệ thống (cơ cấu của hệ thống)   (structure)

Cấu trúc của hệ thống là hình thức cấu tạo bên trong của hệ thống, phản ánh sự sắp đặt có trật tự của các phân hệ, các phần tử của hệ thống và các quan hệ giữa chúng theo một dấu hiệu nhất định.

Có rất nhiều cấu trúc hệ thống khác nhau, sự kết hợp các phần tử tuy rất đa dạng nhưng có thể quy về các cách kết hợp phần tử cơ bản sau:

Cấu trúc của hệ thống

Cấu trúc của hệ thống

7/ Phân loại hệ thống

Dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau, người ta có các cách phân loại hệ thống khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại hệ thống chủ yếu.

a/ Phân loại theo sự phụ thuộc vào yếu tố thời gian.

Dựa vào thời gian, người ta chia hệ thống ra làm hai loại là hệ thống động và hệ thống tĩnh.

– Hệ thống tĩnh là hệ thống không có sự thay đổi (hay thay đổi rất nhỏ) theo thời gian.

– Hệ thống động là hệ thống có những trạng thái luôn thay đổi theo thời gian.

b/ Phân loại theo tính chất thay đổi trạng thái của hệ thống.

Bao gồm 2 loại:

– Hệ thống ngẫu nhiên: là hệ thống biến đổi không theo một quy luật nào cả.

– Hệ thống tái định: là hệ thống phát triển theo một quy luật nhất định.

c/ Phân loại hệ thống theo mối quan hệ với môi trường.

– Hệ thống đóng: là hệ thống không tương tác với hoàn cảnh, môi trường, là hệ thống mà ở đó vật chất và năng lượng chỉ trao đổi trong phạm vi hệ thống.

– Hệ thống mở: là hệ thống tác động tích cực với môi trường bên ngoài, là hệ thống có khả năng cho vật chất và năng lượng đi qua ranh giới của hệ thống. Các hoạt động của hệ thống quan hệ với các yếu tố môi trường tác động.

+ Vật chất và năng lượng đi vào gọi là dòng vào (hay gọi là đầu vào)

+ Vật chất và năng lượng đi ra khỏi hệ thống gọi là dòng ra (hay đầu ra)

+ Vật chất và năng lượng trao đổi giữa các thành phần của hệ thống gọi là dòng nội lưu.

* Một số tính chất của hệ thống mở:

– Hệ thống mở có khả năng tiếp nhận và chuyển hóa vật chất và năng lượng tạo ra những sản phẩm đi qua ranh giới của hệ thống tức là đầu ra.

– Hệ thống mở có xu hướng phát triển và tự điều chỉnh để đạt tới trạng thái cân bằng mới nhằm đảm bảo cho các phần tử của hệ thống nằm trong sự tương tác hài hòa, ổn định. Ví dụ: hệ thống sinh thái rừng: cây cỏ – động vật ăn cỏ – động vật ăn thịt.

– Nếu có một tác động nào vào hệ thống hoặc có sự thay đổi một trong các thành phần của hệ thống thì hệ thống sẽ có phản ứng (phản hồi), đó có thể là phản hồi tích cực hoặc tiêu cực.

+ Trong sinh học, phản hồi tiêu cực là phổ biến nó là cơ chế tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng ban đầu. Ví dụ: Khi người dân phát triển mạnh diện tích cây mơ ở tỉnh Bắc Cạn, khi đó sản lượng mơ cung cấp ra thị trường tăng đột biến, cung lớn hơn cầu dẫn tới giảm giá mạnh, khó tiêu thụ. Lúc đó, nhiều người dân lại chặt cây mơ để chuyển sang trồng cây khác có lợi nhuận cao hơn và do đó diện tích cây mơ lại giảm đi.

+ Phản hồi tích cực ít hơn phản hồi tiêu cực. Sự thay đổi một số nhân tố trong hệ thống sẽ dẫn tới sự thay đổi khác thúc đẩy sự thay đổi ban đầu nhanh hơn, hệ thống sẽ đạt một cân bằng mới so với ban đầu.

Ví dụ: Do ô nhiễm môi trường nước, làm cá chết, cá chết làm tăng mức ô nhiễm của nước hơn, kết quả làm lượng cá chết tăng hơn và cá chết hàng loạt. Lúc này hệ thống không trở lại trạng thái ban đầu mà nó sẽ chuyển sang một trạng thái khác.

d/ Phân loại hệ thống theo độ đa dạng.

– Hệ thống phức tạp: là hệ thống có độ đa dạng cao, bền vững, tiến bộ.

– Hệ thống đơn giản: là hệ thống có độ đa dạng thấp, là hệ thống không bền vững, không phát triển.

e/ Phân loại hệ thống theo chế độ phân cấp

– Hệ thống thứ bậc: là hệ thống có cơ cấu phân cấp. Cơ cấu của hệ thứ bậc có nhiều cấp khác nhau – cấp trên và một hay nhiều cấp dưới. Tuỳ theo hệ thống đơn giản hay phức tạp mà mà người ta phân hệ thống ra làm nhiều hay ít cấp. Khi hệ thống càng phát triển, càng có nhiều phần tử thì đòi hỏi độ phân cấp càng lớn.

Có hai dạng phân cấp phổ biến là phân cấp hình quạt và phân cấp hình thoi:

Phân loại hệ thống theo chế độ phân cấp

Phân loại hệ thống theo chế độ phân cấp

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ viet thue luan van thac siviết essay tiếng anh, khóa luận tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp, dịch vụ chạy SPSS,… chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho Tri thức cộng đồng

– Hệ phi thứ bậc: là hệ có cơ cấu không phân cấp. Có những tổ chức không phân cấp, nghĩa là có sự bình đẳng về quyền lực. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống phi thứ bậc là dựa trên tinh thần hợp tác chứ không dựa trên quyền lực.

f/ Phân loại theo khả năng điều khiển.

– Hệ thống có khả năng điều khiển được: là hệ thống mà trạng thái và hành vi của nó có thể được định hướng tới mục tiêu cho trước. Sự định hướng này được thực hiện:

+ Do tác động điều khiển có ý thức của con người: hệ thống bị điều khiển.

+ Do có cơ chế điều khiển tồn tại khách quan bên trong hệ thống: hệ thống tự điều khiển.

– Hệ thống không có khả năng điều khiển được: là hệ thống không thể định hướng trạng thái hoặc hành vi của nó tới mục tiêu cho trước.

Chúc bạn học tập tốt với bài viết “Khái niệm hệ thống, phần tử, môi trường và cấu trúc của hệ thống” này.