Đồng Phạm Là Gì? Đâu Là Những Căn Cứ Để Xác Định Đồng Phạm?


Đồng phạm là khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về định nghĩa đồng phạm cũng như căn cứ để xác định đồng phạm. Điều này dẫn đến những sai lầm không đáng có trong quá trình nghiên cứu.

Trong bài viết dưới đây, Tri Thức Cộng Đồng sẽ cùng bạn đi tìm hiểu đồng phạm là gì và các hình thức đồng phạm khác nhau được quy định trong luật hình sự nhé. 

1. Đồng phạm là gì?

Đồng phạm là gì
Đồng phạm là gì

Đồng phạm dùng để chỉ những người có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm cùng cố ý tham gia vào một hành động phạm tội. Đồng phạm là trường hợp tội phạm đặc biệt, khác với loại tội phạm riêng lẻ. 

Khái niệm đồng phạm được sử dụng trong luật hình sự lần đầu tiên vào năm 1985, khi Bộ luật hình sự bắt đầu có hiệu lực. Trước đó, khái niệm cộng phạm được sử dụng thay cho đồng phạm.

Trong luật hình sự, chế định đồng phạm quy định các dấu hiệu của trường hợp phạm tội được thực hiện bằng hình thức đồng phạm, quy định dấu hiệu của những người đồng phạm cũng như quy định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm.

2. Các hình thức đồng phạm 

Các hình thức đồng phạm
Các hình thức đồng phạm

Theo định nghĩa kể trên, đồng phạm đòi hỏi sự tham gia của nhiều đối tượng, trong đó, các đối tượng cùng cố ý thực hiện một hành vi phạm tội, bao gồm hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội phạm và hành vi giúp sức thực hiện tội phạm. 

Theo đó, các loại hành vi này cũng tương ứng hình thành bốn loại người đồng phạm:

  • Người tổ chức: 

Là đồng phạm đóng vai trò quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Vai trò của người này bao gồm vai trò móc nối các cá nhân đồng phạm còn lại, lên kế hoạch phạm tội và điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm.

  • Người xúi giục: 

Khác với người tổ chức, người xúi giục là đồng phạm có những hành động cố ý tác động đến nhận thức và hành vi của người khác, trực tiếp hoặc gián tiếp sai khiến người đó thực hiện hành vi phạm tội theo ý muốn của chính mình. 

  • Người giúp sức: 

Đúng như tên gọi, người giúp sức là đồng phạm có vai trò tham gia vào việc tạo lập những điều kiện vật chất, tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội.

  • Người thực hành: 

Là đồng phạm trực tiếp tham gia vào hành vi phạm tội với một cá nhân khác. 

Tóm lại, đồng phạm có thể tự mình thực hiện hành vi phạm tội hoặc chỉ có hành động có chủ ý tác động đến người khác để người đó thực hiện hành vi phạm tội. 

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người bị tác động đã thực hiện hành vi phạm tội sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người đã tác động họ. Lý do có thể là người đó chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự như trẻ em, trẻ vị thành niên, người bị bệnh tâm thần… 

3. Căn cứ để xác định đồng phạm 

Căn cứ để xác định đồng phạm
Căn cứ để xác định đồng phạm

Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một hành vi phạm tội. Muốn xác định đồng phạm, cơ quan chức năng sẽ dựa vào những căn cứ khách quan và chủ quan xoay quanh vụ án. 

3.1. Căn cứ khách quan 

Căn cứ khách quan bao gồm ba yếu tố quyết định, đó là số lượng người tham gia trong vụ án, tính liên kết về hành vi cùng phạm tội, hậu quả do vụ án đồng phạm gây ra.

  • Căn cứ vào số lượng đồng phạm: 

Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định rõ, đồng phạm được xác định khi có hai người trở lên tham gia phạm tội vào vụ án. Đồng thời, những người này phải đủ độ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. 

  • Căn cứ vào tính liên kết hành vi: 

Đồng phạm được xác định khi những người này cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, hành vi của người này có mối liên kết chặt chẽ với người kia. 

Mối liên kết này có thể là liên kết song hành hoặc cũng có thể là liên kết theo dạng hành vi phạm tội của người này tác động đến hành vi phạm tội của người kia. Dù mối liên kết đó có là gì thì những hành vi đó phải đều phải dẫn đến một hậu quả chung của hành động. 

  • Căn cứ vào hậu quả: 

Như đã đề cập trước đó, hậu quả gây ra trong vụ án đồng phạm phải là hậu quả chung. Mặc dù hành vi của mỗi người là khác nhau, có người tham gia trực tiếp, có người tham gia gián tiếp, những tất cả đều hướng về một mục đích phạm tội cụ thể. 

3.2. Căn cứ chủ quan

Căn cứ chủ quan được quyết định theo phương diện đồng phạm đều thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Điều này có nghĩa là tất cả đồng phạm đều làm chủ hành vi của mình, thấy rõ được hậu quả mà hành vi của mình gây ra là nguy hiểm cho người khác và cho xã hội. 

Đồng thời, họ cũng đều ý thức được rằng dù hành động của mình là gián tiếp hay trực tiếp phạm tội thì cũng đều dẫn tới những hậu quả khôn lường. Nhìn chung, vụ án có yếu tố đồng phạm khác với vụ án thông thường ở những điểm sau: 

  • Đối tượng gây án từ hai người trở lên
  • Vụ án đồng phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cao hơn
  • Vụ án đồng phạm là do cố ý, có ý đồ gây án rõ ràng từ trước, không phải do vô tình
  • Hành vi của các đồng phạm có sự liên kết chặt chẽ giữa những người tham gia vụ án với nhau
  • Hậu quả mà đồng phạm gây ra là hậu quả chung, được cấu thành do tác động của từng hành vi đồng phạm mang lại

Trên đây là toàn bộ những nội dung liên quan đến vấn đề đồng phạm bao gồm đồng phạm là gì, các hình thức đồng phạm cũng như căn cứ để xác định đồng phạm. Hy vọng qua bài viết này, bạn đã có thể thu nạp được những kiến thức bổ ích và quan trọng cho mình.

Nếu như bạn vẫn còn những băn khoăn, thắc mắc cần giải đáp, khó khăn cần được giúp đỡ hãy liên hệ ngay với Tri Thức Cộng Đồng thông qua SĐT: 0946 88 33 50 hoặc Email: ttcd.group@gmail.com để được hỗ trợ nhanh nhất và sớm nhất.

Nguồn: Tri Thức Cộng Đồng

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
Hotline: 0946 88 33 50
Chat Zalo
Zalo: 0946.883.350
Chat với chúng tôi qua Zalo