4 Mô hình giải quyết vấn đề bình đẳng về thu nhập trong quá trình phát triển

 Nguyễn Thị Thanh    
4 Mô hình giải quyết vấn đề bình đẳng về thu nhập trong quá trình phát triển
4 (80%) 1 vote

Tri Thức Cộng Đồng đang cung cấp Viết báo cáo bằng tiếng anh ,Dịch vụ viết thuê courcework, Viết luận văn thuê ở tphcm,… chuyên nghiệp nhất thị trường xin chia sẻ 4 Mô hình giải quyết vấn đề bình đẳng về thu nhập trong quá trình phát triển.

1/ Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets

Simon Kuznets, nhà kinh tế học Mỹ năm 1955 đã đưa ra một mô hình nghiên cứu mang tính thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.

Kuznets đã dùng tỷ số giữa tỷ trọng thu nhập của nhóm 20% giàu nhất trong tổng dân số so với tỷ trọng thu nhập của nhóm 60% nghèo nhất làm thước đo sự bất bình đẳng ( gọi là tỷ số Kuznets).

Kuznets đã đưa ra giả thiết rằng: vấn đề bất bình đẳng về thu nhập sẽ tăng ở giai đoạn ban đầu và giảm ở giai đoạn sau khi lợi ích của sự phát triển được lan tỏa rộng rãi hơn. Nếu biểu diễn mối quan hệ trên đồ thị sẽ có dạng chữ U ngược. Vì vậy, còn được gọi là giả thiết chữ U ngược.

Mô hình chữ U ngược trong 4 mô hình giải quyết vấn đề bình đẳng về thu nhập

Mô hình chữ U ngược trong 4 mô hình giải quyết vấn đề bình đẳng về thu nhập                      

Hạn chế trong mô hình của Kuznets là không giải thích được hai vấn đề quan trọng:

– Thứ nhất, những nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự thay đổi bất bình đẳng trong quá trình phát triển?

– Thứ hai, phạm vi khác biệt giữa các nước về xu thế thay đổi này trong điều kiện họ sử dụng các chính sách khác nhau tác động đến tăng trưởng và bất bình đẳng? Từ hai vấn đề này dẫn đến điều mà các nước đang phát triển băn khoăn vẫn không được giải đáp cụ thể.

Đó là, có phải các nước có thu nhập thấp tất yếu phải chấp nhận gia tăng về bất bình đẳng trong quá trình tăng trưởng kinh tế hay không và sau đó họ có thể mong chờ sự bất bình đẳng được giảm bớt khi họ đạt đến mức độ cao của sự phát triển hay không?

2/ Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.Lewis

Dưới dạng tổng quát, mô hình cũng nhất trí với Kuznets về nhận xét cho rằng sự bất bình đẳng về thu nhập sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó giảm bớt khi đã đạt được tới mức độ phát triển nhất định.

Nhưng tiến thêm một bước, mô hình đã giải thích được nguyên nhân của của xu thế này. Trước hết, sự bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu bởi vì cùng với việc mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp, số lượng lao động được thu hút vào làm việc ở khu vực này ngày càng tăng nhưng tiền công của công nhân nói chung vẫn ở mức tối thiểu.

Như vậy trong khi mức tiền công của công nhân không thay đổi thì thu nhập của các nhà tư bản vừa tăng lên do quy mô mở rộng, vừa tăng lên do lao động của công nhân đưa lại. Ở giai đoạn sau, sự bất bình đẳng giảm bớt do khi lao động dư thừa được thu hút hết vào khu vực thành thị (sản xuất công nghiệp và dịch vụ) thì lao động trở thành yếu tố khan hiếm trong sản xuất.

Nhu cầu lao động ngày càng tăng lên đòi hỏi phải tăng tiền lương như vậy sẽ dẫn đến giảm bớt sự bất bình đẳng.

Trong mô hình này thì vấn đề bất bình đẳng về thu nhập không chỉ là kết quả của tăng trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết của tăng trưởng. Sự bất bình đẳng ở đây cũng có nghĩa là các nhà tư bản và nhóm người có thu nhập cao sẽ nhận được nhiều hơn. Và họ là những người sử dụng phần tiết kiệm của mình tạo ra nguồn tích lũy mở rộng sản xuất.

Theo quan điểm của Lewis, bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng tích lũy, tăng đầu tư, do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giả sử, khi thu nhập tăng, tỷ lệ tiết kiệm tăng, bất bình đẳng tăng sẽ dẫn đến tiết kiệm tăng.

Ngược lại, bất bình đẳng giảm sẽ kìm hãm tiết kiệm. Hoặc khi thu nhập tăng, tỷ lệ tiết kiệm biên giảm dần, khi đó, nếu bất bình đẳng giảm sẽ làm tăng tiết kiệm trong nền kinh tế. Như vậy rõ ràng là với các nước đang phát triển, trong trường hợp này việc giảm bất bình đẳng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tiết kiệm và đầu tư. Hay nói cách khác, có thể kết hợp giữa công bằng với tăng trưởng kinh tế.

Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.Lewis

Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.Lewis

3/ Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng của H.Oshima

Ý tưởng cơ bản của sự tăng trưởng đi đôi với bình đẳng dựa vào cách đặt vấn đề: có thể hạn chế sự bất bình đẳng ngay từ giai đoạn đầu của tăng trưởng được không?  Một trong những hướng giải quyết vấn đề này là dựa vào mô hình của nhà kinh tế Nhật Bản H.Oshima.

Trong mô hình hai khu vực, Oshima đã xuất phát từ đặc điểm sản xuất nông nghiệp Châu Á, đó là sản xuất lúa nước có tính thời vụ cao và cho rằng quá trình tăng trưởng cần được bắt đầu từ khu vực nông nghiệp. Chính quá trình này sẽ dẫn đến hạn chế sự bất bình đẳng trong quá trình tăng trưởng.

Theo Oshima, trước hết khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị sẽ được cải thiện ngay từ giai đoạn đầu, do việc tập trung phát triển khu vực nông thôn dựa trên chính sách cải cách ruộng đất, dựa trên sự trợ giúp của Nhà nước về giống, kĩ thuật, đồng thời việc mở rộng và phát triển ngành nghề đã làm cho thu nhập ở khu vực nông thôn (vốn là khu vực có thu nhập thấp nhất trong xã hội) được tăng dần.

Tiếp đó là quá trình cải thiện dần khoảng cách thu nhập giữa xí nghiệp có quy mô lớn và xí nghiệp quy mô nhỏ ở thành thị, cũng như giữa nông trại lớn và nông trại nhỏ ở nông thôn. Quá trình này có thể chia làm hai giai đoạn.

Trong giai đoạn đầu, bất bình đẳng về thu nhập tăng lên do các cơ sở sản xuất lớn tận dụng được lợi thế về quy mô và có điều kiện áp dụng kỹ thuật mới. Sau đó, do lợi ích của cơ sở hạ tầng và khả năng áp dụng kĩ thuật mới tăng lên ở các cơ sở nhỏ, làm cho khoảng cách về thu nhập giảm dần.

Vậy điều này có tác động như thế nào đến tăng trưởng? Theo Oshima, tiết kiệm sẽ tăng lên ở các nhóm dân cư, kể cả các nhóm có thu nhập thấp nhất, vì thu nhập ở họ dần dần thỏa mãn được các khoản chi và khi đó họ bắt đầu tiết kiệm để trả nợ các khoản vay đầu tư trước đó và tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất và đầu tư giáo dục đào tạo cho con em họ.

4/ Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế (của ngân hàng thế giới WB)

Phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế là cách thức phân phối lại các thành quả của tăng trưởng kinh tế sao cho cùng với thời gian, phân phối thu nhập dần dần được cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đi trong khi quá trình tăng trưởng vẫn tiếp tục.

Điều này tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự lựa chọn các giải pháp chính sách phân phối lại tài sản (của cải) và chính sách phân phối lại từ tăng trưởng.

Cần phải có những chính sách phân phối lại tài sản là vì: theo phân tích của WB, nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất công trong phân phối thu nhập của các cá nhân ở hầu hết các nước đang phát triển là do sự bất công trong vấn đề sở hữu tài sản.

Lý do chính vì sao gần 20% dân số nhận được hơn 50% thu nhập là vì 20% này có thể đã sở hữu và kiểm soát trên 70% các nguồn lực sản xuất, đặc biệt là vốn vật chất, đất đai, thậm chí cả vốn nguồn lực (dưới hình thức học vấn cao). Chính sách đã được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển để phân phối lại tài sản là chính sách cải cách ruộng đất, chính sách nhằm tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người.

Tuy nhiên trong thực tế, các chính sách nói trên như chính sách cải cách ruộng đất chỉ thực sự là công cụ có tác động đối với phân phối lại thu nhập khi có sự kết hợp với các chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn, chính sách tiêu thụ nông sản, chính sách công nghệ. Vì vậy vấn đề bất bình đẳng về thu nhập vẫn tồn tại.

Mỗi mô hình lại có ưu và nhược điểm khác nhau, vì vậy khi xem xét cần phải đánh giá dưới một cách kỹ lưỡng.